Tổng quan nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và công nghiệp chế biến tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2001 - 2010, ngành chế biến dừa đóng góp trên 40% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh Bến Tre, giải quyết việc làm cho hàng chục nghìn lao động địa phương. Tuy nhiên, khảo sát thực tế của Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre cho thấy có đến 50% doanh nghiệp chế biến dừa thừa nhận trở ngại lớn nhất kìm hãm tiến trình phát triển chính là tình trạng thiếu hụt thông tin công nghệ và thiếu thông tin thị trường. Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự đứt gãy giữa hệ thống cung cấp thông tin khoa học công nghệ của các cơ quan nhà nước với nhu cầu thực tiễn của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Mục tiêu cụ thể của luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận về đổi mới công nghệ và vai trò của thông tin khoa học công nghệ địa phương; phân tích toàn diện thực trạng hoạt động đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre; nhận diện các điểm nghẽn cản trở; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin khoa học công nghệ theo định hướng nhu cầu thị trường. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại tỉnh Bến Tre với đối tượng khảo sát trọng tâm là các tổ chức thông tin khoa học công nghệ công lập và 50 doanh nghiệp chế biến dừa tiêu biểu, trải dài trong khung thời gian dữ liệu từ năm 2001 đến năm 2010.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học giúp nâng cao tỷ lệ tiếp cận thông tin công nghệ từ mức dưới 20% lên trên 70%, tạo động lực thúc đẩy tốc độ đổi mới công nghệ tại hơn 50 doanh nghiệp nòng cốt, góp phần gia tăng giá trị xuất khẩu ngành dừa thêm 15% đến 25% trong các giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng khung lý thuyết hiện đại về quản trị công nghệ và đổi mới sáng tạo, kết hợp hai mô hình nền tảng:

Mô hình đánh giá thành phần công nghệ của Sharif (1986): Tiếp cận công nghệ như một cấu trúc đồng bộ gồm 4 thành phần cơ bản:

  • Thành phần kỹ thuật, thiết bị vật thể (Technoware).
  • Thành phần con người, kỹ năng và tri thức (Humanware).
  • Thành phần thông tin, tài liệu và dữ liệu mã hóa (Infoware).
  • Thành phần thể chế, khung pháp lý và tổ chức điều hành (Orgaware).

Mô hình đổi mới công nghệ sản phẩm và quy trình (TPP) theo Hướng dẫn Oslo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD (1997): Xác định đổi mới công nghệ là chuỗi hoạt động từ hình thành ý tưởng, thử nghiệm, ứng dụng kỹ thuật đến thương mại hóa ra thị trường.

Bên cạnh đó, luận văn tích hợp mô hình 4 nhóm nhân tố tác động đến đổi mới công nghệ của doanh nghiệp bao gồm: điều kiện khung thể chế vĩ mô, cơ sở hạ tầng khoa học kỹ thuật quốc gia, các nhân tố chuyển giao thông tin trung gian (Technology Gatekeeper), và động lực nội tại của bản thân doanh nghiệp. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000, Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006, định nghĩa đổi mới công nghệ của Trần Ngọc Ca (2000) cùng khái niệm thông tin khoa học công nghệ theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ 10 báo cáo tổng kết giai đoạn 2001 - 2010 của Sở Khoa học và Công nghệ Bến Tre, Niên giám thống kê tỉnh Bến Tre giai đoạn 2005 - 2009, cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bộ phiếu điều tra khảo sát chuẩn hóa.

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 50 doanh nghiệp chế biến dừa đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Bến Tre. Phương pháp chọn mẫu áp dụng là phương pháp chọn mẫu định ngạch kết hợp phân tầng ngẫu nhiên, phân bổ đều theo các nhóm ngành nghề chính: chỉ xơ dừa, cơm dừa sấy khô, than hoạt tính, dầu dừa và kẹo dừa thủ công nghiệp.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích tổng hợp tài liệu, phương pháp so sánh đối chiếu và phân tích định tính chuyên sâu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của 50 doanh nghiệp, chỉ ra mối tương quan thực nghiệm giữa mức độ thiếu hụt thông tin khoa học công nghệ và năng lực cạnh tranh thực tế của các cơ sở sản xuất. Toàn bộ tiến trình khảo sát thực địa được triển khai từ tháng 03/2010 đến tháng 06/2010 và hoàn tất xử lý dữ liệu vào quý 4 năm 2010.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực chứng tại 50 doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre đã chỉ ra 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, tình trạng khan hiếm thông tin công nghệ là rào cản lớn nhất. Có 50% doanh nghiệp được khảo sát khẳng định việc thiếu thông tin thị trường và thông tin kỹ thuật là nguyên nhân chính khiến doanh nghiệp lúng túng, không dám đầu tư máy móc mới.

Thứ hai, trình độ công nghệ của ngành chế biến dừa Bến Tre phân bổ ở mức trung bình và lạc hậu. Đánh giá theo 4 thành phần công nghệ cho thấy điểm số thành phần thiết bị (Technoware) và thành phần nhân lực (Humanware) chỉ đạt mức trung bình từ 2,2 đến 2,6 trên thang điểm 5. Khoảng 75% cơ sở sản xuất vẫn sử dụng công nghệ thủ công hoặc bán tự động nhập khẩu từ các thế hệ trước năm 2000.

Thứ ba, mức độ kết nối với hệ thống thông tin khoa học công nghệ công lập rất thấp. Dưới 20% doanh nghiệp từng tiếp cận và sử dụng dịch vụ của Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ địa phương. Hơn 80% luồng thông tin chuyển giao kỹ thuật được doanh nghiệp tìm kiếm tự phát qua bạn hàng, hội chợ thương mại hoặc từ các nhà cung cấp máy móc tư nhân.

Thứ tư, thủ tục hành chính tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ còn phức tạp. Khoảng 45% doanh nghiệp cho rằng quy trình xin tài trợ nghiên cứu hoặc hỗ trợ đổi mới công nghệ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP quá rườm rà, thời gian xử lý hồ sơ kéo dài từ 6 đến 12 tháng làm mất đi cơ hội kinh doanh.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của thực trạng trên bắt nguồn từ việc các cơ quan thông tin khoa học công nghệ địa phương vận hành nặng về tính hành chính bao cấp, chưa tiếp cận theo định hướng phục vụ khách hàng. Sản phẩm thông tin chủ yếu là các báo cáo tĩnh, thiếu vắng các cơ sở dữ liệu chuyên sâu về sáng chế ngành dừa, tiêu chuẩn đo lường chất lượng xuất khẩu và bản đồ công nghệ thế giới.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Nguyễn Võ Hưng (2005) về sự kém hiệu quả của các chính sách ưu đãi khoa học công nghệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như nhận định của Tạ Bá Hưng (2001, 2003) về sự thiếu hụt mạng lưới thông tin tư liệu khoa học công nghệ tại cấp cơ sở.

Trong nghiên cứu, hệ thống dữ liệu có thể được mô hình hóa trực quan thông qua Bảng tổng hợp phân loại trình độ công nghệ 4 thành phần của 50 doanh nghiệp dừa và Biểu đồ cột biểu diễn tỷ lệ % mức độ nhận biết chính sách hỗ trợ thông tin công nghệ (so sánh giữa nhóm doanh nghiệp quy mô vừa và nhóm cơ sở sản xuất nhỏ). Việc trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cho thấy rõ độ dốc chênh lệch: các doanh nghiệp có quy mô vốn trên 5 tỷ đồng có khả năng tự tiếp cận thông tin công nghệ cao gấp 3,5 lần so với các cơ sở gia đình nhỏ lẻ.

Ý nghĩa thực tiễn của các phát hiện khẳng định rằng thông tin khoa học công nghệ không chỉ đơn thuần là dữ liệu tham khảo, mà chính là nguồn lực sản xuất thứ ba quyết định thành bại của quá trình đổi mới công nghệ tại địa phương.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chuyển đổi mô hình cung cấp thông tin khoa học công nghệ sang cơ chế thị trường và thúc đẩy đổi mới công nghệ tại Bến Tre, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ:

Nâng cấp hạ tầng và hiện đại hóa mạng lưới thông tin khoa học công nghệ: Xây dựng cổng thông tin điện tử chuyên ngành chế biến dừa tích hợp 100% cơ sở dữ liệu về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc tế và danh bạ nhà cung cấp thiết bị tin cậy. Mục tiêu hoàn thành xây dựng nền tảng trước quý 2 năm 2014, do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre chủ trì phối hợp cùng Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.

Đào tạo và chuẩn hóa năng lực nhân sự thông tin công nghệ: Triển khai 12 chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ môi giới thông tin, định giá công nghệ và phân tích dữ liệu sáng chế cho đội ngũ cán bộ tại các trung tâm địa phương. Đặt mục tiêu nâng cao năng suất xử lý dữ liệu và tư vấn kỹ thuật lên 35% trong giai đoạn 2013 - 2015 do Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Bến Tre thực hiện.

Đa dạng hóa và thương mại hóa sản phẩm dịch vụ thông tin (SPDVTT): Tách biệt rõ ràng 2 dòng sản phẩm:

  • Nhóm sản phẩm dịch vụ công ích: Phổ biến miễn phí các quy chuẩn kỹ thuật an toàn vệ sinh thực phẩm, bản tin khuyến nông và chính sách pháp luật.
  • Nhóm sản phẩm dịch vụ thương mại: Cung cấp các báo cáo phân tích thị trường chuyên sâu, dịch vụ tìm kiếm đối tác chuyển giao công nghệ và tư vấn hợp đồng công nghệ theo đơn đặt hàng. Phấn đấu đạt tỷ lệ tự chủ tài chính 30% đến 50% vào năm 2016.

Cải cách thủ tục và mở rộng kênh tài chính hỗ trợ đổi mới công nghệ: Đơn giản hóa quy trình xét duyệt hồ sơ hỗ trợ chuyển giao công nghệ, cắt giảm 50% thời gian thẩm định từ 6 tháng xuống dưới 3 tháng. Đồng thời phát triển hình thức thuê mua tài chính công nghệ theo đề xuất của Đàm Văn Nhuệ và Nguyễn Đình Quang (1998), định kỳ tổ chức 2 kỳ chợ công nghệ và thiết bị (Techmart) chuyên ngành dừa mỗi năm dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ (Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Kinh tế hạ tầng các huyện): Khai thác khung đề xuất giải pháp để hoạch định chiến lược phát triển thông tin cơ sở, hoàn thiện quy chế chi tiêu ngân sách khoa học công nghệ, hướng đến mục tiêu nâng cao tỷ lệ doanh nghiệp đổi mới công nghệ thành công trên 40%.

Chủ doanh nghiệp và giám đốc kỹ thuật ngành chế biến dừa: Ứng dụng mô hình đánh giá 4 thành phần công nghệ để tự chẩn đoán điểm nghẽn thiết bị và nhân sự tại đơn vị, lựa chọn kênh tiếp cận thông tin công nghệ chuẩn xác, giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí đầu tư chuyển giao máy móc.

Các Trung tâm Thông tin, Ứng dụng tiến bộ Khoa học và Công nghệ địa phương: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trực tiếp để tái cấu trúc tổ chức theo tinh thần Nghị định 115/2005/NĐ-CP, xây dựng danh mục sản phẩm dịch vụ thông tin thương mại nhằm nâng mức độ hài lòng của khách hàng doanh nghiệp lên trên 80%.

Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ: Sử dụng hệ thống lý thuyết về đổi mới sáng tạo, phương pháp luận nghiên cứu điển hình (case study) cùng tập dữ liệu thực chứng 50 doanh nghiệp dừa để phục vụ giảng dạy và phát triển các đề tài nghiên cứu mở rộng trong lĩnh vực công nghiệp chế biến.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao thông tin khoa học công nghệ được xem là nguồn lực then chốt cho đổi mới công nghệ?

Thông tin khoa học công nghệ là nguồn lực đặc biệt có đặc tính càng sử dụng càng gia tăng giá trị. Đối với 50 doanh nghiệp chế biến dừa tại Bến Tre, việc nắm bắt chính xác dữ liệu sáng chế và tiêu chuẩn chất lượng giúp rút ngắn 30% thời gian thử nghiệm và giảm thiểu tới 40% nguy cơ thất bại khi đầu tư đổi mới dây chuyền sản xuất.

Rào cản thông tin lớn nhất mà các doanh nghiệp chế biến dừa Bến Tre gặp phải là gì?

Theo số liệu khảo sát, 50% doanh nghiệp gặp bế tắc do thiếu thông tin công nghệ và thị trường. Đồng thời, dưới 20% doanh nghiệp biết đến các dịch vụ thông tin nhà nước do các ấn phẩm khoa học công nghệ địa phương giai đoạn 2001 - 2010 còn mang tính hàn lâm, chưa bám sát yêu cầu thực tiễn sản xuất.

Mô hình Sharif (1986) được ứng dụng thế nào để đánh giá công nghệ ngành dừa?

Mô hình Sharif chia công nghệ thành 4 thành phần: Technoware (thiết bị), Humanware (nhân lực), Infoware (thông tin) và Orgaware (tổ chức). Kết quả đánh giá thực tế trên 50 doanh nghiệp cho thấy điểm số Technoware và Humanware chỉ đạt mức 2,2 đến 2,6/5 điểm, phản ánh dây chuyền chế biến còn lạc hậu và công nhân thiếu thao tác kỹ thuật cao.

Cơ chế tự chủ theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP tác động thế nào đến tổ chức thông tin khoa học công nghệ?

Nghị định 115/2005/NĐ-CP tạo cơ sở pháp lý giúp các trung tâm thông tin chuyển đổi sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Mô hình này buộc các đơn vị phải chủ động chuyển từ cung cấp thông tin thụ động sang phát triển sản phẩm dịch vụ thông tin thương mại có giá trị gia tăng cao, hướng tới mục tiêu tự chủ kinh phí từ 30% đến 50%.

Luận văn đề xuất những giải pháp tài chính và thể chế nào để hỗ trợ doanh nghiệp?

Tác giả kiến nghị cắt giảm 50% thời gian xử lý thủ tục hỗ trợ công nghệ từ 6 tháng xuống còn dưới 3 tháng, đồng thời áp dụng mô hình thuê mua tài chính công nghệ theo gợi ý của Đàm Văn Nhuệ và Nguyễn Đình Quang (1998), hỗ trợ 50 doanh nghiệp dừa tiếp cận vốn ưu đãi để đổi mới thiết bị nhanh chóng.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa thông tin khoa học công nghệ địa phương và năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp.
  • Khảo sát thực chứng 50 doanh nghiệp chế biến dừa tỉnh Bến Tre trong giai đoạn 2001 - 2010 đã định lượng rõ 4 nút thắt lớn về thông tin, thiết bị, nhân lực và thủ tục hành chính.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền với phân khúc sản phẩm dịch vụ thông tin công ích và thương mại theo cơ chế thị trường.
  • Xác lập khung phương pháp luận đánh giá 4 thành phần công nghệ (Technoware, Humanware, Infoware, Orgaware) có khả năng ứng dụng rộng rãi cho nhiều ngành công nghiệp chế biến nông sản tại Việt Nam.
  • Thiết lập lộ trình triển khai chi tiết giai đoạn 2013 - 2016 nhằm nâng tỷ lệ đổi mới công nghệ thành công tại các doanh nghiệp địa phương lên trên 60%.

Công trình đóng góp một góc nhìn khoa học thực tiễn, làm cầu nối quan trọng giữa chính sách quản lý khoa học công nghệ của Nhà nước với hoạt động sản xuất kinh doanh của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp trong hành trình nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thời kỳ hội nhập. Hãy áp dụng ngay các giải pháp phát triển thông tin khoa học công nghệ để bứt phá năng suất và làm chủ công nghệ mới!