Đặt vấn đề Trong những năm gần đây cùng với sự thay đổi và phát triển của kinh tế - xã hội, quan hệ giữa con người với con người, trong đó quan hệ hôn nhân và gia đình cũng có những thay đổi theo hướng tiến bộ. Nhà nước ngày càng quan tâm tới hôn nhân và gia đình với việc xây dựng và ban hành các chính sách, chưng trình và thực hiện các chính sách đó như: Chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai trên phạm vi toàn quốc, hệ thống cán bộ dân số ngày càng được củng cố và nâng cao về trình độ. Cùng với những tiến bộ về hôn nhân thì kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển và đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện. Các hủ tục lạc hậu cũng dần được loại bỏ dần.
Tuy nhiên trên thực tế cho thấy vấn đề hôn nhân ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc thiểu số còn đó những nối lo về tình trạng tảo hôn. Nói tới huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang người ta thường nghĩ tới những bản sắc văn hóa truyền thông với những lễ hội đặc sắc như: lễ hội nhảy lửa của dân tộc Pà Thẻn, lễ cắp sắc của dân tộc Dao hay lễ hội mừng cơm mới của đồng bào dân tộc La Chí, mà không hề hay biết rằng đằng sau đó là những hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại, kinh tế chậm phát triển. Điển hình là xã Yên Thành, là mộ xã vùng III, có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của huyện Quang Bình, cách trung tâm huyện 4km về phía Tây với phần lớn diện tích đất tự nhiên là đồi núi hiểm trở, người dân nơi đây chủ yếu sản xuất thuần nông, độc canh cây lúa, cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn. Xã Yên Thành với 95% là dân tộc thiểu số sinh sống trong đó dân tộc La Chí chiếm 20%.
Hiện nay, tình trạng kết hôn trái pháp luật diễn ra rất phổ biến ở cộng đồng dân tộc La Chí với việc học sinh cấp 1, cấp 2 đua nhau bỏ học để ở nhà n 2 phụ giúp bố mẹ rồi dẫn tới kết cục là kết hôn sớm sinh con ở tuổi 15 - 16 thậm chí trẻ em mới 2 tuổi bố mẹ đã có đính ước trước với nhà trai. Khi độ tuổi này là tuổi ăn tuổi chơi bỗng nhiên những đứa trẻ này trở thành bố mẹ với những kiến thức về sinh sản, khả năng tự lập về kinh tế không có, thể chất chưa phát triển hoàn thiện. Từ đó dẫn tới sinh con nhiều, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh lớn, các bệnh hiểm nghèo như : thiếu máu, thiếu máu huyết tán… làm cho kinh tế hộ gia đình đã khó khăn nay còn khó khăn hơn. Khi con cái họ lớn lên không được học hành lại tiếp tục kết hôn sớm và tạo nên vòng luẩn quẩn không có cách nào thoát ra.
[17] Vậy đâu là lý do dẫn đến hiện tượng kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc La Chí. Do thiếu hiểu biết về pháp luật, do thiếu hiểu biết về sức khỏe sinh sản và giới tính, hủ tục lạc hậu này không thể thay đổi, chính sách của nhà nước chưa tới người dân, thiếu sự kiên quyết của chính quyền, kết hôn sớm ở cộng đồng dân tộc La Chí ảnh hưởng như thế nào tới phát triển kinh tế của hộ và sự phát triển chung của toàn xã hội và làm thế nào, đâu là giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, từng bước tiến tới xóa bỏ tình trạng tảo hôn ở cộng đồng dân tộc La Chí, từ đó đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn xã. Xuất phát từ thực tế trên và được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình của ThS. Vũ Thị Hiền và các cơ quan đoàn thể tại xã Yên Thành.
Tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động của tảo hôn tới phát triển kinh tế hộ gia đình của cộng đồng dân tộc La Chí tại xã Yên Thành, huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang”. Mục đích nghiên cứu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu những tác động của tảo hôn đến phát triển kinh tế hộ gia đình của đồng bào dân tộc La Chí, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tảo hôn đồng thời góp phần phát triển kinh tế hộ của đồng bào dân tộc La Chí trên địa bàn. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Yên Thành. - Đánh giá được những tác động của tảo hôn đến phát triển kinh tế hộ gia đình đối với cộng đồng dân tộc La Chí trên địa bàn xã Yên Thành.
- Đề xuất ra một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức, hạn chế tình trạng tảo hôn ở dân tộc La Chí và giải pháp giúp phát triển kinh tế hộ gia đình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố kiến thức, rèn luyện các kỹ năng, phương pháp làm việc và nghiên cứu khoa học. - Có cái nhìn tổng thể về thực trạng tảo hôn của đồng bao dân tộc La Chí tại xã Yên Thành.
- Đề tài cũng được coi là một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên khóa tiếp theo. Ý nghĩa đối với thực tiễn Kết quả của đề tài làm cơ sở cho các cơ quan quản lý, chính quyền địa phương tham khảo và đề ra các giải pháp nâng cao nhận thức cho người dân và hạn chế tình trạng tảo hôn. Bên cạnh đó đưa ra một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình cho đồng bào dân tộc La Chí. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Khái niệm về hôn nhân Hôn nhân là hiện tượng xã hội là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà. Trong đó có các vấn đề như tảo hôn, hôn nhân cận huyết, hôn nhân đồng tính. Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đó phát sinh hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng. Hôn nhân là một hiện tượng xã hội mang tính giai cấp, ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó. Hôn nhân theo luật hôn nhân và gia đình Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng và tự nguyện theo quy định của pháp luật nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững.
Khoản 6 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 giải thích: “ Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn” (Nguyễn Văn Cừ, 2007) [6]. Đặc điểm của hôn nhân - Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà. - Hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện. - Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hòa thuận và bền vững.
Như vậy, hôn nhân là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở tình yêu thương, quý trọng lẫn nhau. Sự liên kết đó không n 5 phụ thuộc vào tính toán vật chất. Hôn nhân không phải là hợp đồng mà là một sự liên kết đặc biệt giữa người đàn ông và người đàn bà bởi mục đích xây dựng mối quan hệ vợ chồng bền vững đảm bảo thỏa mãn nhu cầu tinh thần, vật chất đôi bên, sinh đẻ và giáo dục con cái (Nguyễn Văn Cừ, 2007) [6]. Hình thái của hôn nhân - Hôn nhân hợp pháp: Là hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ.
Hiến pháp Việt Nam quy định : “ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng” Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình thì tuổi kết hôn của nam là hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên. Việc kết hôn phù hợp với các quy định của pháp luật, trước khi hai bên kết hôn thì phải có hồ sơ đăng ký kết hôn gửi cơ quan chức năng để tiến hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên đã khai nếu những đều hai bên nam nữ là đúng sự thật và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan tiến hành đăng ký kêt hôn theo đúng nghi thức do pháp luật quy định. Thông qua đăng ký kết hôn nhà nước công nhận hôn nhân của đôi nam nữ. Đó là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ.
Người kết hôn có đầy đủ năng lực hành vi dân sự kết hôn, không mắc các bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác. Người kết hôn không cùng dòng máu trực hệ, người có họ hàng ba đời. Người chưa kết hôn hoặc những người đã kết hôn nhưng vợ hoặc chồng đã ly hôn thì được kết hôn. - Hôn nhân không hợp pháp: Là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng không có đăng ký kết hôn hoặc có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định: Nam, nữ chưa đủ tuổi kết hôn hay kết hôn cùng huyết thống (trong phạm vi ba đời), thiếu sự tự nguyện của một trong hai bên, người đang có vợ, có chồng, người mất năng lực hành vi dân sự, hoặc n 6 cùng giới với nhau.
Những trường hợp này trái với quy định của pháp luật, nếu hôn nhân thuộc một trong các trường hợp trên đều là hôn nhân không hợp pháp và tòa án xử hủy hôn nhân đó theo quy định của pháp luật. Điều 16 Luật Hôn Nhân và gia đình quy định “Theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 15 của luật này, tòa án xem xét và quyết định việc hủy kết hôn trái pháp luật”.