Chương 1: Cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động. đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Chương này trình bày các lý thuyết liên quan đến các thành phần của vốn lưu động, khả năng sinh lời, quản trị vốn lưu động của công ty và mỗi quan hệ giữa chúng; các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mỗi quan hệ này. + Chương 2: Thiết kế nghiên cứu.
Chương này sẽ trình bày quy trình nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu, mô. hình nghiên cứu, mô tả và cách đo lường các biển và giả thuyết nghiên cứu. + Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên. Chương này sẽ tình bày và phân tích các số liệu thống kê mô tả của nghiên cứu; cuối cùng là đưa ra các hàm ý và đề xuất từ nghiên cứu.
= Phan Kết luận và kiến nghị: Phần này sẽ tóm tắt các nghiên cứu chính. của đề tài và những đóng góp quan trọng từ nghiên cứu; chỉ ra các giới hạn. trong nghiên cứu và đưa ra các kiến nghị. Tổng quan tài liệu nghiên cứu.
“Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu tài liệu thực tiễn liên quan đến. để tài ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các. doanh nghiệp, hiện nay có rất nhiều đề tài di sâu vào lĩnh vực này, cụ thể như: ~_ Deloof (2003) với đề tài “Quản lý vốn lưu động có ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty Bi khong?”. Trong nghiên cứu này, tác giả đã phát hiện thấy mối quan hệ giữa quản lý vốn lưu động và lợi nhuận của.
công ty dựa trên kết quả điều tra từ 1.009 công ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992-1996. Các chỉ số được sử dụng đại điện cho “quản lý vốn lưu động" là: Kỳ chuyển đổi các khoản phải trả (DPO), Kỳ chuyển đổi hàng tồn kho (DIO), Kỳ chuyển đổi các khoản phải thu (DSO) và Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC). Kết quả cho thấy các nhà quản lý có thể tăng lợi nhuận của công ty bằng cách giảm số ngày phải thu và hàng tổn kho. Các công ty có lợi nhuận thấp sẽ mất nhiều thời gian để thanh toán các khoản.
~ Một nghiên cứu khác với đề tài “Ảnh hưởng của các thành phần quản. lý vốn lưu động đối với lợi nhuận doanh nghiệp: Một cuộc khảo sát các doanh nghiệp niêm yết ở Kenya” được thực hiện bởi Mathuva (2010). Những phát hiện chính của nghiên cứu này là: (1) Các công ty có khả năng sinh lời cao sẽ thu tiền từ khách hàng nhanh hơn; (2) Các công ty duy trì mức tồn kho đủ cao. sẽ làm giảm chỉ phí mua hàng của công ty; (3) Công ty sẽ có lợi nếu kéo đài thời gian dé thanh toán cho người bán.
- Tương tự như vậy, Shama & kumar (2011) đã thực hiện nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của việc quản lý vốn lưu động đối với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp: Bằng chứng thực nghiệm từ Ấn Độ”. Nghiên cứu này là để kiểm tra ảnh hưởng của vốn lưu động đối với khả năng sinh lời của các công. Tác giả thu thập dữ liệu về 263 công ty phi tài chính niêm yết trên. sàn Chứng khoán Bombay (BSE) từ năm 2000 đến năm 2008.
Kết quả cho. thấy quản lý vốn lưu động và khả năng sinh lời có mối tương quan tích cực trong các công ty Án Độ. Nghiên cứu cho thấy rằng số ngày phải trả có tương. quan không tốt với lợi nhuận của công ty, trong khi đó số ngày phải thu và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt lại có mối quan hệ tốt với khả năng sinh lợi của.
- Bên cạnh đó, Makori và Ambrose (2013) cũng đã im hiểu về mối quan hệ này dựa trên dữ liệu từ các công ty sản xuất và xây dựng được niêm. yết kê trên Sở Giao dịch Chứng khoán Nairobi (NSE). Nghiên cứu tìm thấy. một mối quan hệ tiêu cực giữa lợi nhuận và số ngày phải thu và chu kỳ.
chuyển đổi tiền mặt, nhưng mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận và số ngày. phải thanh toán. Hơn nữa, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, tỷ lệ hiện thời và quy mô công ty cũng có những ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận doanh nghiệp. Tại Việt Nam cũng có các công trình khoa học nghiên cứ, các bài viết đăng tải trên nhiều tạp chí khác nhau như: ~ "Mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và lợi nhuận của các công ty.
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Huỳnh Phương Đông (2010) đã nghiên cứu mỗi quan hệ giữa chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời trên mẫu 130 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2006-2008. Các tác giả đã tìm ra mỗi quan hệ khá mạnh giữa chủ kỳ chuyển đổi tiền mặt và khả năng sinh lời. ~ “Tác động của quản trị vốn lưu động đến tỷ suất sinh lợi của các công. ty thủy sản trên TTCK Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Hân (2012) dựa trên mẫu 24 công ty thủy sản trên sàn giao dịch chứng khoán.
Nam trong gi đoạn 2008-2010. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra mỗi tương quan đồng biến giữa kỳ thu tiền khách hàng, kỳ chuyển đổi hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với tỷ suất sinh lời, đòn bẩy i chính có tương quan âm với khả năng sinh lời của doanh nghiệp. ~ "Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời: bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam” của Từ Kim Thoa & Nguyễn Thị Uyên Uyên ( 2014) đã phân tích dữ liệu bảng gồm 208 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. HCM và sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
Kết quả cho thấy việc quản trị vấn lưu động hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền và kỳ lưu kho sẽ tăng khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp. Nhóm tác giả còn nghiên cứu mối quan hệ này ở một số ngành. khác nhau nên mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời giữa các ngành cũng khác nhau = “Quan tri vốn lưu động và khả năng sinh lời: Nghiên cứu điển hình các. công ty cỗ phần ngành công nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên sở giao.
dich chứng khoán TP. Hồ Chí Minh” của Chu Thi Thu Thủy (2014) đã kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động với khả năng sinh lời của 97 công. ty cổ phần công nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ có mỗi tương quan giữa quản trị vốn lưu động và năng sinh lời.
Hơn nữa, nghiên cửu chỉ ra mối tương quan mạnh giữa tỷ lệ đầu tư vào tài sản tài chính, quy mô công ty, đồn bẩy tài chính và khả năng sinh lời “Qua quá trình nghiên cứu về ảnh hưởng của quản trị vẫn lưu động đến khả năng sinh lời trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy kết quả thực nghiệm về mối quan hệ của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời còn chưa được thống nhất. Kết quả của nhiều công trình cho thấy các biến độc lập có. thể tác động thuận chiều hoặc ngược chiều đến khả năng sinh lời của doanh. nghiệp, hoặc có biển lại không thể hiện ảnh hưởng của nó.
Bên cạnh đó, cũng. eó nhiều quan điểm khác nhau về chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Mặc dù trên thế giới và các nước trong khu vực đã có nhiều nghiên cứu nhưng. tại Việt Nam chưa có để tài nào nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu.
động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành sản xuất nông. Do đó, việc nghiên cứu về vấn đề này trong lĩnh vực nông nghiệp là hết sức in thiết. Từ đó đề xuất một số hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả quản lưu động để góp phần nâng cao khả năng sinh lời của các doanh. nghiệp sản xuất nông nghiệp trên th trường chứng khoán Việt Nam CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ THUYET VE ANH HUONG CUA QUAN TR] VON LUU DONG DEN KHA NANG SINH LOL CUA DOANH NGHIỆP.
VON LƯU ĐỌNG TRONG DOANH NGHIỆP.Khái niệm vốn lưu động trong doanh nghiệp Vốn lưu động là u hiện bằng n của tài sản ngắn hạn. Trong quá trình sản xuất, vốn lưu động của doanh nghiệp liên tục vận động qua các giai đoạn khác nhau của chu kỳ sản xuất kinh doanh, mỗi giai đoạn hình thức biểu. hiện của vốn lưu động sẽ thay đổi đầu tiên là vốn tiền tệ, vốn dự trữ sản xuất, vốn sản xuất, vốn trong thanh toán và quay trở lại vốn tiền tệ. Quá trình đó.
diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại gọi là quá trình tuần hoàn, luân. chuyển vốn lưu động. Vốn lưu động kết thúc vòng tuẫn hoàn khi kết thúc chủ kỳ sản xuất, vốn lưu động của doanh nghiệp quay vòng nhanh có nghĩa quan trọng bởi nó thể hiện với một đồng vốn ít hơn doanh nghiệp có thể tạo ra một kết quả như cũ hay cùng với đồng vốn như vậy, nếu quay vòng nhanh sẽ tạo. ra kết quả nhiều hơn, vốn lưu động tuần hoàn, luân chuyển nhanh hay chậm.
gọi là tốc độ luân chuyển vốn lưu động. Đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh, được tiến hành thường xuyên. liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản ngắn hạn nhất định. Số vốn doanh nghiệp phải ứng ra dé đầu tư vào các tài sản đó được gọi là vốn lưu động ( vốn luân chuyển) của doanh nghiệp.Phân loại vốn lưu dong Để phân loại vốn lưu động ta có thể dựa vào một số chỉ tiêu sau:.
Dựa vào sự vận động của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh: 'Vốn lưu động được chia làm 3 phần: 10 ~ Vốn lưu động trong khâu dự trữ: Đối với các doanh nghiệp dịch vụ vốn lưu động trong khâu dự trữ bao gồm: Vốn dự trữ vật liệu, nhiên liệu, phụ tùng. thay thế nhằm đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. ~ Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Trong doanh nghiệp thương mại và doanh nghiệp dịch vụ không mang tính chất sản xuất thì không có vốn lưu. động vận động ở khâu này.
ối với các doanh nghiệp dịch vụ mang tính chất sản xuất vốn lưu động này bao. + sản phẩm dở dang đang cÍ ao: Là giá trị sảnphẩm dỡ dang dùng trong quá trình sản xuất, xây dựng hoặc đang nằm trên các địa điểm làm. việc đợi chế biển tiếp, chỉ phí trồng trọt dở dang.