Mở đầu Nêu lý do chọn đề tài đồng thời đề ra mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và khảo sát, phạm vi nghiên cứu va cấu trúc đề tài. Tong quan - Tông quan các nghiên cứu liên quan dén đê tải trong va ngoai nước. - _ Tổng quan về dé tài nghiên cứu. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài bao gồm các lý thuyết nền, khái niệm.
Nêu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài cụ thể là: - Phuong pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp. - Phương pháp xử lý số liệu (co sở chọn mẫu, phương thức điều tra lấy số liệu). - Phuong pháp phân tích số liệu. Kết quả và thảo luận Trình bày các kết quả có được từ nghiên cứu gồm: - Phan tích một số chỉ tiêu quan trọng trên BCTC.
- _ Thực trạng minh bạch TTTC các công ty ngành Bat Động Sản tại Việt Nam. - Tac động của các nhân tô trong quan tri tới sự minh bạch TTTC. - Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị. Kết luận và kiến nghị Tổng hợp đánh giá lại nội dung nghiên cứu, nêu ra nhận xét từ kết quả nghiên cứu, những hạn chế gặp phải trong quá trình nghiên cứu và những lưu ý khi sử dụng nghiên cứu.
Từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị đối với các cơ quan có thấm quyền, các công ty kiểm toán, và các công ty đại chúng niêm yết trên Sàn Giao dịch Chứng khoán Việt Nam. CHUONG 2 TONG QUAN 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Đã có nhiều nghiên cứu trên thé giới về đề tài các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin tài chính của các công ty thông qua nhiều phương pháp khác nhau.
Bushman và cộng sự đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các DNNY dựa trên 2 nhóm nhân tố: minh bạch thông tin tài chính (tính kịp thời, độ tin cậy, khả năng tiếp cận thông tin) và minh bạch thông tin quản trị (có thể nắm bắt cường độ các công bồ thông tin về quản trị được các nhà đầu tư bên ngoài sử dụng). Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tố luật pháp và kinh tế đến tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp thông qua mẫu khảo sát các DNNY từ 41 đến 46 quốc gia. Trong đó, Bushman và cộng sự xem xét tính minh bạch của BCTC thông qua 5 nhóm nhân tố là: mức độ công bố thông tin tài chính và quản trị, thời gian công bồ thông tin, các nguyên tắc kế toán, chất lượng kiểm toán các BCTC. Bushman và cộng sự cho rằng cơ chế pháp luật và minh bạch trong quản trị công ty có mối quan hệ chặc chẽ với nhau.
Trong khi đó sự minh bạch về thông tin tài chính gắn bó chặc chẽ với chính sách kinh tế. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các công ty có quy mô lớn có sự minh bạch TTTC cao hơn so với các công ty có quy mô nhỏ hơn. Archambault va Marie (2003) E. Archambault với nghiên cứu mô hình các nhân tô ảnh hưởng đến tính minh bach thông tin của công ty.
Mô hình thực nghiệm này sử dụng số lượng mẫu là 1000 công ty công nghiệp hàng đầu ở 41 quốc gia khác nhau. Nghiên cứu sử dụng điểm công bố thông tin theo xu hướng kế toán và kiểm toán quốc tế. Nhóm tác gai đã đưa ra mô hình hồi quy về sự tương quan giữa mức độ công bố thông tin nói chung và thị trường tài chính nói riêng. Kết quả chỉ ra các nhân tố đến mức độ công bố TTTC của doanh nghiệp là: quyền sở hữu, tình trạng niêm yết, chính sách cô tức, kiểm toán và đòn bảy tài chính.
Ngoài ra, Jeffrey và Marie cho rằng quá 2) trình hoạt động của doanh nghiệp ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính của các DNNY. Năm 2005 nhóm tác gia Cheung và cộng sự nghiên cứu “Determinants of Corporate Disclosure and Transparency: Evidence from Hong Kông and Thailand” đã xem xét mức độ công bố thông tin và tính minh bach của các DNNY ở 2 thị trường Hồng Kông va Thái Lan. Nghiên cứu đưa ra 2 nhóm nhân tô ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin và tính minh bạch thông tin là: nhóm nhân tố tài chính và nhóm nhân tố quan trị công ty. Tác giả thực hiện khảo sát với 256 công ty niêm yết trên TTCK Thái Lan va 148 công ty niêm yết trên TTCK Hong Kông.
Kết quả cho thay tính minh bạch TTTC của các công ty ở Thái Lan có mức độ cao hơn so với Hồng Kông. Ở Hồng Kông nhóm nhân tố tài chính có ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin, nhưng ở Thái Lan thì không. Trong khi đó, nhóm nhân tổ quan trị công ty có ảnh hưởng đối với các doanh nghiệp ở Thái Lan và Hồng Kông không bị ảnh hưởng. Đối với cơ cau hội đồng quản trị càng lớn thì tính minh bạch càng lớn đối với các doanh nghiệp ở cả 2 nước.
Chen và cộng sự (2007) nghiên cứu các nhân tổ quyết định đến chất lượng thông tin kế toán khi áp dụng IFRS bao gồm: hệ thống pháp luật và chính trị, chuẩn mực kế toán và việc trình bày báo cáo tài chính. Kết quả nghiên cứu của mô hình cho thấy, hệ thống pháp luật và chính trị là nhân tô ảnh hưởng đến chat lượng thông tin kế toán theo nhiều cách khác nhau, nó có thê tác động trực tiếp đến chất lượng thông tin kế toán hoặc tác động gián tiếp đến chất lượng thông tin kế toán thông qua chuẩn mực kế toán và việc trình bày báo cáo tải chính. Nghiên cứu của Braam và Van Beest (2013) là tập trung xây dựng một công cụ đo lường toàn diện dé đánh giá chất lượng của báo cáo tài chính, dựa vào các đặc tính chất lượng thông tin kế toán theo yêu cầu của hội đồng tiêu chuẩn kế toán tài chính (Financial Accounting Standards Board — FASB) và hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (International Accounting Standards Board — IASB) năm 2010 và các nghiên cứu từ trước về việc đánh giá các đặc tính chất lượng thông tin kế toán 2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Thanh Phương (2013) nghiên cứu xem xet những nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên sở giao dich TP.
Mẫu được chọn bao gồm 99 công ty niêm yết trên HOSE. Tác giả sử dụng các chỉ số đo lường mức độ CBTT tự nguyện và mô hình hồi quy dé đánh giá các yếu tô ảnh hưởng đến mức độ CBTT trong báo cáo tài chính (BCTC). Kết quả chỉ ra rằng mức độ công bồ thông tin trong BCTC không cao. Các nhân tố ảnh hưởng đáng ké đến mức độ CBTT là: yếu tố quy mô, tỉ lệ sở hữu của các cô đông nước ngoài, công ty kiêm toán, mức độ sinh lời và thời gian niêm yét của doanh nghiệp.
Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) dé tài “Minh bach thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Nghiên cứu sử dụng hệ số Cronbach œ dé đnáh giá độ tin cậy và thực hiện đánh giá giá trị thang đo bằng phương pháp EFA. Từ đó cho thấy mức độ minh bạch TTTC của các CTNY trên TTCK chưa cao chỉ ở mức trung bình khá (3,7 điểm trên thang điểm 5). Các nhân tố đòn bay tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cau quản trị HĐQT ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Năm 2018, Mai Thị Trúc Ngân đã nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bach Báo cáo tai chính tại Ngân Hang Thương Mại Việt Nam” dé đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tính minh bạch BCTC của các ngân hàng. Tác giả phân tích định lượng thực hiện thống kê mô tả và kiểm định thang đo, phân tích nhân tổ khám pha EFA, phân tích hồi quy đa biến. Số mẫu khảo sát n=212, theo phương pháp chọn mẫu ngẫy nhiên. Kết quả nghiên cứu đã xác định được các nhân tố tác động đến tính minh bạch báo cáo tài chính ngân hàng thương mại lợi nhuận, quyền sở hữu, công ty kiểm toán, hội đồng quản trị và quy mô ngân hàng.
Trong đó lợi nhuận là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến tính minh bạch của thông tin tài chính. Dựa trên các lý thuyết nền về minh bạch thông tin, bộ chỉ số minh bạch và cung cấp thông tin của Standard & Poor’s, các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về quản trị công ty và công bố thông tin, tác giả Hồ Thủy Tiên và Hoàng Mạnh Khanh (2019) xây dựng các chỉ số lượng hóa mức độ minh bạch thông tin và phân tích các nhân tố tác động đến sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường 7 chứng khoán Việt Nam. Sau khi thu thập va xử lý di liệu mẫu nghiên cứu gồm 300 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2018 (không bao gồm các đoanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực tải chính, ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm), tác giả sử dụng phương pháp OLS (Ordinary Least Squares) đề kiểm định và ước lượng mô hình hồi quy đề xuất. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tổ tài chính (quy mô doanh nghiệp, hiệu suất sử dụng tài sản, công ty kiểm toán) và nhân tố quan tri (sự kiêm nhiệm giữa chủ tịch Hội đồng quản tri và tổng giám đốc) có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Lê Xuân Thái và Trương Đông Lộc (2019) nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố quản trị công ty và tài chính đến mức độ công bố thông tin của công ty niêm yết chứng khoán. Số liệu được lấy từ bảng báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty và tài liệu được công bố công khai có liên quan của 506 công ty niên yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) va Sở Giao dich chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016. Sử dụng phương pháp ước lượng 2LSL và GMM, kết quả nghiên cứu cho thấy tính độc lập của Hội đồng quản trị, quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận có tương quan thuận với mức độ minh bạch TTTC và CB TT của các công ty. Kết luận và khoảng trống trong nghiên cứu Đối với các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước ta có thể thấy được sự ảnh hưởng khác nhau của các nhân tố.