CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu hệ sinh thái đất ngập nước trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trong cuốn “Thư mục nghiên cứu về rừng ngập mặn” (Chương trình Biển KT.03, 1991-1995) đã liệt kê hơn 420 công trình nghiên cứu của 12 quốc gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương từ năm 1600 đến năm 1975. Phần lớn các nghiên cứu này đã đề cập đến khu hệ động thực vật phân bố trong hệ sinh thái RNM và khẳng định: Đất ngập nước rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới, ngày nay rừng ngập mặn đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay người ta đã nhận biết được các chức năng và giá trị to lớn của chúng.[26] Tài liệu đầu tiên nghiên cứu về vai trò của rừng ngập mặn do Odum đưa ra đã phân tích vai trò to lớn của mùn bã phân hủy từ lá cây đước đỏ (Rhizophora mangle) trong chuỗi thức ăn vùng cửa sông ven biển Florida.
Nghiên cứu khác ở Florida (Mỹ) đã chỉ ra rằng “Cấu trúc mùn bã hữu cơ phụ thuộc rất nhiều vào mắt xích thức ăn trong hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đây còn là nơi ươm nuôi ấu trùng cho nhiều loại cá, giáp xác và động vật thân mềm”. Ngoài ra, tác giả còn đưa ra được sơ đồ mối quan hệ giữa rừng ngập mặn với các thành phần sinh vật sống [48]. Tổ chức UNESCO (1979) và FAO (1982) khi nghiên cứu về rừng và đất rừng ngập mặn ở vùng châu Á Thái Bình Dương cho rằng: Hệ sinh thái rừng ngập mặn trong khu vực này đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi nguyên nhân chính là do việc khai thác tài nguyên rừng, đất rừng ngập mặn không hợp lý gây ra các biến đổi tiêu cực đối với môi trường đất và nước.
Các tổ chức này đã khuyến cáo các quốc gia có rừng và đất ngập mặn, cần phải có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng này bằng các giải pháp như: xây dựng các hệ thống chính sách, văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất, rừng ngập mặn và 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trồng, khoanh nuôi bảo vệ rừng kết hợp với việc xây dựng các mô hình lâm ngư kết hợp [58]. Một số công trình nghiên cứu về lượng mưa, nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngập mặn. Tomlinson (1986) cho rằng nhiệt độ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố rừng ngập mặn. Cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường có nhiệt độ ấm, nhiệt độ của tháng lạnh nhất không dưới 20oC, biên độ nhiệt theo mùa không vượt quá 10oC.
Saenger và cộng P P P P sự (1983) (Nguyễn Hoàng Trí, 2006) đã giải thích sự có mặt của rừng ngập mặn ở một vùng nào đó tùy thuộc nhiệt độ không khí và nhiệt độ nước [28]. De Hann (1931) (Trích trong Aksornkoae, 1993) nêu ý kiến cho rằng rừng ngập mặn tồn tại, phát triển ở nơi có độ mặn từ 10-30‰ và các tác giả đã chia thực vật ngập mặn thành hai nhóm; nhóm phát triển ở độ mặn từ 10-30‰và nhóm phát triển ở độ mặn từ 0-10‰. Khi độ mặn càng cao thì sinh trưởng của cây càng kém, sinh khối của rễ, thân và lá đều thấp dần, lá sớm rụng (Saenger và cộng sự, 1983)[50]. Nhiều tác giả cho rằng đất là nhân tố chính giới hạn sự tăng trưởng và phân bố cây ngập mặn (Gledhill, 1963; Giglioli và King, 1966; Clark và Hannonn, 1967; S.
Aksornkoae và cộng sự, 1985). Đất RNM là đất phù sa bồi tụ có độ muối cao, thiếu O 2 , giàu H 2 S, rừng ngập mặn thấp và cằn cỗi trên các bãi lầy có ít phù sa, R R R R nghèo chất dinh dưỡng. Karim và cộng sự cho biết sự phát triển của thực vật ngập mặn liên quan đến số lượng phù sa lắng đọng và cây đạt chiều cao cực đại ở nơi có lớp đất phù sa dày [50]. Năm 1983, đề án “Chương trình nghiên cứu tổng hợp và đào tạo về hệ sinh thái rừng ngập mặn Châu Á - Thái Bình Dương” của UNDP/UNESCO ra đời với sự tham gia chính thức của 12 nước trong khu vực.
Công trình gồm tập hợp các báo cáo về tình hình rừng ngập mặn của 11 nước và một số vấn đề gây tình trạng giảm sút rừng trong khu vực đã được in trong cuốn “Rừng ngập mặn Châu Á và Thái Bình Dương: Thực trạng và quản lý” (1996) [16]. Khu vực Châu Á và Đông Nam Á là nơi có diện tích ĐNN lớn của thế giới. Do mật độ dân cư cao (chiếm 60% số dân toàn thế giới) các cộng đồng dân cư nơi 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đây phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên ĐNN. Hiện nay, các nghiên cứu về ĐNN tại khu vực châu Á và Đông Nam Á chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực: Xác định loại hình và sự phân bố của ĐNN; Nghiên cứu các mối đe doạ, những ảnh hưởng, tác động hiện nay và yêu cầu về bảo vệ ĐNN, đa dạng sinh học của các vùng ĐNN.
Hướng nghiên cứu này đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế như Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới (The World Conservation Union - IUCN), Chương trình môi trường của Liên hợp quốc (UNEP), Quỹ động vật hoang dã thế giới (WWF), các tổ chức phi chính phủ (NGO). Trong đó quan trọng nhất là vai trò của IUCN vì đây là tổ chức trực tiếp hỗ trợ về tài chính và là cơ quan phối hợp kết nối với các hoạt động với các tổ chức khác trong việc bảo vệ và nghiên cứu ĐNN trên Thế giới [43]. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Theo Rollet (1981) thống kê, đến cuối thế kỷ 19 Việt Nam chỉ có 3 tài liệu liên quan tới RNM [33]. Theo Phan Nguyên Hồng có nhiều tài liệu liên quan đến thảm thực vật ngập mặn, điển hình như một số công trình: RNM mũi Cà Mau (C.Moquillon, 1950), Thảm thực vật bờ biển bùn cát ở bán đảo Cam Ranh (J.
Công trình nghiên cứu có hệ thống về RNM đầu tiên ở Việt Nam là của Vũ Văn Cương (1964) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) về các quần xã thực vật ở rừng Sát thuộc vùng Sài Gòn - Vũng Tàu. Tác giả đã chia thực vật ở đây thành 2 nhóm: nhóm thực vật nước mặn và nhóm thực vật nước lợ [33]. Lê Công Khanh (1986) (ghi theo Phan Nguyên Hồng) mô tả các đặc điểm sinh học để phân biệt các chi, các họ cây có trong RNM. Tác giả đã xếp 57 loài cây ngập mặn vào 4 nhóm dựa vào tính chất ngập nước và độ mặn của nước: Nhóm mọc trên đất bồi ngập nước mặn (độ mặn của nước từ 15-32‰) có 25 loài, trong đó có Đưng, Cóc trắng; nhóm sống trên đất bồi thường ngập nước lợ (độ mặn 0,5 - 15‰) có 9 loài, trong đó có Vẹt đen và nhóm sống trên đất bồi ít ngập nước lợ có 12 loài.
[33] Nguyễn Hoàng Trí (1999), cho rằng Đưng không có ở miền Bắc Việt Nam, chỉ có ở ven biển miền Trung và Nam Bộ. Cóc trắng gặp cả ở ba miền, trên vùng 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất cao ngập triều không thường xuyên, nền đất tương đối chặt. Vẹt đen không có ở miền Bắc, gặp ở vùng nước lợ ở miền Nam. Trang phân bố từ Bắc vào Nam, chịu được biên độ nhiệt khá khắc nghiệt, hiện được trồng nhiều ở miền Bắc [28].
Đỗ Hữu Thư, Đào Mạnh Sơn, Vũ Trung Tạng., đã nghiên cứu tổng quan RNM ở Việt Nam, xây dựng nên bản đồ phân bố RNM Việt Nam và định hướng quy hoạch cho một số vùng ở Việt Nam [48]. Phan Nguyên Hồng (1999) đã đề cập đến vấn đề phân bố, sinh thái, sinh lý sinh khối. RNM Việt Nam. Số loài cây ngập mặn ở miền Bắc Việt Nam ít hơn và có kích thước cây bé hơn ở miền Nam vì có nhiệt độ thấp trong mùa đông.
Vùng ít mưa, số lượng loài và kích thước cây giảm. Khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác biệt nhau lớn thì vùng có chế độ bán nhật triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế độ nhật triều. Độ mặn là một trong những nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, tỷ lệ sống của các loài và phân bố RNM. Loại rừng này phát triển tốt ở nơi có nồng độ muối trong nước từ 10-25‰.Trong các nhân tố sinh thái thì khí hậu, thủy triều, độ mặn và đất đóng vai trò quyết định sự sinh trưởng và phân bố của thảm thực vật RNM.
Các nhân tố khác góp phần tích cực trong việc phát triển hay hạn chế của kiểu thảm thực vật này.[33] Một trong số những dự án đầu tiên có liên quan đến ĐNN ở Việt Nam là “Dự án sông Mê Kông và đồng bằng sông Cửu Long” của Uỷ ban sông Mê Kông (1957) do chính phủ 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thành lập. Năm 1989, Việt Nam tham gia công ước Ramsar, trên cơ sở các văn bản Công ước, các tài liệu khoa học trong nước và quốc tế về những vấn đề có liên quan đến ĐNN đã được tập hợp lại, xác định những nội dung “nghiên cứu về ĐNN” một cách chính thức ở Việt Nam. [43,70] Về kiểm kê và phân tích các chức năng, giá trị của ĐNN có các công trình của Lê Diên Dực, Vũ Văn Dũng và Nguyễn Hữu Thắng. Trong công trình nghiên cứu của Lê Diên Dực (1989), đã kiểm kê và công bố 32 vùng ĐNN quan trọng, cần được bảo vệ của nước ta [22].
Năm 2003, Việt Nam cũng đã có những cố gắng trong công tác nghiên cứu, quản lý và bảo tồn ĐNN như: “Chương trình bảo tồn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ĐNN quốc gia”; Nghị định 109/2003/NĐ-CP về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng ĐNN; “Chiến lược quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010” (số 192/2003/QĐ-TTg), v. Năm 2004, Phan Nguyên Hồng (2004) trong báo cáo về lịch sử nghiên cứu ĐNN Việt Nam đã thống kê hơn 500 nghiên cứu về khí tượng thủy văn, địa chất, địa mạo, ĐDSH, hệ cửa sông ven biển, hệ đầm phá, HST RNM, HST rạn san hô, thảm cỏ biển. Các nghiên cứu này đã góp phần đóng góp vào bộ tư liệu nghiên cứu về ĐNN ven biển Việt Nam [34,35]. Năm 2005, Cục Bảo vệ Môi trường đã báo cáo về nghiên cứu “Tổng quan hiện trạng ĐNN Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsamsar” [14].