CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và là sự thay đổi của khí hậu tự nhiên được đo đạc trong những thời kỳ quan sát (UNFCCC, 1992). Việc thay đổi này đã làm tăng các khí như CO2, N2O, CH4 gây hiệu ứng nhà kính, làm gia tăng nhiệt độ trái đất từ đó làm BĐKH toàn cầu (IPCC, 2007). Sự thay đổi này làm ảnh hưởng đến đời sống của người dân, đặc biệt ở những khu vực tiếp giáp với biển. Theo bảng đánh giá tính dễ bị tổn thương của 132 quốc gia trên thế giới thì nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 27 về tính dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH lên ngành thủy sản (Allison et al.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có địa hình bằng phẳng và thấp với 80% diện tích của vùng có độ cao dưới 2,5 m so với mực nước biển, vùng bờ biển trải dài với 720 km (Nguyễn Đức Ngữ, 2009). Do đặc thù địa hình và điều kiện tự nhiên nên ĐBSCL là một trong những khu vực trên thế giới chịu tác động mạnh của BĐKH. Những hiện tượng biến đổi khí hậu như sự gia tăng nhiệt độ, hạn hán, nước biển dâng, sự thay đổi của mùa mưa và lượng mưa đã tác động đến các hoạt động nuôi trồng thủy sản, khi nhiệt độ gia tăng làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của loài, khi lượng mưa thay đổi làm thay đổi dòng chảy và gia tăng độ mặn, khi nước biển dâng cao gây nên xâm nhập mặn (XNM) và lũ lụt. Những khu vực tiếp giáp với biển thường có nguy cơ rủi ro cao do XNM.
Theo Đặng Kiều Nhân và ctv. (2010) một trong những mối đe dọa lớn đến sản lượng nuôi trồng thủy sản (NTTS) ở vùng ĐBSCL đó là hiện tượng XNM, nhóm người dễ bị ảnh hưởng là nông dân, người nuôi trồng thủy sản ở nông thôn và khu vực ven biển. Theo Boeuf and Payan (2000) sự phân bố và giới hạn sống của hầu hết các loài thủy sản được chi phối bởi độ mặn. Độ mặn ảnh hưởng lên các quá trình thích nghi, vận động, trao đổi chất và tăng trưởng của các loài thủy sinh vật thông qua việc tác động trực tiếp đến quá trình hô hấp và điều hòa áp suất thẩm thấu (ASTT).
Độ mặn ngày càng đi sâu vào đất liền đã tác động đến tình hình sản xuất của các khu vực nội địa cụ thể là ảnh hưởng đến nông nghiệp như sản xuất lúa, tác động đến sự phân bố, mùa vụ nuôi của các mô hình nuôi thủy sản nước ngọt đặc thù như nhóm cá nuôi có giá trị kinh tế cao (cá tra, cá lóc, cá rô đồng, cá trê, cá sặc rằn, cá thát lát còm,…) từ đó làm chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong vùng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. 1 Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về kịch bản, tác động của BĐKH lên các nguồn tài nguyên, sinh kế của người dân đã và đang được thực hiện để phục vụ cho công tác đề ra chiến lược thích ứng với BĐKH và XNM. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu tổng hợp về những ảnh hưởng cũng như nhận thức, ứng phó của người nuôi thủy sản đối với hiện tượng XNM và BĐKH, thời tiết. Đề tài “Nghiên cứu tác động của xâm nhập mặn và khả năng thích ứng trong nuôi trồng Thủy sản ở Đồng Bằng Sông Cửu Long” được thực hiện là cần thiết.
Kết quả của đề tài góp phần vào việc đề ra các giải pháp ứng phó, giúp người dân thích ứng với XNM và BĐKH như lựa chọn mô hình nuôi, loài nuôi, mùa vụ thả nuôi nhằm giảm thiểu rủi ro trong quá trình sản xuất.2 Mục tiêu của nghiên cứu Mục tiêu tổng quát Đánh giá tác động và khả năng thích ứng với hiện tượng XNM trong nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL dưới tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Mục tiêu cụ thể a. Phân tích và đánh giá tổng quát hiện trạng nuôi trồng thủy sản trong vùng có nguy cơ ảnh hưởng do xâm nhập mặn; b. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về tác động của xâm nhập mặn và xu thế thích ứng trong canh tác của nông hộ; c.
Xác định khả năng thích nghi độ mặn của một số đối tượng nuôi bản địa có giá trị kinh tế ở ĐBSCL; d. Dự đoán vùng thích nghi và đề xuất vùng nuôi các đối tượng thủy sản bản địa theo hiện trạng xâm nhập mặn.3 Nội dung của nghiên cứu a. Khảo sát hiện trạng nuôi thủy sản trong vùng có khả năng chịu tác động của xâm nhập mặn ở ĐBSCL. Khảo sát nhận thức của cộng đồng về BĐKH, tác động và biện pháp thích ứng BĐKH và xâm nhập mặn lên các hệ thống nuôi thủy sản trong vùng có khả năng chịu tác động của xâm nhập mặn ở ĐBSCL.
Nghiên cứu khả năng thích nghi với độ mặn của cá sặc rằn và cá thát lát còm. Quan trắc độ mặn nước hiện trường, lập bản đồ dự đoán vùng nuôi thích nghi với độ mặn cho một số đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế hiện nay ở một số vùng ven biển.4 Ý nghĩa của luận án Kết quả của luận án giúp bổ sung cơ sở dữ liệu và những kết luận khoa học về khả năng thích nghi, tăng trưởng của 2 loài cá nước ngọt có giá trị kinh tế cao (cá sặc rằn và cá thát lát còm); giúp hiểu biết rõ hơn về nhận thức và các giải pháp ứng phó của người dân đối với tác động của BĐKH và XNM lên nuôi thủy sản trong điều kiện hiện tại và tương lai; giúp dự đoán được khả năng nuôi một số loài thủy sản ở một số vùng có khả năng nhiễm lợ. Luận án cung cấp nhiều thông tin, phương pháp nghiên cứu và kết quả mới, tin cậy phục vụ tốt cho công tác giảng dạy, nghiên cứu, đồng thời làm cơ sở cho việc qui hoạch và phát triển nghề nuôi thủy sản dưới những tác động của BĐKH và XNM ở vùng ĐBSCL.5 Điểm mới của luận án i/. Luận án xác định được cá sặc rằn có thể sống và phát triển đến độ mặn 9 ‰ và cá thát lát còm là loài hẹp muối, chỉ có thể sống và phát triển tốt ở độ mặn từ 0 – 3 ‰.
Người nuôi thủy sản đã nhận thức và có những giải pháp thích ứng với sự thay đổi của các yếu tố thời tiết như mùa mưa, lượng mưa, nhiệt độ, mực nước triều và sự gia tăng của độ mặn ở hiện tại và thời gian tới iii/. Luận án đánh giá được khả năng phát triển nuôi tôm sú, cá sặc rằn và cá thát lát còm ở một số vùng quan trắc trong điều kiện nhiễm lợ hiện tại, cũng như dự đoán được vùng nuôi cho một số loài quan trọng theo hiện trạng XNM. Kết quả nghiên cứu giúp đề xuất một số giải pháp như tuyên truyền tập huấn nâng cao nhận thức về BĐKH và xâm nhập mặn. Áp dụng công nghệ thông tin giúp quan trắc hiện trường, dự báo những biến đổi về độ mặn.
Phát triển các giải pháp công nghệ tạo giống thích nghi tốt với độ mặn, phát triển đa dạng giống các loài thủy sản nước lợ và giải pháp kỹ thuật chăm sóc, quản lý phù hợp cho từng vùng. Tâp huấn, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng mô hình nuôi các loài thủy sản tiềm năng cho chuyển đổi đối tượng và cơ cấu sản xuất. Luận án có các phương pháp nghiên cứu đa dạng, mới và phù hợp; đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin trong quan trắc môi trường là mới, hiện đại và có ý nghĩa do có sự tham gia, tương tác của cộng đồng; giúp thu thập thông tin môi trường được đồng bộ, qui mô rộng, cập nhật liên tục và nhanh chóng, và giảm thiểu chi phí. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi trạng thái khí hậu và có thể được xác định thông qua những biến đổi giá trị trung bình và/hoặc thay đổi các thuộc tính của khí hậu trong khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỉ hoặc lâu hơn.
Nó bao gồm bất kì thay đổi khí hậu theo thời gian kể cả biến đổi do tự nhiên hoặc do hoạt động của con người (IPCC, 2007). Xâm nhập mặn là hiện tượng nước biển xâm nhập vào vùng nước ngọt của lòng sông hoặc các tầng nước ngọt dưới đất (Lê Anh Tuấn, 2008). Nước biển dâng: là sự dâng lên của mực nước đại dương trên toàn cầu, trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão. Nước biển dâng tại một vị trí nào đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt độ của đại dương và các yếu tố khác (Bộ TNMT, 2009).
Kịch bản BĐKH: là giả định có cơ sở khoa học và độ tin cậy về sự tiến triển trong tương lai của các mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội, GDP, phát thải khí nhà kính, BĐKH và mực nước biển dâng. Kịch bản BĐKH đưa ra được mối quan hệ ràng buộc giữa phát triển và hành động khác với dự báo thời tiết và dự báo khí hậu (Bộ TNMT, 2008). Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH (Bộ TNMT, 2008). Thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn tương do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và vận dụng các cơ hội do nó mang lại (Bộ TNMT, 2008).2 Diễn biến của biến đổi khí hậu (BĐKH) 2.1 Thế nào là biến đổi khí hậu? Theo Công ước khung về BĐKH của Liên Hiệp Quốc (United Nations Framework Convention on Climate Change, viết tắt là UNFCCC, 1992) BĐKH là sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hoặc gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và là sự thay đổi của khí hậu tự nhiên được đo đạc trong những thời kỳ quan sát.
4 Theo FAO (2008), BĐKH là sự thay đổi đáng kể của các kiểu thời tiết trong khoảng thời gian dài từ vài thập niên đến hàng triệu năm. BĐKH có thể do quá trình thay đổi tự nhiên bên trong hoặc những thay đổi cưỡng bức bên ngoài hay do sự thay đổi liên tục của con người lên khí quyển hoặc lên việc sử dụng đất.2 Nguyên nhân gây biến đổi khí hậu Theo Lê Văn Khoa và ctv.