Tổng quan nghiên cứu
Sự chuyển dịch của kinh tế toàn cầu từ cuối thế kỷ 20 đã chứng minh vai trò thống trị của tri thức, khi các quốc gia phát triển thuộc khối OECD ghi nhận nhóm ngành dựa trên tri thức đóng góp trên 40% GDP, cá biệt tại Singapore đạt 57,3% và Mỹ đạt 55,3%. Trong bối cảnh đó, giáo dục đại học trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21 còn bộc lộ nhiều hạn chế về quy mô, chất lượng và phương pháp giảng dạy, chưa đáp ứng kịp tốc độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ bản chất của nền kinh tế tri thức và giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu đổi mới nguồn nhân lực trình độ cao với thực trạng giáo dục đại học tại Việt Nam. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: luận giải các nội dung cơ bản và quy luật phát triển của kinh tế tri thức; phân tích thực trạng cùng những thời cơ, thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển giáo dục đại học đồng bộ và khả thi.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào không gian giáo dục đại học tại Việt Nam trong mối tương quan so sánh với các nền kinh tế phát triển trên thế giới, với dữ liệu và thực tiễn trải dài từ giai đoạn Đổi mới đến năm 2009. Về mặt ý nghĩa, công trình cung cấp cơ sở lý luận triết học và luận cứ khoa học vững chắc nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư giáo dục, hỗ trợ tiến trình hiện đại hóa đào tạo để hướng tới mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ lao động tri thức chiếm 80% lực lượng lao động trong tương lai.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, đặc biệt là quan điểm về vai trò của khoa học kỹ thuật như một lực lượng sản xuất trực tiếp. Bên cạnh đó, luận văn kế thừa khung lý thuyết về kinh tế tri thức của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năm 1996, xác định nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức.
Mô hình nghiên cứu ứng dụng cấu trúc tri thức mở rộng thành 6 chữ W, bao gồm: biết cái gì (know-what), biết vì sao (know-why), biết ai (know-who), biết làm như thế nào (know-how), bổ sung biết ở đâu (know-where) và biết khi nào (know-when). Các khái niệm cốt lõi được vận dụng xuyên suốt gồm:
- Kinh tế tri thức: Hình thái kinh tế lấy tri thức và kỹ năng sáng tạo làm động lực tăng trưởng chính.
- Giáo dục đại học: Cấp học đào tạo chuyên môn và nghiên cứu khoa học trình độ cao, nơi sản xuất và truyền bá tri thức.
- Nguồn nhân lực tri thức: Lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, làm chủ công nghệ và có năng lực đổi mới sáng tạo.
- Lực lượng sản xuất vô hình: Các tài sản trí tuệ, phát minh sáng chế và thông tin chi phối hiệu quả sản xuất xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ hệ thống văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và lần thứ X, các báo cáo thống kê chính thức của OECD, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng hơn 30 công trình học thuật của các nhà khoa học trong và ngoài nước từ năm 1994 đến năm 2009.
Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có mục đích đối với 50 tài liệu chiến lược, văn bản pháp quy giáo dục và 35 công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế tri thức để phân tích thứ cấp. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính bao quát, chuẩn xác và tập trung đúng vào các vấn đề lý luận cốt lõi.
Các phương pháp phân tích chính được triển khai gồm: phân tích và tổng hợp, đối chiếu và so sánh, phương pháp logic kết hợp với lịch sử. Lý do áp dụng hệ thống phương pháp này là nhằm tái hiện khách quan 5 giai đoạn phát triển lịch sử của kinh tế thế giới từ năm 1770 đến nay, đồng thời làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế và cải cách giáo dục. Toàn bộ quá trình nghiên cứu, xử lý dữ liệu và hoàn thiện luận văn được thực hiện tập trung vào năm 2009.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu khẳng định tri thức đã vượt qua các yếu tố sản xuất truyền thống như vốn, tài nguyên và lao động cơ bắp để trở thành lực lượng sản xuất hàng đầu. Trong các nền kinh tế phát triển, ngành công nghiệp dựa vào tri thức đóng góp trên 40% GDP, trong đó Singapore đạt 57,3%, Mỹ đạt 55,3%, Nhật Bản đạt 53% và Canada đạt 51%. Đội ngũ công nhân tri thức tại các quốc gia này chiếm gần 40% tổng lực lượng lao động và được dự báo tăng nhanh lên mức 80% vào năm 2010.
Thứ hai, mức độ đầu tư cho giáo dục và khoa học công nghệ đóng vai trò đòn bẩy trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế. Năm 1995, tỷ lệ đầu tư công cho nghiên cứu khoa học và phát triển giáo dục chiếm 8,8% GDP ở Canada, 8,4% GDP ở Mỹ và 6,8% GDP ở Úc, với tốc độ tăng bình quân đạt trên 2,8% mỗi năm tính từ giữa thập niên 1980. Riêng tại Mỹ, ngành công nghệ thông tin tuy chỉ chiếm 8,3% GDP nhưng đã đóng góp tới gần 33,3% tổng mức tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, giáo dục đại học Việt Nam dù đạt mức tăng nhanh về số lượng cơ sở đào tạo và quy mô tuyển sinh sau Đổi mới nhưng vẫn bộc lộ hạn chế lớn về chất lượng. Nội dung chương trình còn nặng tính lý thuyết hàn lâm, phương pháp giảng dạy chậm đổi mới, năng lực nghiên cứu ứng dụng thấp và chưa có sự liên kết chặt chẽ với thị trường lao động công nghệ cao.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ nhận thức chưa đầy đủ về vị trí của kinh tế tri thức, cùng với cơ chế quản lý giáo dục còn mang nặng tính hành chính bao cấp. Việc thiếu hụt nguồn lực tài chính khiến cơ sở vật chất phòng thí nghiệm, thư viện và hạ tầng công nghệ thông tin tại các trường đại học chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hóa quốc tế.
Kết quả nghiên cứu hoàn toàn tương đồng với các công trình của các chuyên gia giáo dục trong nước, khi đều chỉ ra rằng giáo dục đại học nếu không đổi mới sẽ trở thành điểm nghẽn của quá trình phát triển. Về mặt trình bày dữ liệu, sự dịch chuyển sức mạnh sản xuất toàn cầu có thể được mô tả sinh động qua biểu đồ cơ cấu sản xuất công nghiệp giữa ba trung tâm Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Năm 1948, Mỹ chiếm 54,6%, Tây Âu chiếm 28,8%, Nhật Bản chiếm 1,2%; đến năm 1973, tỷ trọng của Mỹ giảm còn gần 40%, Tây Âu đạt 31% và Nhật Bản vươn lên 9,2%. Việc hệ thống hóa dữ liệu qua các bảng đối sánh 5 giai đoạn cách mạng khoa học kỹ thuật từ năm 1770 đến năm 2009 giúp minh chứng rõ nét quy luật: quốc gia nào chiếm lĩnh tri thức và công nghệ đỉnh cao sẽ nắm giữ vai trò dẫn dắt nền kinh tế toàn cầu.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm phát triển giáo dục đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
- Đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Chủ thể thực hiện là Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các cơ sở giáo dục đại học, triển khai trong giai đoạn 2010-2015. Mục tiêu cụ thể là hoàn thành chuẩn hóa 100% chương trình đào tạo cốt lõi, tăng tỷ lệ thực hành và tư duy sáng tạo lên ít nhất 45% thời lượng học tập.
- Tăng cường nguồn lực đầu tư tài chính và hiện đại hóa hạ tầng nghiên cứu khoa học. Chính phủ và Bộ Tài chính giữ vai trò chủ trì giai đoạn 2010-2020, nâng mức chi ngân sách cho nghiên cứu khoa học tại các trường đại học lên mức 2% GDP, bảo đảm tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư giáo dục đại học đạt tối thiểu 2,8% mỗi năm tương đương mức trung bình của khối OECD.
- Đẩy mạnh mô hình liên kết ba nhà gồm Nhà nước, Nhà trường và Doanh nghiệp. Các trường đại học chủ động phối hợp với các hiệp hội doanh nghiệp từ năm 2010, phấn đấu đạt mục tiêu 50% đề tài nghiên cứu xuất phát từ đơn đặt hàng thực tế và nâng tỷ trọng nguồn thu từ chuyển giao công nghệ lên 35% tổng ngân sách trường.
- Mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học. Các trường đại học phối hợp với các tổ chức kiểm định quốc tế giai đoạn 2010-2018, đặt chỉ tiêu tăng tỷ lệ chương trình liên kết đào tạo đạt chuẩn kiểm định quốc tế lên 30%, đồng thời thực hiện trao đổi học thuật cho 15% đội ngũ giảng viên và nghiên cứu sinh.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
- Các nhà hoạch định chính sách giáo dục và quản lý kinh tế vĩ mô: Sử dụng các số liệu đầu tư 8,4% GDP và kinh nghiệm phát triển nhân lực của các nước tiên tiến để xây dựng quy hoạch mạng lưới trường đại học và điều chỉnh chính sách phân bổ ngân sách giai đoạn 2010-2020.
- Ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục đại học: Vận dụng mô hình khung 6 chữ W để tái cấu trúc chương trình đào tạo, xây dựng chiến lược phát triển đại học nghiên cứu và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị trường học đạt tỷ lệ trên 80%.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Triết học, Kinh tế chính trị, Quản lý giáo dục: Khai thác kho tư liệu học thuật với hơn 30 công trình chuyên khảo để làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về lực lượng sản xuất và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Doanh nghiệp công nghệ và các tổ chức kinh tế: Tham khảo để thiết lập mô hình vườn ươm công nghệ tại các trường đại học, hợp tác thương mại hóa các sáng chế nhằm gia tăng tỷ trọng hàm lượng tri thức chiếm hơn 50% giá trị sản phẩm.
Câu hỏi thường gặp
Kinh tế tri thức được định nghĩa như thế nào theo chuẩn mực quốc tế? Theo định nghĩa của OECD năm 1996, kinh tế tri thức là nền kinh tế dựa trực tiếp vào việc sản xuất, phân phối và sử dụng tri thức. Trong hình thái kinh tế này, các hoạt động sáng tạo công nghệ và ứng dụng thông tin đóng vai trò then chốt, tạo ra hơn 40% GDP tại các quốc gia phát triển.
Mô hình 6 chữ W trong phân loại tri thức gồm những yếu tố nào? Mô hình mở rộng từ 4 yếu tố ban đầu của OECD gồm: Biết cái gì, Biết vì sao, Biết ai, Biết làm như thế nào; bổ sung thêm 2 yếu tố thực tiễn là Biết ở đâu và Biết khi nào. Việc nắm vững đầy đủ 6 thành tố này giúp tối ưu hóa 100% hiệu quả khai thác tri thức trong quản trị và sản xuất.
Vì sao giáo dục đại học lại là đòn bẩy trung tâm của kinh tế tri thức? Giáo dục đại học trực tiếp đào tạo ra đội ngũ lao động có trình độ cao và là trung tâm nghiên cứu phát minh công nghệ. Tại các nước tiên tiến, giáo dục đại học là nơi cung cấp 80% công nhân tri thức và thúc đẩy các ngành công nghệ cao phát triển vượt bậc.
Mức đầu tư cho giáo dục và khoa học của các nước phát triển đạt tỷ lệ bao nhiêu? Theo số liệu năm 1995, tỷ lệ tổng đầu tư của nhà nước cho nghiên cứu khoa học, công nghệ mới và giáo dục đạt 8,8% GDP ở Canada, 8,4% GDP ở Mỹ và 6,8% GDP ở Úc, với tốc độ tăng trưởng vốn đầu tư bình quân đạt trên 2,8% mỗi năm.
Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động trong nền kinh tế tri thức đặt ra con số nào? Các nền kinh tế phát triển đặt mục tiêu nâng tỷ lệ công nhân tri thức trong tổng lực lượng lao động từ mức gần 40% ở cuối thế kỷ 20 lên mức 80% vào năm 2010, nhằm bảo đảm năng lực vận hành nền sản xuất tự động hóa và công nghệ cao.
Kết luận
- Luận văn khẳng định kinh tế tri thức là nấc thang phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại, đưa tri thức trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp quan trọng nhất.
- Giáo dục đại học giữ vị trí quốc sách hàng đầu, đóng vai trò hạt nhân cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao và sáng tạo công nghệ mới cho quốc gia.
- Nghiên cứu chỉ rõ thực trạng giáo dục đại học Việt Nam đòi hỏi phải cải cách căn bản và toàn diện từ mục tiêu, nội dung chương trình đến phương pháp kiểm tra đánh giá.
- Hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về đổi mới chương trình, gia tăng nguồn lực tài chính, liên kết doanh nghiệp và hội nhập quốc tế tạo lập lộ trình đồng bộ cho giáo dục đại học.
- Đóng góp khoa học của luận văn thạc sĩ năm 2009 cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng kinh tế tri thức.
Về lộ trình tiếp theo, các giải pháp cần được cụ thể hóa thành các đề án hành động theo từng giai đoạn 5 năm từ 2010 đến 2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục hãy chủ động khai thác các luận điểm giá trị từ công trình để thúc đẩy đổi mới sáng tạo giáo dục đại học ngay hôm nay.