Đặt vấn đề Theo Srifuengfung và cộng tác viên (2020) thì cây chanh chúc có tên khoa học la Citrus hystrix DC, có nguồn gốc từ đảo Sumbawa của Indonesia, sau đó được trồng ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia và khu vực nhiệt đới của chau A (Farid và ctv, 2017). Ở Việt Nam, cây được trồng nhiều ở tỉnh An Giang và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Vào năm 2022, Đặng Huỳnh Giao và cộng tác viên đã báo cáo rằng cây chanh chúc mang mùi thơm đặt trưng, chứa nhiều tinh dau ở lá, hoa và trai (đặc biệt chứa nhiều ở phần vỏ xanh của trái). Hàm lượng tinh dầu có trong cây chanh chúc cao gấp 3 - 5 lần so với các loại quả khác cùng họ nên có giá trị kinh tế cao và được ứng dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Tinh dầu chanh chúc có kha năng đuổi côn trùng mang nhiều lợi ích đối với sức khoẻ con người như: giảm căng thắng, cải thiện giấc ngủ, lưu thông máu huyết. Tinh dầu từ cây chanh chúc còn có khả năng kháng khuẩn tự nhiên nên được nghiên cứu ứng dụng trong các sản phẩm diệt khuẩn. Trong lá chứa chủ yếu các hợp chất flavonoid, tannin, saponin, alkaloid, dịch chiết xuất từ lá có tác dụng bảo vệ gan do paracetamol gây ra, tác dụng chống oxi hóa, kháng viêm, chống ung thư cô tử cung và các dòng tế bào u nguyên bào thần kinh (Arumugam và ctv, 2015; Chueahongthong và ctv, 2011; Tunjung và ctv, 2015). Trong y học cô truyền còn được dùng chữa cảm cúm, sốt, cao huyết áp, đau bụng, tiêu chảy ở trẻ sơ sinh (Fortin và ctv, 2002).
Cây chanh chúc ngày càng được su dụng làm hương thơm trong ngành công nghiệp thực pham, nước hoa và mỹ phẩm. Ở bán đảo Malaysia, qua và lá cũng được dùng dé gội dau, nước ép có tác dụng làm mềm da và khử mùi hôi cơ thé (Dassanayake, 1985). Lá được dùng làm gia vi đặc trưng trong ầm thực, một trong nhưng món ăn nôi tiếng khắp toàn cầu đó là Tom Yum. Ở Thái Lan, quả được dùng làm gia vị và pha chế đồ uống, trà.
Trong am thực Việt Nam lá cây chanh chúc được sử dụng cho rất nhiều món ăn khác nhau nhưng nồi tiếng nhất là thịt gà hấp lá chúc. Ở An Giang nỗi tiếng với đặc sản cháo bò trái chúc, món ăn của sự giao thoa văn hóa tộc người Khmer và người Việt, bên cạnh món gà hấp lá chúc. Hiện nay cây chanh chúc chủ yếu được nhân giống bằng hai phương pháp truyền thống chính là gieo hạt và chiết cảnh. Những phương pháp truyền thống thường không thé đáp ứng được tốt nhu cầu của thị trường.
Phương pháp nhân giống in vitro là một công nghệ tiên tiến mới đang ngày càng phổ biến, phương pháp này cung cấp một số lượng cây giống chất lượng cao, đồng đều và sạch bệnh, cây con ôn định về 2 mặt di truyền (nhân giống vô tính), khắc phục được nhược điểm thoái hóa, đem lại hiệu quả thiết thực trong việc nâng cao chất lượng cây giống. Xuất phát từ những nhu cầu thực tế trên, đề tài khảo sát ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sự hình thành chdi từ mẫu đốt thân cây chanh chúc (Citrus hystrix DC.) được thực hiện. Mục tiêu đề tài Xác định thời gian phù hợp dé sử dụng chất khử trùng dung dich Javen trong quá trình vô mau nham tạo nguôn mau sạch. Xác định được nồng độ phù hợp của chất điều hòa sinh trưởng Kinetin trong quá trình phát sinh chồi từ mẫu đốt thân cây chanh chúc in vitro.
Xác định được nồng độ phù hợp của chất điều hòa sinh trưởng BA trong quá trình phát sinh chéi từ mẫu đốt thân cây chanh chúc in vitro. Nội dung thực hiện Nội dung 1: khảo sát thời gian khử trùng dung dịch Javen trong quá trình vô mẫu. Nội dung 2: khảo sát ảnh hưởng của nồng độ Kinetin đến khả năng phát sinh chồi. Nội dung 3: khảo sát ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng phát sinh chồi.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây chanh chúc 2. Phân loại cây chanh chúc Giới: Plantae Ngành: Angiospermae Lớp: Species Bộ: Sapindales Họ: Rutaceae Chi: Citrus Loai: Citrus hystrix Tên khoa học: Citrus hystrix DC. Cay chanh chúc.
Nguồn gốc cây chanh chúc Cây có nguồn góc từ đảo Sumbawa của Indonesia, sau đó được trồng ở Indonesia, Thái Lan, Malaysia và vùng nhiệt đới châu Á (Farid và ctv, năm 2017), hiện được trồng rộng rãi trên thế giới. Tại Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi nhưng phổ biến như một loài cây đặc hữu vùng Bảy Nui, An Giang. Theo Swingle và cộng tác viên (1967) cho biết vào năm 1824 thì cái tên “Mauritius papeda” được De Candolle (DC) đặt cho cây chanh chúc, ông đã nghiên cứu và phân loại C. Hystrix là loài đầu tiên của phân chi Papeda.
Cây chanh chúc hay còn được gọi phô biến ở Hà Lan và Đức là “Mauritius Papeda”, trong khi ở Pháp, Ý và Tây Ban Nha thì được gọi là “Combava”. Tên gọi phô biến toàn cầu của chanh chúc là Kaffir Lime. Tại miền Bắc Việt Nam cây được gọi bằng tên trấp (chấp, giấp) còn ở vùng An Giang miền Tây Nam Bộ, cây mang tên trúc (chúc) hay trúc thơm. Đặc điểm hình thái Cây chanh chúc là một loài cây thân gỗ nhỏ đến trung bình chiều cao từ 3 - 6 m và chiều rộng khoảng 2,5 - 3 m, cành nhẫn và có gai.
Thân lúc nhỏ có màu xanh bóng và cây có lớp vỏ mỏng bên ngoài, khi trưởng thành thân chuyển màu nâu sam, trên than có rất nhiều gai nhọn mọc ngang. Lá cây chanh chúc có hình thái độc đáo đặc trưng trong số các loại cây cùng họ, lá mọc xen kẽ, giống hình số 8 có chiều dài 7,5 - 10 em. 3 Mặt trên của lá màu xanh đậm còn mặt dưới sẽ có màu nhạt hơn, mùi rất thơm. Cuống lá dài mở rộng thành các cánh nồi bật, dài 15 cm và rộng 5 cm, mỗi lá chia thành hai phần trông như là một lá đôi.
Hoa nhỏ, thơm, cánh hoa màu trắng với mép màu tím dài 7 - 10 mm, có 4 - 5 cánh hoa, hình bầu dục chữ nhật, nhị hoa màu vàng xếp thành bó hay chùm nhị. Quả có hình tròn, vỏ san sùi, màu lục, khi chin có màu vàng, vỏ khá dày, thịt qua màu vàng xanh, ít nước nhưng nước có vị the và rất chua, đường kính 5 - 7 em. Hat quả có gai, hình bầu dục, dải 1,5 - 1,8 em và rộng | - 1,2 cm. Điều kiện sinh thái Theo Farid và cộng tác viên (2017), hai loại khí hậu chính phù hợp cho quá trình phát triển của cây chanh chúc là khí hậu nhiệt đới, khí hậu cận nhiệt đới.
Cây phát triển tự nhiên và có sức sông mạnh, sông ở nơi có ánh sáng trực tiép, không chịu ram. Độ pH của dat thích hợp cho cây nằm trong khoảng 5 - 6 pH. Hiện tượng vàng lá của cây cũng có thê là vấn đề của pH đất (thường có pH trên 7,5). Đất có khả năng thoát nước tốt sẽ giúp cho cây chanh chúc phát triển mạnh ở bộ rễ, thúc day tốc độ tăng trưởng của cây giúp cây luôn khỏe mạnh.
Đất thịt pha cát, nhiều mùn rất thích hợp cho cây chanh chúc phát triển. Tùy vào nơi trồng cây (trồng trong chậu hay trồng xuống đất) mà công thức đất trồng sẽ khác nhau, việc này ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây. Theo Huxley (1992), nhiệt độ lý tưởng cho việc trồng cây nằm trong khoảng từ 25 - 30°C. Sự phát triển của cây thường ngừng lại khi nhiệt độ thấp hơn 13°C hoặc cao hơn 38°C.
Nếu có thời kỳ khô kéo dài hơn ba tháng, thì cần phải tưới tiêu cho cây. Các phương pháp nhân giống của cây chanh chúc Cây được nhân giống bằng hai phương pháp chính đó là gieo hạt và chiết cành. Đây là hai phương pháp nhân giống truyền thống được áp dụng phô biến với cây ăn quả. Nhiều người thường chọn trồng cây chanh chúc bằng cách chiết cành thay vì gieo hạt, vì hạt giống của cây thường khó nảy mầm và số lượng hạn chế nên khó có được hạt giống chất lượng cao (Handayani và ctv, 2020).
Cần lưu ý chọn giống phải sạch bệnh. Tổng quan về nuôi cấy mô tế bào thực vật 2. Khái niệm nuôi cay mô Nuôi cay mô thực vật có thể hiéu là một phương pháp nhân giống nhân tạo bằng các cô lập các bộ phận của cây như cơ quan, mô, tế bào hoặc tế bao trần dé nuôi cấy trên 4 môi trường có chứa chất dinh dưỡng (Wijiayanti và ctv, 2015). Nuôi cấy mô tế bào thực vật là một phạm trù chung cho tất cả các loại nuôi cây mà nguyên liệu là các thực vật hoàn toàn sạch bệnh trên môi trường nhân tạo và trong điều kiện vô trùng (Haberlandt, 1902).
Kỹ thuật nuôi cấy mô cho phép phát sinh chồi hoặc cơ quan (sự phát sinh cơ quan) từ các mô như: lá, thân, hoa hoặc rễ (Dương Công Kiên, 2002). Nuôi cấy mô tế bào thực vật có rất nhiều ứng dụng khác nhau, trong đó ứng dụng nổi bật nhất và đạt được kết quả thương mại lớn nhất là nhân giống in vitro. Cơ sở khoa học và ý nghĩa kỹ thuật của nuôi cấy mô tế bào thực vật Theo Haberlandt (1902), mỗi tế bào từ một cơ thê đa bào đều chứa đủ thông tin di truyền dé phát triển thành một cá thé hoàn chỉnh. Haberlandt là một nhà khoa học người Đức, là người đã đặt nền móng ban đầu cho lĩnh vực nuôi cấy mô từ việc đưa thuyết tế bào của hai nhà sinh vật hoc Đức Schleiden và Schwann vào thực nghiệm năm 1902.
Tính toàn năng của tế bào mà Haberlandt nêu ra chính là cơ sở lý luận của phương pháp nuôi cay mô tế bào thực vật. Ky thuật nuôi cây mô tế bào thực vật xét cho cùng là kỹ thuật điều khiển sự phát sinh hình thái của tế bào thực vật một cách định hướng dựa vào sự phân hóa và phản phân hóa của tế bào trên cơ sở tính toàn năng của tế bào thực vật (Ngô Xuân Bình, 2009). Ở Việt Nam, công nghệ nuôi cấy mô khang định qua thành công của công trình nuôi cây bao phân lúa và thuôc lá được thực hiện vào năm 1978. Tế bảo thực vật có tính toàn năng, tức là mọi tế bào sẽ đều có cùng hệ gen và có khả năng sinh sản vô tính.
Do đó, chúng có thể được nuôi cấy trong môi trường thuận lợi dé tạo ra các cá thể mới đồng loạt về tính trạng, kiểu gen và kiểu hình. Dựa trên tính toàn năng này, phương pháp nuôi cấy mô tế bào xuất hiện.