CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Trong phần này, nghiên cứu chủ yếu làm rõ 2 vấn đề: Tầm quan trọng của bảo mật thông tin trên trường Quốc tế và tại Việt Nam thông qua việc trích dẫn một số luật định (1) và mức độ quan tâm của xã hội đến bảo mật thông tin thông qua việc tóm tắt về tình hình nghiên cứu của vấn đề (2). Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng sẽ nêu ra các khoảng trống của các bài nghiên cứu được nêu lên trong phần (2) và các câu hỏi nghiên cứu do nhóm đặt ra.1 Tổng quan về một số quy định có liên quan đến bảo mật thông tin Với sự phát triển như vũ bão của ngành công nghệ thông tin vào đầu thế kỷ XXI, dữ liệu thông tin đã trở lên ngày một hiệu hữu phổ biến trong cuộc sống hàng ngày và qua đó được coi như một loại tài sản vô cùng giá trị đặc biệt là đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ. Tuy nhiên, những vi phạm có liên quan đến thông tin cá nhân lại trở nên phổ biến và điều này đã thúc đẩy hàng loạt các tổ chức trong nước cũng như quốc tế phải vào cuộc bằng cách đưa ra những quy định trong việc sử dụng và quản lý dữ liệu. Quốc tế Vào tháng 11 năm 2004, các Bộ trưởng APEC đã phê chuẩn “Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử của APEC” nhằm giúp các quốc gia thành viên có thể tự do trao đổi và lưu trữ các thông tin cá nhân của nhau mà vẫn có thể đảm bảo được sự an toàn và bí mật của các thông tin này (APEC, 2004).
Văn bản này đưa ra chín nguyên tắc về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, các nguyên tắc này đều nhấn mạnh vào các vấn đề cốt lõi đang nảy sinh có khả năng đe dọa đến ngành thương mại điện tử cùng với việc yêu cầu các nền kinh tế nên có một số biện pháp phòng ngừa chúng dựa trên chín nguyên tắc này, các biện pháp đó gồm có: Quy định trách nhiệm cụ thể đối với việc thu thập, sử dụng, chuyển giao dữ liệu cá nhân; nhà quản lý thông tin cá nhân phải có thông báo rõ ràng và dễ tiếp cận về chính sách và hoạt động thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; việc thu thập dữ liệu cá nhân phải được thực hiện bằng các phương thức đúng đắn, hợp pháp; dữ liệu cá nhân chỉ được sử dụng để đáp ứng các mục đích thu thập thông tin và các mục đích liên quan khác. Tuy nhiên các quy định chỉ mang tính khuyến khích và làm tài Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 8 liệu tham khảo cho các quốc gia thành viên và không có chế tài cụ thể xử phạt các hành vi làm sai so với quy định. Tại châu Âu cũng có quy định chung về việc thực hiện các biện pháp bảo mật thông tin cho các quốc gia thành viên cùng khối thông qua “Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR)”. GDPR chủ yếu nhắm đến việc kiểm soát các cá nhân và tổ chức tiếp cận dữ liệu cá nhân và thống nhất chung một quy định giữa các quốc gia thành viên nhằm đơn giản hóa thủ tục cũng như quy định trong môi trường kinh doanh quốc tế.
GDPR 2016 có tổng cộng 11 chương với nội dung chủ yếu nêu lên các nguyên tắc, quy định trong việc chuyển giao dữ liệu thông tin cá nhân cho bên thứ 3 và các cơ quan có thẩm quyền, quyền sử dụng thông tin của chủ thể của dữ liệu cá nhân đó, trách nhiệm của bên kiểm soát và xử lý thông tin, trách nhiệm phối hợp để áp dụng các quy định giữa các nước thành viên và một điều cải tiến hơn so vs các quy định của APEC đó là các chế tài để xử phạt các hành vi vi phạm đến quyền lợi của chủ thể dữ liệu cá nhân.2 Trong nước Đông Nam Á hiện đang được đánh giá là khu vực có tốc độ phát triển ngành thương mại điện tử nhanh nhất thế giới và Việt Nam hiện đang là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất trong khu vực. Chính vì sự tăng trưởng đó mà Nhà nước cũng bắt đầu quan tâm hơn đến việc quản lý ngành nghề này đặc biệt là trong vấn đề bảo mật thông tin cá nhân. Tuy nhiên hiện vẫn chưa có một văn bản quy định hoàn chỉnh nào được đưa ra, văn bản hoàn chỉnh duy nhất được áp dụng đó là “Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử của APEC ” được dịch ra tiếng Việt để cho các doanh nghiệp có thể tham khảo và áp dụng. Ngoài văn bản trên, Nhà nước cũng chỉ đề cập đến vấn đề bảo mật thông tin khách hàng trong điều số 21 và 22, Thông tin số 09/2008/TT-BCT ngày 21 tháng 07 năm 2008, Thông tư hướng dẫn nghị định thương mại điện tử về cung cấp thông tin và giao kết hợp đồng trên các trang thương mại điện tử do Bộ Công Thương phát hành.
Tuy nhiên nội dung của 2 điều trên còn sơ sài và mang tính chất chung chung, không có gì khác biệt so với các văn bản quy định quốc tế mà như trên đã đề cập. Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về bảo mật thông tin 1.1 Quốc tế Công nghệ số vốn đã được phổ biến rộng rãi tại các quốc gia phát triển trên thế giới, do vậy mà vấn đề bảo mật thông tin cá nhân đã sớm được nhận thức và nghiên cứu bởi nhiều tác giả là những chuyên gia trong nghề. Tuy nhiên, bảo mật thông tin là một khái niệm đa chiều và ảnh hưởng của nó là vô cùng rộng lên nhiều khía cạnh của nhiều lĩnh vực. Đối với từng ngành nghề khác nhau lại có những cách định nghĩa khác nhau về bảo mật.
Theo nhận định của George và Gordon (2003) thì bảo mật được hiểu như là một thỏa thuận hợp đồng ngầm về trách nhiệm xã hội của bên bán hàng trong thương vụ giao dịch với khách hàng. Hợp đồng xã hội ngầm này có thể được coi là một thương vụ trao đổi đặc biệt khi mà khách hàng sẽ cung cấp cho các cá nhân hoặc tổ chức cụ thể những thông tin về chính vị khách hàng đó, đổi lại vị khách hàng này có thể sẽ nhận được những lời đề nghị có lợi cho họ trong tương lai. Tuy nhiên định nghĩa này chỉ phù hợp trong phạm vi là ngành quảng cáo, nơi mà các tổ chức sẽ nỗ lực thuyết phục khách hàng thực hiện giao dịch hợp đồng ngầm trên thông qua thư điện tử hay lời mời trên một số trang mạng xã hội khác. Việc khách hàng liệu có chấp nhận đồng ý thực hiện giao dịch phụ thuộc vào quá trình cân nhắc giữa lợi ích và rủi ro khi tham gia hợp đồng đến từ phía khách hàng và bảo mật là một trong yếu tố có tác động lớn nhất.
Dựa trên quan điểm của Milne và Gordon về bảo mật trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến, trong cuốn sách với tiêu đề “bảo mật, thông tin và công nghệ” (Solvone, 2006) có đề cập rằng khi xảy ra phá vỡ giữa sự bí mật thông tin khách hàng và tổ chức, bên phá vỡ sẽ phải bồi thường cho bên nạn nhân như một khoản đền bù cho sự phá vỡ niềm tin. Nghiên cứu về khía cạnh khác của bảo mật thông tin, công trình nghiên cứu của Smith và cộng sự (1996) đã tạo ra cán cân đa khía cạnh dùng làm thang đo cho mức độ lo ngại bảo mật của khách hàng (concern for information privacy - CFIP). cán cân CFIP bao gồm 15 biến phản ánh bốn khía cạnh về mối lo ngại bảo mật là thu thập thông tin cá nhân (collection), việc sử dụng thông tin từ bên thứ ba chưa được cấp duyệt (unauthorized secondary use), không được cấp phép truy cập (improper access) và lỗi hệ thống (errors). Nhờ có sự tham gia khảo sát của 355 người, Stewart và Segars (2002) đã chứng minh được tính đúng đắn về mặt tâm lý học của cân đo 15 biến này.
Cũng nghiên cứu về cán cân dùng làm thang đo cho mối lo ngại về Downloaded by bong bong (bongbong1@gmail.com) lOMoARcPSD|39475011 10 bảo mật, Malhotra (2004) đã thay thế bốn khía cạnh chính của Smith bằng bốn khía cạnh khác mang tính tổng quát và dễ hiểu hơn đó là thu thập dữ liệu cá nhân, khả năng kiểm soát dữ liệu cá nhân của khách hàng, sự nhận thức của khách hàng về quy trình bảo mật thông tin và cách mà thông tin cá nhân được tổ chức nắm giữ sử dụng. Sự đa dạng trong cách định nghĩa về bảo mật thông tin kéo theo tác động của nó lên rất nhiều ngành nghề, không những vậy với từng ngành nghề nó lại có tác động lên những khía cạnh khác nhau. Cụ thể, Feng Xu cho rằng hệ thống bảo mật thông tin có sức ảnh hưởng nhất định đến quyết định cung cấp thông tin cá nhân của mình lên các trang mạng xã hội, điện tử và những hệ thống giao dịch khác (Feng Xu, 2013). Fortes (2014) lại chỉ ra rằng bảo mật thông tin cá nhân là cơ sở để định hướng cho niềm tin, sự cảm nhận về rủi ro của khách hàng, sự cảm nhận về tính hữu ích, sự cảm nhận về tính dễ sử dụng và khả năng kiểm soát thông tin của bản thân.
Năm yếu tố này lại có tác động trực tiếp đến ý định hành vi mua hàng của khách hàng. Nepomuceno đề nghị mức độ quan tâm đến bảo mật thông tin của khách hàng là nhân tố dung hòa mối quan hệ mâu thuẫn giữa tính phi hữu hình của sản phẩm hàng hóa trong quá trình sử dụng dịch vụ trên nền tảng trực tuyến và sự cảm nhận rủi ro của khách hàng. Ellison (2013) cũng chứng minh được vai trò điều tiết của chính sách bảo mật thông tin trong quá trình làm xóa dần đi mối quan hệ đánh đổi giữa tài nguyên xã hội và nguy cơ về an toàn thông tin cá nhân. Giải thích cho điều này, Ellison (2013) lập luận rằng tài nguyên xã hội là những lợi ích, lợi nhuận và tài sản thu được từ những hoạt động dựa trên các mối quan hệ xã hội dưới nhiều hình thức, để có thể kiếm được lợi ích tài nguyên xã hội thông qua các trang mạng xã hội, một cá nhân hay một tổ chức luôn phải đánh đổi những nguy cơ về bảo mật thông tin cá nhân do buộc phải tiết lộ thông tin cá nhân thực sự đồng thời phải chịu sự chú ý đến từ nhiều phía.