MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong mỗi bữa ăn hàng ngày, rau tươi có vai trò đặc biệt quan trọng, là món ăn không thể thiếu trong mỗi bữa cơm gia đình người Việt Nam. Trong số các loại rau, măng tây xanh là loại rau cao cấp, có thân thảo dạng khóm, lá kim, chứa hàm lượng dinh dưỡng cao, măng tây có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái khác nhau và được người tiêu dùng ở các nước ưa chuộng, ngoài tác dụng giúp cơ thể tránh được các bệnh về tim, đột quỵ, ổn định huyết áp và ngăn ngừa một số bệnh ung thư, hạn chế hiệu quả các bệnh liên quan đến đường ruột đặc biệt là viêm ruột thừa, bảo vệ mắt khỏi bị 2 loại bệnh thoái hóa rất phổ biến, đó là đục nhân mắt và chấm đen trong mắt thì rau xanh còn là thực phẩm ăn kiêng ưa thích bởi vì bản thân nó không chứa nhiều calo và rất dễ chế biến [3]. Để có cơ sở vững chắc cho sự phát triển măng tây ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên thì việc đánh giá các tiềm năng về khí hậu, điều kiện tự nhiên, đất đai, phân bón là hết sức cần thiết giúp cho tỉnh Thái Nguyên nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng xây dựng chiến lược phát triển măng tây trong tương lai.
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại phân bón cho đối tượng cây cây rau. Thói quen sử dụng phân hóa học tràn lan không chỉ gây ảnh hưởng không nhỏ đến nông sản mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe, môi trường sống của con người. Khi phân bón hóa học được bón nhiều, liên tục đất sẽ bị hóa chua. Việc sử dụng phân vi sinh sẽ làm đất tơi xốp, hạn chế mầm bệnh gây hại cho cây, giúp thúc đẩy quá trình cung cấp dinh dưỡng cho cây phát triển bền vững hơn, sản lượng và chất lượng măng tốt hơn, thời gian thu hoạch c 2 măng và tuổi thọ cây Măng cũng có thể kéo dài hơn, giảm bớt đáng kể chi phí sử dụng phân hóa học đem lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất.
Phân vi sinh là những chế phẩm trong đó có chứa các loài vi sinh vật có ích. Có nhiều nhóm vi sinh vật có ích bao gồm vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón. Trong số đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng. Các vi sinh vật này có khả năng tạo chất dinh dưỡng cho cây trồng từ đất, nước, không khí.
góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất cây trồng, rất thích hợp cho cây măng tây xanh [4]. Đứng trước những vấn đề trên, với quan điểm tìm ra được loại phân bón thích hợp nhất cho cây măng tây xanh, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón vi sinh đến sinh trưởng và phát triển của măng tây xanh trồng tại Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Tìm ra công thức bón phân vi sinh thích hợp cho cây măng tây xanh sinh trưởng và phát triển tốt nhất tại Thái Nguyên.
Yêu cầu Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển của cây măng tây xanh ở các loại phân bón vi sinh khác nhau; Xác định ảnh hưởng của các loại phân bón vi sinh đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cây măng tây xanh tại Thái Nguyên; Đánh giá tình hình dịch hại đối với cây măng tây xanh ở các loại phân bón vi sinh khác nhau. Ý nghĩa khoa học của đề tài Góp phần cải thiện quy trình bón phân cho rau nói chung và cho măng tây nói riêng ở Thái Nguyên, giảm dần sử dụng phân bón hóa học để hướng tới một nông nghiệp bền vững. c 3 Đóng góp vào thực tiễn về khả năng sử dụng phân hữu cơ về các chế phẩm, phế phụ phẩm trong chăn nuôi, chế phẩm vi sinh vật và sử lý phế thải, giảm chi phí về phân bón tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng măng tây. Kết quả nghiên cứu là tiền đề có giá trị cho khoa học nghiên cứu và ứng dụng cho người sản xuất.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Việt Nam là nước kinh tế đang phát triển đi cùng với đó là mức độ ô nhiễm ngày càng tăng ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ con người, do vậy nhu cầu sử dụng thực phẩm sạch tốt cho sức khoẻ con người ngày càng nhiều. Trước tình hình đó đòi hỏi người nông dân phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại tốt cho sức khoẻ con người và không gây ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng phân bón hoá học đã làm tăng mức độ ô nhiễm đất, nước mặt, nước ngầm, không những thế lượng tồn dư trong phân bón hoá học khi bón cho cây có thể vượt mức cho phép làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng [7].
Do đó chúng ta nên sử dụng các loại phân bón hữu cơ vi sinh, nó có thể phục hồi độ màu mỡ và tái tạo lại sức sản xuất chất dinh dưỡng của đất, tăng sản lượng cây trồng, tăng chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng lợi nhuận và quan trọng nhất là bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng và sức khỏe người tiêu dùng, giúp làm giảm sự nóng lên toàn cầu. Nguồn gốc và đặc tính sinh thái Cây măng tây (Asparagus officinalis L) có nguồn gốc ở bờ biển phía tây Châu Âu (từ miền bắc Tây Ban Nha tới phía Bắc Ai-len, Anh, và phía tây bắc nước Đức) nên chúng ta quen gọi là măng tây để phân biệt với măng ta (măng tre) và đã được trồng ở Aswan (Ai Cập) khoảng 20.000 năm trước đây [4]. Người ta đã dùng măng tây như một loại rau và thuốc men, do hương vị tinh tế và nhiều dược tính có lợi của nó, được sử dụng trên một vùng của Ai Cập có niên đại 3000 trước Công Nguyên. Ở thời cổ đại, nó được biết đến ở Syria và ở Tây Ban Nha [2].
c 5 Cây măng tây được Alexander phát hiện vào khoảng 300 năm trước Công Nguyên có nguồn gốc từ vùng Trung Đông, và đem về trồng đầu tiên ở Hy Lạp, sau đó được trồng ở Roma [12]. Theo Boswell, Sturtevant và Vavilov thì nguồn gốc của măng tây là Địa Trung Hải và Tiểu Á (M. Đầu tiên măng tây chỉ được biết với tính năng như một loại thảo dược dùng làm thuốc để chữa các bệnh về tim, phù thũng, đau răng. Sau đó cũng chính người Hy Lạp đã sử dụng măng tây như một loại rau cao cấp vào những năm 200 trước Công Nguyên (Mai Thị Phương Anh, 2001) [1].
Ở thời Trung Cổ măng tây không được quan tâm nhiều cho đến thế kỷ 16 cây măng tây là một trong những cây mà vua Louis IV ưa thích thì cây măng tây bắt đầu được trồng tại Pháp với diện tích ngày càng tăng (Leah, 2011) [8]. Ở Việt Nam măng tây du nhập vào những năm 1970, và sau đó được trồng thử nghiệm tại một số vùng như Đông Anh (Hà Nội), Kiến An (Hải Phòng), Đức Trọng (Lâm Đồng),… và trong những năm gần đây được trồng phổ biến ở Củ Chi, Hóc Môn (Tp. Hồ Chí Minh), Bến Lức, Đức Hoà (Long An), Tây Ninh, Long Thành, Long Khánh (Đồng Nai), Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận Bắc (Bình Thuận), Bạc Liêu, Cái Mơn (Bến Tre), Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Phúc, [6]. nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Điều kiện khí hậu thích hợp cho sinh trưởng và phát triển cho thu hoạch quanh năm ở miền Nam là một lợi thế để tạo nguồn ra nguồn sản phẩm cung ứng thị trường trong nước và hướng tới mục tiêu xuất khẩu. Măng tây là cây dạng khóm, thân thảo, lá kim. Cây có hoa đơn tính màu vàng, quả màu đỏ vỏ hạt cứng, thích hợp vùng khí hậu nhiệt đới. Hạt măng tây có thể nảy mầm ở 20oC, dưới 15oC hạt không nảy mầm [3].
Theo số liệu nghiên cứu của Yenet và cộng sự, (1992) nhiệt độ thích hợp cho măng tây nảy mầm là khoảng 25 - 30oC. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng của cây là 18,3 - c 6 29,5oC, ngoài ngưỡng nhiệt độ này sẽ ức chế cây sinh trưởng. Măng tây có thể chịu được lạnh nhưng dưới 10oC cây ngừng phát triển, thích hợp với những vùng có cường độ ánh sáng mạnh, là cây ưa ẩm độ ẩm thường xuyên đạt từ 80 - 85% sẽ kích thích măng tây ra nhiều mềm ngọt, nhưng độ ẩm không khí cao sẽ làm cây mềm yếu dễ nhiễm bệnh (Mai Thị Phương Anh, 2001) [1]. Măng tây thích hợp với các loại đất cát pha hoặc thịt nhẹ, tơi xốp, có khả năng thoát nước tốt, pH thích hợp từ 6,5-7,5 hoặc trung tính (Mai Thị Phương Anh, 2001) [1].
Măng tây được trồng ở cả vùng đồng bằng và vùng núi, thích hợp nhất là ở độ cao 600 - 900m so với mực nước biển. Ngoài ra măng tây còn có khả năng chịu mặn và sương giá, những vùng có độ mặn tương đối cao cây vẫn giữ được năng suất [9]. Phân loại và đặc điểm thực vật 2. Phân loại Ngành: Magnoliophita Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Họ: Asparagaceae Chi: Asparagus Loài: Asparagus officinalis L.
Bộ Măng tây (Asparagales) là một bộ trong lớp thực vật một lá mầm bao gồm một số họ cây không thân gỗ. Trong các hệ thống phân loại cũ, các họ thuộc bộ Asparagales hiện nay đã từng được xếp vào bộ Loa kèn (Liliales), và một số chi trong đó thậm chí còn được xếp vào trong họ Loa kèn (Liliaceae). Một số hệ thống phân loại còn tách một số họ được liệt kê dưới đây thành các bộ khác, bao gồm cả các bộ Phong lan (Orchidales) và bộ Diên vĩ (Iridales), trong khi các hệ thống khác, đặc biệt là hệ thống phân loại của APG lại đưa hai bộ Orchidales và Iridales vào trong bộ Asparagales. Bộ này được đặt tên theo chi Asparagus (măng tây) (Wikipedia, 2012).
c 7 Theo Mai Thị Phương Anh (2001) [1]. một loài măng tây (có thể là Asparagus officinalis altilis nhưng có khả năng nhiều hơn là A.martimus) đã được trồng trong vườn rau của người La Mã. Từ các loài măng tây hoang dại chỉ có A. officinalis là loài trồng trọt cho rau xanh.
Springeri là loài có tính chống chịu cao với nấm Fusarium spp. nhưng không lai được với A. Hầu hết các giống được trồng hiện nay là các giống thuộc loài A.officinalis với một số đặc điểm hình thái học khác nhau và khác nhau kể cả tính thích ứng với từng địa phương [10].