Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học mang tên Sử thi Bahnar và số phận của nó trong xã hội đương đại do nghiên cứu sinh Lê Thị Thùy Ly thực hiện, tập trung khảo sát di sản sử thi của tộc người Bahnar (người bản tộc gọi là h’mon) tại khu vực Tây Nguyên dưới góc nhìn văn hóa học liên ngành.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Người Bahnar là một trong những cư dân bản địa cư trú lâu đời nhất tại vùng cao nguyên Nam Trung Bộ Việt Nam, sở hữu kho tàng văn hóa phi vật thể phong phú với các thiên sử thi mang đậm dấu ấn bản địa và nội sinh, hầu như không chịu ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại lai. Sau dấu mốc Đổi mới (năm 1986), sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế - xã hội, áp lực gia tăng dân số, biến đổi môi trường sinh thái và sự thâm nhập của các luồng văn hóa hiện đại đã dẫn đến sự giải thể cấu trúc văn hóa cổ truyền của người Bahnar ở nhiều mức độ khác nhau. Bối cảnh này đặt sự tồn tại tự nhiên của h'mon trước nguy cơ mai một và đặt ra câu hỏi về tương lai của loại hình di sản này.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra là: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận sử thi Bahnar ở góc độ thi pháp văn học thuần túy hoặc nghiên cứu riêng lẻ từng tác phẩm, từng địa bàn hẹp; việc nghiên cứu một cách có hệ thống về mối quan hệ biện chứng giữa h’mon với bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội trong quá khứ và hiện tại dưới góc độ văn hóa học liên ngành về cơ bản vẫn chưa được thực hiện toàn diện.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

  1. Mục tiêu nghiên cứu: Xác định bản chất của h’mon với tư cách là sản phẩm văn hóa của một bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể (xã hội truyền thống trước năm 1975), từ đó nhận diện và phân tích số phận, xu thế vận động của nó trong đời sống đương đại (từ sau năm 1986).
  2. Câu hỏi nghiên cứu: Đề tài giải quyết hai câu hỏi nghiên cứu trung tâm:
    • Câu hỏi 1: Sử thi Bahnar (h’mon) là gì xét trong mối quan hệ tương tác với bối cảnh lịch sử hình thành nó?
    • Câu hỏi 2: Sử thi Bahnar có số phận như thế nào trong bối cảnh xã hội đương đại?

Khái niệm công cụ

Văn bản luận án xác định ba khái niệm then chốt làm cơ sở thao tác luận:

  1. Sử thi Bahnar: Các sáng tác tự sự truyền miệng của người Bahnar chủ yếu xoay quanh nhân vật anh hùng Dăm Giông – hình tượng biểu tượng của cộng đồng tộc người trong lịch sử.
  2. Số phận: Sự sống, sự tồn tại cụ thể dành cho mỗi người hoặc mỗi sự vật trong môi trường thực tế.
  3. Xã hội đương đại: Xã hội của người Bahnar từ sau mốc Đổi mới (1986) đến nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu:
    1. Nội dung, hình thức và các vai trò xã hội của h’mon như là kết quả của sự tương tác giữa tác phẩm và bối cảnh lịch sử - xã hội hình thành nó.
    2. Sự sống và thực trạng tồn tại của h’mon trong đời sống cộng đồng người Bahnar ngày nay.
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum – địa bàn cư trú đông nhất của người Bahnar và là khu vực sưu tầm h’mon cơ bản từ trước đến nay. Mẫu khảo sát bao gồm các điểm thuộc vùng nông thôn, thành thị và vùng hỗn hợp.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đời sống của h'mon trong hai giai đoạn: xã hội truyền thống (trước năm 1975) và xã hội đương đại (từ sau năm 1986 đến nay).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu sử thi Tây Nguyên và sử thi Bahnar

Luận án hệ thống hóa lịch sử sưu tầm và nghiên cứu sử thi theo tiến trình lịch sử và phân nhóm học thuật:

Lịch sử sưu tầm và nghiên cứu sử thi Tây Nguyên (Phân kỳ theo Nguyễn Xuân Kính):
  1. Về sưu tầm tác phẩm:

    • Khởi đầu từ công bố Dăm Di của L. Antomarchi (1955), tiếp nối bởi các công trình của Kơxo Blêu, Ngọc Anh, Y Yung, Y Điêng (1963), Y Đứp và Nông Phúc Tước (1979), nhóm cán bộ Viện Văn hóa với H’mon Dăm Noi (1982), Kpay Meo và Hà Nam Tiến (1986), Ka Sô Liễng (1987, 1993, 2000, 2003), Đỗ Hồng Kỳ, Điểu Kâu, Tấn Vịnh (1993, 1994, 1996), Bùi Khắc Trường và Y Thi (1995), Nguyễn Văn Giai (1995), Niê Kđăm Linh Nga và Y Khem (1999), Hà Giao và cộng sự (2002, 2003, 2010), Phan Thị Hồng (1996, 1998, 2002), Vũ Ngọc Bình, Nguyễn Quang Tuệ, Văn Công Hùng, Trần Phong (2000, 2002).
    • Đỉnh cao là các ấn phẩm trong Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên (2004 - 2007) và Dự án Biên dịch, biên tập 25 sử thi Tây Nguyên (2009 - 2011) do Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp thực hiện.
  2. Về nghiên cứu lý luận và chuyên ngành:

    • Nghiên cứu khái quát vùng Tây Nguyên: Bùi Văn Nguyên (1975), Chu Thái Sơn và Nguyễn Chí Huyên (1992), Phan Đăng Nhật (1984, 1999), Võ Quang Nhơn (1997), Phạm Nhân Thành (2001, 2010), Ngô Đức Thịnh (2002, 2008), Lê Thị Thùy Ly (2007), Nguyễn Việt Hùng (2008), Trương Thông Tuần (2008), Phạm Văn Hóa (2010, 2012), Đỗ Hồng Kỳ (2010).
    • Nghiên cứu theo từng tộc người và tác phẩm: Đỗ Hồng Kỳ (1990, 1992, 1993, 1996, 2001, 2002, 2005, 2009), Phan Đăng Nhật (1986, 1991, 1998, 2005), Buôn Krông Tuyết Nhung (2010), Phạm Đặng Xuân Hương (2007), Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009), Nguyễn Việt Hùng (2011, 2013), Chu Xuân Diên (1960), Lê Văn Khoa (1982).
    • Nghiên cứu chuyên sâu về sử thi Bahnar:
      • Tiếp cận chuyên ngành văn học: Phan Thị Hồng (1995, 2003, 2006, 2012) khảo sát hệ thống nhân vật, ngôn ngữ, cốt truyện và biến thái cốt truyện; Phan Đăng Nhật (2005), Võ Quang Trọng, Nguyễn Việt Hùng, Phan Hoa Lý, Ngô Đức Thịnh (2008) định danh h’mon là "sử thi liên hoàn", "sử thi kết chuỗi" hay "sử thi liên hợp"; Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2001) nghiên cứu đề tài chiến tranh và hòa bình; Lê Thị Thùy Ly (2008, 2009) vận dụng lý thuyết cấu trúc - ký hiệu học phân tích trần thuật, cốt truyện và nhân vật.
      • Tiếp cận liên ngành văn hóa: Công trình Folklore Bahnar (1988) của Tô Ngọc Thanh và cộng sự đã tiếp cận h’mon trong tính nguyên hợp (lời, nhạc, không gian diễn xướng ảo).
      • Tiếp cận ứng dụng và bảo tồn: Tô Ngọc Thanh (2008) phân tích sự giải thiêng môi trường diễn xướng; Nguyễn Quang Tuệ (2008, 2010) đề xuất mô hình bảo tàng thu nhỏ và cảnh báo thực trạng suy giảm nghệ nhân; Phan Đăng Nhật và Chu Xuân Giao (2010) khảo sát thực trạng tiếp nhận sử thi tại huyện Kon Chro (Gia Lai).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tập trung vào khía cạnh thẩm mỹ, thi pháp ngôn từ của văn bản tác phẩm hoặc mới dừng lại ở khảo sát ứng dụng tại một địa bàn đơn lẻ. Luận án đặt mục tiêu bao quát cả hai bình diện: phân tích bản chất h’mon gắn liền với phương thức sản xuất của xã hội truyền thống và đánh giá toàn diện sự biến đổi, xu thế vận động của nó trong môi trường đương đại trên địa bàn rộng lớn (Gia Lai và Kon Tum).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết Duy vật lịch sử (Historical Materialism) của Karl Marx: Luận án vận dụng quan điểm về mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng (phương thức sản xuất vật chất) và kiến trúc thượng tầng (ý thức xã hội, thiết chế, nghệ thuật). Nền tảng sản xuất vật chất và quan hệ sản xuất đóng vai trò quyết định đối với sự hình thành, nội dung và chức năng của các sản phẩm văn hóa như sử thi.
  2. Lý thuyết Duy vật văn hóa của Marvin Harris: Bổ sung góc nhìn về sự chi phối của phương thức sản xuất, công nghệ và môi trường sinh thái đối với đời sống tinh thần và cách thức con người thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn căn bản.
  3. Quan điểm về mối quan hệ giữa văn học và xã hội của Theodor W. Adorno: Xem xét mối quan hệ hai chiều: tác động của hoàn cảnh xã hội đối với sự hình thành tác phẩm nghệ thuật và vị trí, ảnh hưởng của tác phẩm trở lại đối với đời sống xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành của văn hóa học, kết hợp các thao tác định tính chuyên sâu:

  • Khảo sát văn bản tác phẩm: Đối chiếu, so sánh nội dung các văn bản sử thi đã sưu tầm với các tư liệu dân tộc học, lịch sử.
  • Quan sát điền dã: Ghi nhận trực tiếp môi trường sống, không gian sinh hoạt văn hóa và thực trạng diễn xướng tại cộng đồng.
  • Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn nghệ nhân, người bản tộc và trí thức địa phương nhằm thu thập nhận thức, quan niệm, thái độ và tâm tư của chủ thể văn hóa.
  • Phân tích - tổng hợp tài liệu: Xử lý các nguồn tài liệu thứ cấp, số liệu thống kê dân số học và kết quả nghiên cứu liên quan.
  • Lưu ý về phương pháp: Tác giả không sử dụng điều tra định lượng bằng bảng hỏi vì điều tra định tính có ưu thế trong việc nắm bắt chiều sâu tâm lý, cảm xúc và quan niệm của chủ thể văn hóa.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản các bản dịch và song ngữ của hơn 100 tác phẩm h’mon đã sưu tầm, xuất bản.
  • Dữ liệu dân tộc chí về người Bahnar của các học giả: P. Guilleminet, Nguyễn Kinh Chi - Nguyễn Đổng Chi, Đặng Nghiêm Vạn, Bùi Minh Đạo.
  • Số liệu thống kê chính thức từ Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009.
  • Tư liệu điền dã thực tế tại Gia Lai và Kon Tum do tác giả trực tiếp thực hiện.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu

Chương này tập trung phác họa bức tranh tổng thể về tộc người chủ thể, môi trường sinh thái, đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa cổ truyền của người Bahnar và cơ sở phương pháp luận của đề tài.

1. Dân tộc học và bối cảnh cư trú của tộc người Bahnar

Người Bahnar thuộc nhóm loại hình Indonedien (chủng Mongoloid phương Nam), nói ngôn ngữ nhánh Mon - Khmer. Dân số theo Tổng điều tra năm 2009 là 227.716 người.

Tỉnh thành Dân số người Bahnar (năm 2009) Địa bàn cư trú chủ yếu
Gia Lai 150.416 người Huyện Mang Yang, Kon Chro, Kbang, An Khê, Chư Sê, Đắc Đoa, A Yun Pa Ku
Kon Tum 53.997 người Thành phố Kon Tum, huyện Đắc Hà, Kon Plông, Đắc Tô, Kon Rẫy
Bình Định 18.175 người Huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Ân, Tây Sơn
Phú Yên 4.145 người Huyện Đồng Xuân, Sông Hinh, Sơn Hòa

Về phân nhóm địa phương, theo công trình dân tộc chí của Bùi Minh Đạo và cộng sự (2006), người Bahnar gồm ít nhất 8 nhóm: Tơlô, Krem, Vân Canh, Thồ Lồ, Gơ Lar, Kon Tum, Jơlơng và Rơngao.

2. Môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội truyền thống

  • Môi trường tự nhiên: Địa hình gồm thung lũng (châu thổ sông Đắc Bla, Pô Kô, sông Ba, sông A Yun), cao nguyên (Kông Hà Nừng, Pleiku) và vùng núi (He Reng, Mang Yang, Kon Chro, Kon Plông). Ba nhóm đất chính: đất bazan, đất phù sa và đất granite. Khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa chia hai mùa mưa - khô rõ rệt.
  • Đời sống kinh tế: Nền kinh tế nương rẫy chiếm vị trí chủ đạo với chu trình luân khoảnh kín (canh tác một năm rồi bỏ hóa phục hồi mươi năm); chăn nuôi gia súc (trâu, bò, dê) thả rông hoặc nửa thả rông; nghề thủ công gồm đan lát (nam giới) và dệt vải (nữ giới); khai thác tự nhiên qua săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá; thương nghiệp cổ truyền mang tính tự cung tự cấp, trao đổi bằng hiện vật.
  • Đời sống xã hội: Đơn vị tổ chức cơ bản là làng (plei) độc lập, điều hành bởi chủ làng do dân cử, hội đồng già làng và thủ lĩnh quân sự; liên minh quân sự giữa các làng gọi là t’ring. Thiết chế gia đình gồm các đại gia đình nhiều thế hệ sống trong nhà dài, dòng họ song hệ, nguyên tắc ngoại hôn dòng họ tương đối (phân biệt họ gần 1 - 3 đời và họ xa từ đời thứ 4).
  • Đời sống văn hóa: Tín ngưỡng vạn vật hữu linh với hệ thống nghi lễ nông nghiệp, vòng đời và cộng đồng; sinh hoạt văn hóa mùa khô gắn với lễ bỏ mả, đâm trâu, diễn tấu cồng chiêng, nghệ thuật múa thiêng, điêu khắc nhà rông, tượng gỗ nhà mồ và kho tàng văn học dân gian phong phú.
Mô hình tổ chức làng Bahnar truyền thống:

Chương 2. Sử thi Bahnar - sản phẩm văn hóa đặc thù của xã hội truyền thống

Chương 2 phân tích bản chất của h’mon như sự phản chiếu điều kiện vật chất của xã hội truyền thống (xã hội cộng sản chưa chuyên môn hóa trước năm 1975) cả ở nội dung, hình thức lẫn các chức năng xã hội.

1. Nội dung và hình thức của sử thi Bahnar

  • Xung đột quân sự và người anh hùng chiến trận:
    • Nguyên nhân và tính chất chiến trận: Các cuộc chiến trong h’mon bắt nguồn từ tranh đoạt của cải, phụ nữ, trả thù (Giông đánh hạ nguồn cứu dân làng, Set xuống đồng bằng thăm bạn, Chàng Kơ Tam Gring Mah). Đây là phản ánh hiện thực của thời kỳ "dân chủ quân sự", nơi các làng độc lập xung đột thường xuyên để tự vệ và tranh chấp tài nguyên.
    • Tổ chức buôn làng thời chiến: Buôn làng trong sử thi được miêu tả như các pháo đài quân sự hóa toàn diện ("bảy vòng rào sắt, tám vòng rào đá", hầm chông, hào bẫy, nhà rông kiên cố có lỗ châu mai).
    • Hình tượng người anh hùng Dăm Giông: Nhân vật trung tâm kết tinh toàn bộ sức mạnh thể chất và phẩm chất đạo đức của thị tộc, mang tầm vóc vũ trụ, luôn chiến đấu và hy sinh vì sự an nguy của cộng đồng; xã hội tuy có phân hóa chức năng thủ lĩnh nhưng chưa có sự phân tầng giai cấp áp bức.
  • Lao động và người anh hùng văn hóa:
    • Sử thi phản ánh chân thực các hoạt động mưu sinh nương rẫy, săn bắn, hái lượm, đánh bắt thủy sản (Giông săn trâu rừng, Giông dẫn các cô gái đi xúc cá).
    • Hình tượng Dăm Giông đóng vai trò là "người anh hùng văn hóa" (theo khái niệm của V. Gusev và E. Meletinsky): người khai hoang núi đồi, dạy dân làng kỹ thuật làm rẫy, tích trữ lương thực để cứu đói cộng đồng (Giông kết bạn với Glaih Phang, Giông cứu đói dân làng mọi nơi), biểu trưng cho quá trình tích lũy kinh nghiệm chinh phục tự nhiên của tộc người.
  • Vai trò của người phụ nữ:
    • Phụ nữ trong h’mon không chỉ là nguyên cớ chiến tranh mà trực tiếp tham gia chiến đấu, giải bùa phép và sát cánh cùng các anh hùng (Rang Năr trong Giông đánh hạ nguồn cứu dân làng, Bia Lùi trong Giông đánh quỷ Bung Lung), phản ánh dấu ấn còn lưu giữ của thiết chế mẫu hệ.
  • Hình thức nghệ thuật:
    • Kết cấu dạng "sử thi liên hoàn chắp đoạn": gồm nhiều tiểu phẩm độc lập xoay quanh hệ thống nhân vật chung.
    • Phương thức biểu đạt: Sử dụng ngôn ngữ công thức kể tả ước lệ, cấu trúc xen kẽ văn vần và văn xuôi đối xứng cặp.
    • Nghệ thuật diễn xướng nguyên hợp: Tích hợp giữa lời kể, làn điệu ngâm vịnh và không gian diễn xướng ảo trong đêm tại nhà rông hoặc bếp lửa gia đình.

2. Vai trò xã hội của sử thi Bahnar

  1. Vai trò liên kết cộng đồng: Cố kết các thành viên trong buôn làng, nuôi dưỡng ý thức tự hào thị tộc và củng cố sự thống nhất xã hội trước hiểm họa ngoại xâm và thiên tai.
  2. Vai trò bảo lưu và cung cấp kinh nghiệm hoạt động thực tiễn: Hoạt động như một "bách khoa thư dân gian", lưu giữ tri thức canh tác thời vụ, kỹ thuật nông nghiệp khô, kỹ năng săn bắn, ứng xử xã hội và phong tục tập quán.
  3. Vai trò giáo dục đạo đức và thẩm mỹ: Định hình các chuẩn mực đạo đức (lòng dũng cảm, đức hy sinh, sự trung thực, tình nghĩa gia đình) và nuôi dưỡng thị hiếu thẩm mỹ truyền thống của cộng đồng.

Chương 3. Kết thúc hình thức tồn tại vốn có - số phận của sử thi Bahnar trong xã hội đương đại

Chương 3 luận giải thực trạng và xu thế biến đổi của h’mon khi các tiền đề lịch sử - xã hội sản sinh ra nó đã thay đổi căn bản.

1. Con đường từ quá khứ đến hiện tại của sử thi Bahnar

  • Sự thay đổi cơ sở hạ tầng kinh tế: Việc định canh định cư, mở rộng diện tích cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu) và ruộng nước đã thay thế phương thức luân khoảnh kín; sự suy giảm diện tích rừng làm chấm dứt các hoạt động săn bắn tập thể và hái lượm truyền thống; kinh tế hàng hóa và tiền tệ thay thế lối sống tự cấp tự túc.
  • Sự biến đổi cấu trúc xã hội - văn hóa:
    • Làng không còn là một đơn vị kinh tế - quân sự khép kín; xuất hiện tình trạng xen cư với các dân tộc khác; thiết chế chính quyền hành chính cơ sở thay thế quyền lực tuyệt đối của già làng.
    • Đại gia đình nhà dài chuyển dần sang gia đình hạt nhân; hôn nhân ngoại tộc gia tăng.
    • Sự xâm nhập của các tôn giáo mới và phương tiện truyền thông đại chúng khiến tín ngưỡng vạn vật hữu linh suy giảm, làm phai nhạt tính "thiêng" của không gian văn hóa cổ truyền.
Sự chuyển đổi bối cảnh văn hóa - xã hội của sử thi Bahnar:

2. Tình hình bảo tồn, khai thác và phát huy di sản

  • Không gian diễn xướng tự nhiên của h’mon (đêm kể sử thi tại nhà rông bên bếp lửa) hầu như không còn tồn tại trong đời sống thường nhật.
  • Đội ngũ nghệ nhân già yếu và qua đời nhanh chóng; thế hệ trẻ không còn mặn mà với việc học hát kể do rào cản thời gian và sự cạnh tranh của các hình thức giải trí mới.
  • Các dự án sưu tầm và xuất bản đã lưu giữ được khối lượng tư liệu văn bản đồ sộ, nhưng việc đưa tác phẩm trở lại đời sống cộng đồng gặp nhiều khó khăn, thiếu tính bền vững nếu cố gượng ép tái hiện môi trường cổ xưa.

3. Xu thế vận động và định hướng bảo tồn, phát huy

  • Luận án khẳng định sự kết thúc hình thức tồn tại vốn có (sinh hoạt truyền khẩu tự nhiên) của h'mon là quy luật tất yếu mang tính lịch sử khi nền tảng kinh tế - xã hội tương ứng đã giải thể.
  • Đề xuất các giải pháp ứng xử thực tế:
    1. Chuyển hướng bảo tồn: Chuyển từ ảo tưởng "phục dựng nguyên vẹn môi trường diễn xướng cổ truyền" sang hình thức bảo tồn di sản tư liệu (ghi âm, ghi hình có hệ thống, số hóa, xây dựng hồ sơ khoa học nghệ nhân).
    2. Thành lập thiết chế chuyên trách: Thiết lập bộ phận chuyên trách về di sản văn hóa dân gian thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Hội Văn học nghệ thuật địa phương.
    3. Xây dựng không gian trưng bày/bảo tàng thu nhỏ: Trưng bày tư liệu sách, băng đĩa, phim ảnh, công cụ biểu diễn để phục vụ nghiên cứu và giáo dục cộng đồng.
    4. Truyền dạy có trọng điểm: Chỉ tổ chức truyền dạy cho những cá nhân thực sự có năng khiếu và nguyện vọng, duy trì việc trình diễn sử thi như một loại hình nghệ thuật biểu diễn dân gian định kỳ thay vì dàn trải đại trà.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án vận dụng nhất quán và chính xác lý thuyết duy vật lịch sử của Karl Marx và duy vật văn hóa của Marvin Harris vào nghiên cứu văn hóa học, chứng minh rằng sự biến đổi của nền tảng kinh tế - vật chất quyết định sự chuyển hóa và số phận của các hình thái ý thức xã hội, cụ thể là thể loại sử thi.
  2. Luận án góp phần xác lập cách nhìn nhận khoa học về thể loại của h’mon như một hệ thống "sử thi liên hoàn chắp đoạn", giải thích thỏa đáng sự tồn tại của hàng loạt tiểu phẩm độc lập nhưng gắn kết quanh trục biểu tượng nhân vật Dăm Giông.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Đưa ra đánh giá khách quan về thực trạng di sản: Nhận định thẳng thắn về sự kết thúc tất yếu của hình thức tồn tại truyền thống của h'mon, loại bỏ tư duy bảo tồn hình thức, duy ý chí.
  2. Cung cấp luận cứ thực tiễn cho cơ quan quản lý văn hóa địa phương (Gia Lai, Kon Tum) trong việc xây dựng chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể: ưu tiên lưu trữ tư liệu học thuật, bảo tàng hóa di sản và tổ chức trình diễn nghệ thuật có chọn lọc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Địa bàn khảo sát thực tế mới tập trung chủ yếu tại hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum, chưa thể bao quát sâu các cộng đồng Bahnar ở vùng ven biển và chuyển tiếp như Bình Định và Phú Yên (các nhóm Bahnar Kriêm, Vân Canh, Thồ Lồ).
  • Khâu thẩm định thể loại đối với toàn bộ hơn 100 tác phẩm h'mon đã sưu tầm vẫn phụ thuộc vào tiến độ công bố và hiệu đính của các dự án sưu tầm văn bản học cấp quốc gia.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi điền dã so sánh đời sống h’mon giữa các nhóm địa phương Bahnar khác nhau, đặc biệt là nhóm Bahnar vùng giáp ranh đồng bằng.
  • Đi sâu nghiên cứu văn bản học, thi pháp học đối với các dị bản h’mon mới được phiên âm và dịch nghĩa trong giai đoạn gần đây.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo về phương pháp tiếp cận liên ngành văn hóa học trong nghiên cứu văn học dân gian và nhân học văn hóa; cung cấp khung phân tích về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và thượng tầng văn hóa.
  • Đối với nhà quản lý văn hóa và cán bộ chính sách: Cung cấp bức tranh thực tế về đời sống di sản phi vật thể tại Tây Nguyên, hỗ trợ xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về bảo tồn văn hóa thiểu số đúng trọng tâm, tránh lãng phí nguồn lực vào các dự án phục dựng hình thức.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Nội dung đối chiếu giữa tư liệu dân tộc học và văn bản sử thi trong Chương 2; các đề xuất chuyển đổi mô hình bảo tồn di sản trong Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Nhân vật trung tâm trong sử thi Bahnar (h’mon) là ai và mang những biểu tượng gì?

Nhân vật trung tâm trong hầu hết các thiên sử thi Bahnar là Dăm Giông. Dăm Giông vừa là biểu tượng của người anh hùng chiến trận (sức mạnh thể chất, tài năng quân sự, lòng dũng cảm bảo vệ buôn làng), vừa là người anh hùng văn hóa (chỉ dẫn dân làng làm rẫy, khai hoang, cứu đói cộng đồng).

2. Dân số và địa bàn cư trú của người Bahnar được ghi nhận theo số liệu nào trong luận án?

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 được trích dẫn trong văn bản, dân số Bahnar là 227.716 người. Cư trú tập trung nhiều nhất tại tỉnh Gia Lai (150.416 người), tiếp theo là Kon Tum (53.997 người), Bình Định (18.175 người) và Phú Yên (4.145 người).

3. Cấu trúc thể loại của sử thi Bahnar được xác định như thế nào trong luận án?

Luận án xác định h’mon là dạng "sử thi liên hoàn mang tính chắp đoạn". Các đơn vị truyện nối tiếp nhau không theo quy luật ngẫu nhiên hay xác suất nghiêm ngặt; mỗi truyện đơn có tính độc lập tương đối cao nhưng đều nằm trong một chỉnh thể hệ thống xoay quanh nhân vật Dăm Giông và cộng đồng của chàng.

4. Vì sao tác giả khẳng định hình thức tồn tại vốn có của h’mon đã kết thúc?

Vì các điều kiện lịch sử - xã hội sản sinh ra nó (nền kinh tế nương rẫy luân khoảnh kín, buôn làng công xã tự trị, môi trường rừng nguyên sinh và không gian sinh hoạt văn hóa nguyên hợp mang tính thiêng của tín ngưỡng vạn vật hữu linh) đã bị thay thế bởi nền sản xuất hàng hóa, tổ chức hành chính hiện đại và các phương tiện truyền thông nghe nhìn mới.

5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào cho công tác bảo tồn sử thi Bahnar hiện nay?

Luận án đề xuất tập trung vào bảo tồn di sản tư liệu (ghi âm, ghi hình chất lượng cao, số hóa, lập hồ sơ nghệ nhân), thành lập tổ chuyên trách văn hóa dân gian tại địa phương, xây dựng bảo tàng/không gian trưng bày thu nhỏ và chỉ tổ chức truyền dạy có chọn lọc cho người có năng khiếu thay vì phục dựng môi trường diễn xướng đại trà.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Thùy Ly là công trình văn hóa học liên ngành nghiên cứu toàn diện về bản chất và biến đổi của sử thi Bahnar (h’mon) trong tiến trình lịch sử. Bằng việc vận dụng lý thuyết duy vật lịch sử, luận án đã làm rõ h’mon là sản phẩm văn hóa phản chiếu sinh động cơ cấu kinh tế - xã hội truyền thống của tộc người Bahnar trước năm 1975. Đồng thời, công trình chỉ ra sự kết thúc tất yếu của hình thức diễn xướng nguyên hợp tự nhiên của di sản này trong bối cảnh xã hội đương đại từ sau năm 1986. Những luận điểm khoa học và đề xuất bảo tồn tư liệu của luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật cũng như hoạch định chính sách văn hóa tại khu vực Tây Nguyên.