mở đầu cho tiến trình hiện đại hóa Lí luận văn học. Sự xuất hiện của trường phái này như một sự phủ định đối với chủ nghĩa chủ quan trong mĩ học truyền thống và cũng chính là hệ quả tất yếu của tư duy lí luận thế kỉ XX trước những đổi mới của thời đại. Trong các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ thơ, các nhà ngôn ngữ học đã có những nỗ lực lớn trong việc khám phá bản chất của chất liệu văn học, từ đó có cái nhìn đúng về bản chất của tác phẩm văn học và sự tiến triển của văn học. Như là cấu trúc ngôn từ động, văn bản là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ có đời sống riêng, với năng lượng ngữ nghĩa riêng, độc lập với tác giải của nó.
Những công trình nghiên cứu của Jakubinxky và Shklovski đã cho thấy rằng “có sự tồn tại một sự thực hành ngôn ngữ mà chức năng thông báo trực tiếp lùi ra phía sau, nói cách khác, trong thơ việc sử dụng các từ mang nghĩa không có vai trò quyết định”. Trong các công trình nghiên cứu của các nhà hình thức Nga, bên cạnh việc phân tích chi tiết sự khác biệt giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời sống là mối quan tâm của họ đến sự phát triển của văn học hay sự vận động của các hình thức văn học. Từ đây đối với các nhà hình thức 14 Nga, đối tượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là tính văn học. Theo các nhà lí thuyết Nga, nghiên cứu về bản chất ngôn ngữ thì không thể nói vê sự khác biệt giữa hình thức và nội dung Đối với họ, hình thức không phải là cái nồi để đổ nước (nội dung) vào.
Vì vậy đọc bài thơ hay không thể tách biệt giữa nội dung và nghệ thuật. Đặc trưng nghệ thuật không thể hiện qua những yếu tố nằm trong tác phẩm mà qua việc sử dụng một cách đặc trưng các yếu tố đó. Như vậy, khái niệm hình thức có được ý nghĩa mới mà không cần đến khái niệm nội dung bên cạnh. Trong công trình “Lí thuyết về phương pháp hình thức”, Eikhenbaum đã có những đánh giá công bằng và tự tin của một người trong cuộc về chặng đường 10 năm của chủ nghĩa hình thức Nga.
Ông đồng ý với Shklovxki rằng: “không nên lấy lí do văn học là sự diễn tả xã hội mà lẫn lộn lịch sử văn học và lịch sử nói chung. Đó là hai thứ khác nhau”. Chủ nghĩa hình thức Nga đánh giá cao lí luận vì coi đó là một giả thuyết để làm việc và nhờ nó mà người ta hiểu được những sự kiện văn học, bởi “trên thực tế, các nhà lí luận của chủ nghĩa hình thức Nga cũng đã có những đóng góp quan trọng trong việc khám phá những quy luật nội tại trong tác phẩm văn học như là trong cấu trúc ngôn từ động”[18]. Trong quan niệm của các nhà hình thức Nga, đối tượng của khoa học văn học không phải là văn học mà là “tính văn học”.
Bắt đầu bằng những nỗ lực của trường phái này trong việc nghiên cứu chất liệu văn học, tính văn học, lí luận văn học hiện đại thực sự quan tâm đến văn bản văn học như là trung tâm tạo nghĩa. Điều này cho thấy sự khác biệt giữa văn bản văn học như là đối tượng của phân tích cấu trúc và như là đối tượng của phân tích lịch sử. Lí luận văn học hiện đại đã hướng đến việc lí giải phương thức tồn tại của tác phẩm văn học, tính chủ ý và không chủ ý cũng như tính chất mở của văn bản nghệ thuật trong quan hệ với người đọc. Như là cấu trúc ngôn từ động, văn bản văn học là tập hợp các kí hiệu ngôn ngữ có đời sống riêng, với năng lượng ngữ nghĩa riêng, độc lập với tác giả của nó.
Cũng theo các nhà hình thức Nga thì ngôn ngữ là một thực thể có quyền lực, một thứ diễn ngôn có khả năng thâu tóm một thứ tri thức. Ngôn ngữ thơ ca là ngôn ngữ được lạ hóa tạo ra sự khác lạ về cách nói, khác lạ về hình ảnh sử dụng. Vì lẽ đó mà ngôn ngữ văn chương có khả năng tự động hóa. Liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và xã hội, theo Trương Đăng Dung chúng ta cần thiết phải nhắc đến các nhà khoa học xuất hiện ở chặng cuối của trường phái hình thức Nga và chủ nghĩa Marx, đó là các tên tuổi như: M.
Bakhtin và các đồng nghiệp của ông đã nghiên cứu 15 ngôn ngữ trong các tình huống xã hội và nhận thấy rằng “lời nói” luôn có tính đối thoại. Theo ông: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của cuộc sống con người. Sống tức là tham gia đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý….con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc đối thoại không bao giờ kết thúc” [21]. Theo Bakhtin, việc phổ cập tính hội thoại và phiếm thoại làm nên sự thống nhất của ngôn ngữ chứ không phải là lời nói cá thể hay các yếu tố sáng tạo của câu.
Như vậy, thông điệp của lời nói còn phụ thuộc vào người đối thoại chứ không chỉ phụ thuộc vào người phát ngôn. Quan điểm này của Bakhtin về tính đối thoại nội tại của lời nói không chỉ soi sáng những đặc điểm của ngôn ngữ tiểu thuyết mà còn giúp chúng ta có cái nhìn khoa học hơn về tác phẩm văn học nói chung. Tinh thần khoa học của trường phái hình thức Nga vẫn được các nhà khoa học tiếp tục phát huy. Đặc biệt có thể nhắc tới ở đây là trường phái Phê bình mới và Chủ nghĩa cấu trúc.
Derrida đã cho thấy những vấn đề cần xem xét lại trong quan niệm ngôn ngữ học hiện đại và chủ nghĩa cấu trúc. Cũng theo nhà nghiên cứu Trương Đăng Dung: ngay ở phần đầu của tác phẩm Văn học phạm, Derrida đã nói về sự giảm giá của từ, về sự lạm phát của kí hiệu ngôn ngữ. Derrida cho rằng ở nới sâu lắng của ngôn ngữ có một trò chơi liên tục di chuyển, trong khuôn khổ của sự di chuyển này các kí hiệu được tạo thành những hệ thống khác biệt, không ổn định rồi lại có những khác biệt mới xuất hiện, được tổ chức và sau đó tan rã. Ông nhấn mạnh rằng những khác biệt của ngôn ngữ là vô tận và không ổn định.
Derrida cũng cho rằng ý thức của người phát ngôn (tác giả) không hề có ưu thế vượt trội lên nghĩa của ngôn từ. Tác giả chỉ phát hiện được nghĩa của ngôn từ qua việc viết ra nó, hầu như nhà văn đối diện với những cái biểu đạt độc lập với anh ta. Cái biểu đạt tự nó nói nhiều hơn, kí hiệu được viết ra không phải là cái gửi đi mà chỉ là cái nhà văn nhận được. Nhà văn không nói ra điều gì bằng kí hiệu, mà chính việc sử dụng các kí hiệu tạo điều kiện để nhà văn có được sự đối thoại.
Derrida cho rằng những cái biểu đạt vĩ đại hơn rất nhiều so với những cái được biểu đạt, bởi vì hệ thống những cái biểu đạt phân chia cái thế giới đang có quanh ta, và rất nhiều điều sở dĩ không có đối với ta là vì chúng ta không có đủ cái biểu đạt để nói về chúng. Xuất phát từ quan điểm này, Derrida đã xem văn bản văn học là không khép kín, nghĩa của nó không tùy thuộc vào tác giả hay mối quan hệ với hiện thực. Việc đọc hết một văn bản văn học cũng tạo nghĩa như là việc viết ra nó, thậm chí tất cả sự viết thực ra cũng là đọc văn bản. Đến đây chúng ta thấy Derrida đã nâng vấn đề đọc lên tầm vấn đề triết học.
Với công trình Văn học 16 phạm, Derrida đã chỉ ra văn học là sự sử dụng ngôn ngữ đặc biệt, là biến thể của ngôn ngữ thường nhật.Ngôn ngữ văn học là ngôn ngữ tự do, nó cho phép mọi đặc điểm ngôn ngữ xuất hiện. Không thể xác định ngôn ngữ văn học bằng cách đối chứng nó với những đặc điểm của ngôn ngữ phi văn học. Derrida còn đặc biệt nhấn mạnh: Văn bản văn học vượt lên mọi định nghĩa về nó, tác phẩm văn học không phải là hình thức ngôn ngữ đặc trưng mà là hình thức đọc đặc trưng. Giống như sự tiếp nối, phát triển của chủ nghĩa hình thức Nga, trường phái Phê bình mới ra đời vào những năm 20 ở Anh và từng được xem là phương thức nghiên cứu tác phẩm văn học cơ bản ở Mĩ vào những năm 30-40.
Với những tên tuổi nổi tiếng qua các thế hệ của Phê bình mới như: Irot Armstrong, Richard, Thomas Sterns Eliot,John Crowe Ransom, Rene’Wellek…. Trường phái này cũng từ việc phê phán các phương pháp phê bình truyền thống đặt ra những vấn đề mới trong nghiên cứu văn học liên quan đến văn bản và giải thích văn bản. Họ cho rằng tác phẩm văn học như một khách thể ý thức độc lập, văn bản là đối tượng duy nhất của văn học. Văn bản chính là một cấu trúc ý nghĩa.
Văn bản được xem là một thực thể ngôn từ đầy bí ẩn, do vậy mục đích của phê bình là khám phá ý nghĩa của văn bản, là tìm ra các ẩn ý của ngôn từ đằng sau các mối quan hệ, các cấu trúc chứ không phải bản thân cấu trúc. Vì vậy phương pháp chủ yếu của Phê bình mới là “giải thích văn bản”. Nghĩa của tác phẩm có trong chính cấu trúc nội tại của ngôn từ, trong các yếu tố thuộc về hình thức tác phẩm, không phụ thuộc vào tác giả. Như vậy, trong quan niệm của họ các yếu tố như hiện thực, tác giả và cả vai trò của người đọc đều không được đặt ra ở đây.
Những quan điểm về tính tự trị của tác phẩm văn học vẫn tiếp tục được triển khai ở một phương diện khác của văn bản, đó là phương diện cấu trúc. Những quan điểm trên của trường phái Phê bình mới được thể hiện rõ hơn qua chủ nghĩa Cấu trúc. Thực chất chủ nghĩa Cấu trúc có mầm mống từ quan niệm ngôn ngữ học cấu trúc của Fedinand de Saussure, bắt đầu hình thành từ chủ nghĩa hình thức Nga những năm đầu thế kỉ XX nhưng phải đến giữa thế kỉ mới đạt được sự hoàn thiện như một hệ thống lí thuyết với các tên tuổi nổi tiếng như: Claude Levi-strauss và Roland Barthes thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu Pháp, Roman Jakobson (1896 - 1982) thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu Mĩ, Jan Murarovxki - đại diện lớn nhất của trường phái cấu trúc Praha, Iu.Lotman (1922 - 1993) thuộc trường phái cấu trúc kí hiệu Liên Xô.