CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu về các yếu tố bảo mật dữ liệu cá nhân ảnh hưởng tới ý định mua hàng trực tuyến. Tổng quan ngoài nước Công nghệ số vốn đã được phổ biến rộng rãi tại các quốc gia phát triển trên thế giới, do vậy mà vấn đề bảo mật thông tin cá nhân đã sớm được nhận thức và nghiên cứu bởi nhiều tác giả là những chuyên gia trong nghề. Tuy nhiên, bảo mật thông tin là một khái niệm đa chiều và ảnh hưởng của nó là vô cùng rộng lên nhiều khía cạnh của nhiều lĩnh vực. Đối với từng ngành nghề khác nhau lại có những cách định nghĩa khác nhau về bảo mật.
Công trình nghiên cứu của Smith và cộng sự (1996) đã tạo ra cán cân đa khía cạnh dùng làm thang đo cho mức độ lo ngại bảo mật của khách hàng (Concern For Information Privacy - CFIP). Cán cân CFIP bao gồm 15 biến phản ánh bốn khía cạnh về mối lo ngại bảo mật là thu thập thông tin cá nhân (Collection), việc sử dụng thông tin từ bên thứ ba chưa được cấp duyệt (Unauthorized Secondary Use), không được cấp phép truy cập (Improper Access) và lỗi hệ thống (Errors). Nhờ có sự tham gia khảo sát của 355 người, Stewart và Segars (2002) đã chứng minh được tính đúng đắn về mặt tâm lý học của cân đo 15 biến này. Cũng nghiên cứu về cán cân dùng làm thang đo cho mối lo ngại về bảo mật, Malhotra (2004) đã thay thế bốn khía cạnh chính của Smith bằng bốn khía cạnh khác mang tính tổng quát và dễ hiểu hơn đó là thu thập dữ liệu cá nhân, khả năng kiểm soát dữ liệu cá nhân của khách hàng, sự nhận thức của khách hàng về quy trình bảo mật thông tin và cách mà thông tin cá nhân được tổ chức nắm giữ sử dụng.
Nghiên cứu về khía cạnh khác của bảo mật thông tin, công trình nghiên cứu của Milne và Gordon (2006) về bảo mật trong lĩnh vực quảng cáo trực tuyến, trong cuốn sách với tiêu đề “bảo mật, thông tin và công nghệ” (Solvone, 2006) có đề cập rằng khi xảy ra phá vỡ giữa sự bí mật thông tin khách hàng và tổ chức, bên phá vỡ sẽ phải bồi thường cho bên nạn nhân như một khoản đền bù cho sự phá vỡ niềm tin. 7 Feng Xu, 2013 cho rằng hệ thống bảo mật thông tin có sức ảnh hưởng nhất định đến quyết định cung cấp thông tin cá nhân của mình lên các trang mạng xã hội, điện tử và những hệ thống giao dịch khác. Ellison (2013) cũng chứng minh được vai trò điều tiết của chính sách bảo mật thông tin trong quá trình làm xóa dần đi mối quan hệ đánh đổi giữa tài nguyên xã hội và nguy cơ về an toàn thông tin cá nhân. Giải thích cho điều này, Ellison (2013) lập luận rằng tài nguyên xã hội là những lợi ích, lợi nhuận và tài sản thu được từ những hoạt động dựa trên các mối quan hệ xã hội dưới nhiều hình thức, để có thể kiếm được lợi ích tài nguyên xã hội thông qua các trang mạng xã hội, một cá nhân hay một tổ chức luôn phải đánh đổi những nguy cơ về bảo mật thông tin cá nhân do buộc phải tiết lộ thông tin cá nhân thực sự đồng thời phải chịu sự chú ý đến từ nhiều phía.
Fortes (2014) lại chỉ ra rằng bảo mật dữ liệu cá nhân là cơ sở để định hướng cho niềm tin, sự cảm nhận về rủi ro của khách hàng, sự cảm nhận về tính hữu ích, sự cảm nhận về tính dễ sử dụng và khả năng kiểm soát thông tin của bản thân. Năm yếu tố này lại có tác động trực tiếp đến ý định hành vi mua hàng của khách hàng. Nepomuceno đề nghị mức độ quan tâm đến bảo mật thông tin của khách hàng là nhân tố dung hòa mối quan hệ mâu thuẫn giữa tính phi hữu hình của sản phẩm hàng hóa trong quá trình sử dụng dịch vụ trên nền tảng trực tuyến và sự cảm nhận rủi ro của khách hàng. Các nghiên cứu trên đây tuy cùng có đối tượng nghiên cứu là như nhau nhưng lại hướng tác động và vai trò của nó đến những vấn đề khác nhau.
Có thể thấy vấn đề bảo mật thông tin chỉ có tầm ảnh hưởng nhỏ và chỉ đơn thuần là một vấn đề liên quan đến vấn đề an toàn thông tin, nhưng qua những bài nghiên cứu trên có thể thấy mức độ phủ sóng của nó có thể bao quát sang cả những vấn đề mang tính xã hội và kinh doanh. Tuy nhiên do cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế số mới chỉ trong giai đoạn phát triển trên toàn cầu nên bảo mật thông tin vẫn chỉ nhận được sự quan tâm một cách hạn chế đến từ một bộ phận có liên quan trong xã hội. Bản thân các nghiên cứu chỉ ra rằng sự nhận thức đến từ khách hàng hay đại bộ phận 8 những cá nhân sử dụng mạng trực tuyến vẫn còn rất hạn chế. Điều này tất yếu kéo theo sự thờ ơ của các doanh nghiệp có sử dụng những nền tảng bắt buộc phải duy trì hệ thống bảo mật thông tin ngay cả khi đã bắt đầu xuất hiện nhiều hơn một số luật định.
Trong tương lai khi mà thời kỳ kinh tế số bắt đầu nở rộ, vấn đề bảo mật chắc chắn sẽ nhận được sự quan tâm nhiều hơn và tiềm năng về mức độ ảnh hưởng của nó có thể khai thác được chắc chắn sẽ còn rộng hơn so với những nghiên cứu hiện tại rất nhiều. Chính vì vậy việc chuẩn bị, làm tốt công việc bảo mật để đón đầu xu thế đó là rất cần thiết trong lúc này.2 Tổng quan trong nước Công trình nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Đạt (2021) đã chứng minh nếu tính bảo mật của khách hàng có thể bị xâm phạm hoặc bị đánh cắp đe dọa đến việc họ bị tổn thất về tinh thần, tài chính sẽ làm họ gia tăng nhận thức rủi ro nhất là vào giai đoạn sự phát triển của công nghệ và hoạt động của các hackers. Hơn nữa, nếu khách hàng có một thái độ tốt đối với mua hàng trực tuyến thì việc ra quyết định mua trở nên dễ dàng hơn. Nghiên cứu về khía cạnh khác của bảo mật thông tin, nghiên cứu của Nguyễn Hồng Quân (2020) về bảo mật thông tin trong hoạt động marketing lan tỏa có đề cập rằng khi bảo mật thông tin tăng/giảm thì hành vi mua hàng của khách hàng cũng tăng/giảm theo.
Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc bảo mật thông tin để đảm bảo an toàn cho người chia sẻ thông tin và các thiết bị điện tử sử dụng trong quá trình chia sẻ thông tin. Hà Nam Khánh Giao (2022), bảo mật là mối quan tâm quan trọng trong tất cả các hoạt động liên quan đến internet. Ngoài ra cần tăng cường quảng bá và tác động đến tính bảo mật (Security), sao cho người dùng cảm thấy tin rằng thông tin giao dịch được giữ bí mật khi giao dịch trực tuyến.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu về các quy định liên quan tới bảo mật dữ liệu cá nhân.1 Tổng quan ngoài nước 9 Vào tháng 11 năm 2004, các Bộ trưởng APEC đã phê chuẩn “Những nguyên tắc cơ bản về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử của APEC” nhằm giúp các quốc gia thành viên có thể tự do trao đổi và lưu trữ các thông tin cá nhân của nhau mà vẫn có thể đảm bảo được sự an toàn và bí mật của các thông tin này (APEC, 2004). Văn bản này đưa ra chín nguyên tắc về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong thương mại điện tử, các nguyên tắc này đều nhấn mạnh vào các vấn đề cốt lõi đang nảy sinh có khả năng đe dọa đến ngành thương mại điện tử cùng với việc yêu cầu các nền kinh tế nên có một số biện pháp phòng ngừa chúng dựa trên chín nguyên tắc này, các biện pháp đó gồm có: Quy định trách nhiệm cụ thể đối với việc thu thập, sử dụng, chuyển giao dữ liệu cá nhân; nhà quản lý thông tin cá nhân phải có thông báo rõ ràng và dễ tiếp cận về chính sách và hoạt động thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; việc thu thập dữ liệu cá nhân phải được thực hiện bằng các phương thức đúng đắn, hợp pháp; dữ liệu cá nhân chỉ được sử dụng để đáp ứng các mục đích thu thập thông tin và các mục đích liên quan khác.
Tuy nhiên các quy định chỉ mang tính khuyến khích và làm tài liệu tham khảo cho các quốc gia thành viên và không có chế tài cụ thể xử phạt các hành vi làm sai so với quy định. Tại châu Âu cũng có quy định chung về việc thực hiện các biện pháp bảo mật thông tin cho các quốc gia thành viên cùng khối thông qua “Quy định bảo vệ dữ liệu chung (GDPR)”. GDPR chủ yếu nhắm đến việc kiểm soát các cá nhân và tổ chức tiếp cận dữ liệu cá nhân và thống nhất chung một quy định giữa các quốc gia thành viên nhằm đơn giản hóa thủ tục cũng như quy định trong môi trường kinh doanh quốc tế. GDPR 2016 có tổng cộng 11 chương với nội dung chủ yếu nêu lên các nguyên tắc, quy định trong việc chuyển giao dữ liệu thông tin cá nhân cho bên thứ 3 và các cơ quan có thẩm quyền, quyền sử dụng thông tin của chủ thể của dữ liệu cá nhân đó, trách nhiệm của bên kiểm soát và xử lý thông tin, trách nhiệm phối hợp để áp dụng các quy định giữa các nước thành viên và một điều cải tiến hơn so vs các quy định của APEC đó là các chế tài để xử phạt các hành vi vi phạm đến quyền lợi của chủ thể dữ liệu cá nhân.
10 Theo pháp luật Hoa Kỳ, không có luật chung trên phạm vi liên bang mà chỉ một số bang ban hành quy định bảo vệ thông tin cá nhân như bang Virginia, Colorado, California với Đạo luật quyền riêng tư của người tiêu dùng (CCPA) tôn trọng quyền riêng tư và bảo vệ người tiêu dùng. Điều 105, 110, 115, 120 Phần 3 Đạo luật cho phép các cư dân của bang thiết lập một cách chính xác việc dữ liệu cá nhân của họ được thu thập như thế nào và được sử dụng ra sao. Các bang khác đã có dự thảo luật hoặc đang trong quá trình thông qua bao gồm Ohio, Pennsylvania, New York, New Jersey, North Carolina, Massachusetts 10.