Đặt vấn đề Chi Anubias thuộc họ Araceae được coi là một trong những loại thực vật thường được sử dụng nhất trong số các loài thực vật thủy sinh khác. Trong số đó, cây Anubias barteri var. nana rat được ưa chuộng - nồi bật hơn hết vì tinh thâm mĩ cao, bên cạnh đó cây còn có khả năng lọc nước giúp cải tạo môi trường tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ sinh thái trong hồ cá cảnh. Nhằm duy trì, bảo tồn và phát triển nguồn giống cũng như tạo ra số lượng lớn cung cấp cho thị trường với mục tiêu thương mai.
nana được nhân giống truyền thống bang cách thông qua sự phân chia chồi, thân rễ (Rataj va ctv 1977; Kanchanapoom và ctv, 2012). Tuy nhiên, phương pháp này phải cần một số lượng cây giống lớn; mặt khác, cây thường bị nhiễm bệnh; sinh trưởng, phát triển kém; cây dé bị thoái hóa và không có sự đồng nhất về mặt di truyền dẫn đến có thé phát sinh kiểu hình không mong muốn. Do đó, việc ứng dụng công nghệ sinh học - nuôi cấy mô tế bào thực vật sẽ khắc phục những hạn chế của phương pháp nhân giống truyền thống tạo ra nguồn cây giống có chất lượng tốt phục vụ nhu cầu thị trường. Hiện nay, trên thế giới đã công bố một số nghiên cứu nhân giống in vitro cây Anubias barteri var.
Tuy nhiên, với sự sinh trưởng và phát triển chậm của cây thì các phương pháp nhân giống in vitro thông thường vẫn chưa mang lại hiệu quả cao so với nhu cầu thị trường; dé giải quyết van dé này, phương pháp nhân giống in vitro thông qua trung gian là phát sinh PLBs là một phương pháp nỗi bật và mang lại nhiều ý nghĩa về mặt bảo tồn, khoa học và kinh tế. Hiệu quả và hệ số nhân giống của phương pháp này mang lại là rất tiềm năng, thích hợp đề nhân nhanh các giống cây trồng và tạo ra cây trồng đồng nhất về kiểu gen, giúp sản xuất ra hàng loạt cây có nguồn gốc, chất lượng tốt và đồng đều. Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu nhân giống thông qua PLBs trên đối tượng A. nana vẫn chưa được dé cập.
Song, phương pháp này đã được tiến hành trên một số cây họ ray như: Syngonium podophyllum “White Butterfly”, Philodendron micans K. Koch, Anthurium Andreanum,. Dựa vào những tiền đề trên đề tài “ Khảo sát tác động của một số chất điều hòa sinh trưởng đến sự hình thành protocorm like bodies cây trau bà lá nhỏ (Anubias barteri var. nana)” được thực hiện với mong muốn nhân giống tạo cây hoàn chỉnh thông qua sự phát sinh PLBs để đảm bảo nhân nhanh nguồn cây giống chất lượng cao cung cấp cho nhu cầu về cây cảnh thủy sinh.
Mục tiêu của đề tài Xác định nồng độ một số chất điều hòa sinh trưởng và thành phần dinh dưỡng hữu cơ thích hợp cho sự cảm ứng PLBs va tao cây trầu bà lá nhỏ in vitro hoàn chỉnh. Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khảo sát ảnh hưởng của BA kết hợp NAA đến sự hình thành PLBs cây trầu bà lá nhỏ (Anubias barteri var. Nội dung 2: Khao sát ảnh hưởng của dịch nghiền khoai tây đến sự tạo chồi từ PLBs cây trầu bà lá nhỏ (Anubias barteri var. Nội dung 3: Khảo sát nồng độ IBA đến khả năng hình thành rễ và tạo cây hoàn chỉnh trên cây trầu bà lá nhỏ (Anubias barteri var.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Téng quan về cây Anubias barteri var. Phan loai Cây trau bà lá nhỏ hay còn gọi là ray nana, trầu ba nước và có tên khoa học là Anubias barteri var. Gidi (regnum) : Plantae Ngành (divisio) : Angiosperms Lớp (class) : Monocots Bộ (ordo) : Alismatales Họ (familia) : Araceae Chi (genus) - Anubias Loai (species) : Anubias barteri Schott Phân loại cây ho ray (Araceae) vẫn được các nhà khoa học nghiên cứu va cập nhật liên tục.
Trước đây, theo Williams va ctv (1981) cho rằng ho ray có khoảng 110 chi, hon 2000 loài. Đến năm 2014, Henriquez va ctv đã báo cáo ho ray bao gồm 118 chi, 3800 loài. Gần đây, họ ray lại được công bố có 144 chi và 3645 loài, xếp thứ ba về số mức độ đa dạng trong số các loài cây một lá mầm (Croat và Ortiz, 2020). Chi Anubias được thành lập vào năm 1857 bởi Schott dựa vào loài Anubias afzelli Schott.
Có 8 loài trong chi Anubias được công nhận gồm: Anubias afzelli Schott, Anubias barteri Schott, Anubias gigantea Hutchinson, Anubias gracilis Hutchinson, Anubias gilletii de Wildeman va Durand, Anubias pynaertii de Wildeman, Anubias hastifolia Engler va Anubias heterophylla Engler (Crusio, 1979). Dac diém hinh thai Cây A. nana được mô tả là cây thân thảo, sống thuỷ sinh và thường moc thành cụm. Có kích thước từ 3 — 8 em, cuốn lá dai khoảng 1,5 em.
Các phiến lá nhỏ và có hình trứng, mặt trên lá có màu xanh đậm, mặt dưới có màu nhạt hơn và hiện rõ đường gân lá. Thân rễ dai từ 3 — 15 cm, có màu xanh đậm, chóp rễ có màu trang; từ thân rễ lá sẽ phát triển, phân nhánh và tạo ra các khóm dày đặc. Các phiến lá trong chỉ Anubias thường có hình thái rất déo. Mặc dù, các loài trong chỉ Anubias thường được xác định thông qua đặc điểm cụm hoa (Li va ctv, 2022).
nana hiểm khi ra hoa do tốc độ phát triên chậm và hiện vẫn chưa có mô tả cụ thê nào về hoa của loài này. Phân bố Chi Anubias có nguồn gốc từ Châu Phi và phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới phía Tay Châu Phi (Sholichah và ctv, 2020). Anubias thưởng mọc ở những nơi 4m ướt, ram mát trong rừng va ven các bờ sông, sudi,.Ching có thé phat triển tốt trong điều kiện ngập nước một phan hay hoàn toàn ngập nước (Rataj và ctv, 1977). Mục đích sử dụng Thực vật thủy sinh trong chỉ Anubias rất phô biến đối với những người đam mê cây cảnh thủy sinh.
Chúng được sử dụng rộng rãi dé trang trí bể cá và làm cho cá cảnh khỏe mạnh hơn trong môi trường nhân tạo. nana với vẻ đẹp tự nhiên, sức sống mãnh liệt, dễ chăm sóc; lá đẹp, đều, mặt 14 xanh mướt nên được nhiều người chơi thủy sinh yêu thích và săn đón. Là loài cây có giá trị cao trên thị trường và nhu cầu đối với loại cây này cũng rất lớn (Syahrani, 2019). Tổng quan về nuôi cấy mô tế bào thực vật Nhân giống vô tinh cây trồng in vitro hay vi nhân giống là một lĩnh vực ứng dụng hiệu quả nhất trong công nghệ nuôi cấy mô tế bảo thực vật.
Được xem là một ngành khoa học nhiều triển vọng, ứng dụng thực tiễn nhiều trong đời sống. Cơ sở khoa học của nuôi cấy mô tế bào thực vật Kỹ thuật nuôi cấy mô tế bảo (tissue culture) nói chung và kỹ thuật nhân giống vô tính nói riêng đều dựa vào cơ sở khoa học là tính toàn năng, sự phân hoá và phản phân hoá (Vũ Quang Sáng và ctv, 2007). Tính toàn năng của tế bào Năm 1902, Gottlieb Haberlandt đã tiến hành thí nghiệm nuôi cấy tế bào thực vật đầu tiên và chỉ ra rằng bất kỳ tế bào nào của sinh vật đa bào đều có khả năng phát triển thành một sinh vật hoàn chỉnh. Từ góc độ sinh học hiện đại, lượng thông tin di truyền (DNA) chứa trong mỗi tế bào đã chuyên hóa tương đương với lượng thông tin di truyền trong một cơ thê trưởng thành.
Do đó, bất kỳ tế bao nào cũng có thé phát triển thành một sinh vật hoàn chỉnh trong những điều kiện nhất định. Tính chất này của tế bào được gọi là tính toàn năng của tế bào (Ngô Xuân Bình, 2010). Vì vậy, khi một tế bào thực vật được nuôi cấy trong môi trường dinh dưỡng có đủ điều kiện thích hợp, tế bào có thể tạo ra những cá thé mới có cùng đặc điểm, kiểu gene và kiêu hình. Tính phân hóa và phản phần hóa Quá trình phát sinh hình thái trong nuôi cấy mô và tế bào thực vật là kết quả của quá trình phân hoá và phản phân hoá của tế bào, trong đó: Tính phân hoá của tế bao là sự biến đối của các tế bào phôi sinh thành các tế bao của các mô chuyên hoá đảm nhiệm các chức năng khác nhau.
Tính phản phân hoá của tế bào: Khi đã được phân hoá thành các tế bao, mô riêng biệt với các chức năng khác nhau nhưng trong môi trường và điều kiện thích hợp chúng vẫn có thé quay trở về trạng thái phôi sinh và phân chia mạnh mẽ. Về bản chất sự phân hoá và phản phân hoá là quá trình hoạt hoá của gene, tại một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển cá thể thì một số gene được hoạt hoá và một số gene khác bị ức chế. Khi nằm trong một cơ thé hoàn chỉnh giữa các tế bảo có sự ức chế lẫn nhau, nhưng khi được tách rời và ở điều kiện nhất định thì các gene được hoạt hoá dé dàng hơn nên chúng có khả năng mở tat cả các gene dé hình thành một cá thé mới. Đó chính là cơ sở làm nền tảng cho kỹ thuật nuôi cấy mô tế bảo.
Ý nghĩa của nuôi cấy mô tế bào thực vật Công nghệ nuôi cay mô tế bao thực vật được sử dụng như một công cụ nghiên cứu, ứng dụng rộng rãi để nhân giống cây trồng trên quy mô lớn với tỉ lệ nhân giống cao, thời gian ngắn trong điều kiện được kiểm soát, bất kế mùa vụ và thời tiết, loại bỏ bệnh tat, cải thiện cây trồng va sản xuất các chất chuyền hóa thứ cấp. Ngoài ra, nuôi cấy mô tế bào thực vật được coi là công nghệ hiệu quả nhất dé cải tiến cây trồng bang cách tạo ra các giống cây có chất lượng vượt trội, phân lập các biến thể hữu ích trong các kiểu gene năng suất cao, thích nghi tốt, khả năng kháng bệnh tốt hon (Hussain và ctv, 2012). Kỹ thuật nuôi cấy in vitro tế bao thực vật cung cấp một lựa chọn thay thé và có giá trị dé nhân giống và bảo tồn nhiều loài thực vật, đặc biệt là cây nhân giống sinh dưỡng, cây có hạt khó nảy mam và các loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng. Kỹ thuật nuôi cay mô tế bào thực vật cho phép nhân giống các loài thực vật này với ty lệ nhân giống cao và bảo tồn trong thời gian ngắn đến trung và dài hạn (Rai, 2022).
Tổng quan về protocorm like bodies 2. Khái niệm và cơ sở hình thành PLBs Protocorm like bodies (PLBs) được sử dụng để chỉ loại nay mầm tương tự protocorm (sự nảy mầm bắt cộng sinh trong ống nghiệm của hoa lan), sự khác nhau cơ bản giữa protocorm và PLBs là protocorm phát sinh từ phôi hợp tử còn PLBs có nguồn gốc từ các mô phôi soma.