Chương 1. Tổng quan về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu; Chương 2. Sử thi Bahnar - sản phẩm văn hóa đặc thù của xã hội truyền thống; Chương 3. Kết thúc hình thức tồn tại vốn có - số phận của sử thi Bahnar trong xã hội đương đại.
5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. VÀI NÉT VỀ TỘC NGƢỜI CHỦ THỂ CỦA SỬ THI BAHNAR 1. Quá trình lịch sử tộc ngƣời Người Bahnar thuộc nhóm loại hình Indonedien của chủng Mongoloid phương Nam [46, tr. 19 - 20], là dân tộc nói ngôn ngữ Mon - Khmer lớn nhất ở Nam Trung Bộ và thứ hai ở Việt Nam, hiện sinh sống tập trung trên một vùng lãnh thổ cơ bản là cao nguyên và núi rộng gần 1 vạn km2 ứng với tọa độ 13000 - 15000 vĩ Bắc, 107040 - 109000 kinh Đông (bao gồm một phần tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định và Phú Yên).
Số liệu của Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 [110] cho biết, dân số Bahnar hiện nay là 227. Trong đó, tỉnh Gia Lai có 150.416 người, cư trú chủ yếu tại các huyện Mang Yang, Kon Chro, Kbang, An Khê, Chư Sê và A Yun Pa Ku; tỉnh Kon Tum có 53.997 người, cư trú chủ yếu tại thành phố Kon Tum và các huyện Đắc Hà, Kon Plông, Đắc Tô; tỉnh Bình Định có 18.175 người, cư trú chủ yếu tại các huyện Vĩnh Thạnh, Vân Canh, Hoài Ân và Tây Sơn; tỉnh Phú Yên có 4.145 người, cư trú chủ yếu tại các huyện Đồng Xuân, Sông Hinh và Sơn Hoà. Dân tộc Bahnar là sự tập hợp của một số nhóm địa phương mà cách xác định trong các công trình nghiên cứu là không hoàn toàn giống nhau. Guilleminet (1952) nói tới 07 nhóm: “Alakong”, “Tolo”, “Bơnơm”, “Gơlar”, “Jơlong”, “Kontum” và “Rơngao” [32, tr.
Nguyễn Hữu Thấu (1960) tuy cũng nêu lên những cái tên này nhưng ngoài ra còn nhắc đến “Krem”, “Vân Canh” và “Bằng Hường” là những nhóm chịu ảnh hưởng của người Chăm và Kinh [97, tr. Lê Thị Ái (1969) bổ sung “Rơngao” ở phía bắc thị xã 6 Kon Tum1 là bộ phận trung gian giữa người Bahnar với Xơđăng và “Kriêm” ở phía bắc huyện An Khê là bộ phận Bahnar lai Chăm [1, tr. Fromme (1966), có tham khảo người đi trước, thì liệt kê: “Alakong”, “Bonam”, “Golar”, “Ho Drong”, “Jo Long”, “Kon Ko De”, “Kon Tum” và “To Sung” [173, tr. Con số lớn nhất được đưa ra có lẽ là của Cửu Long Giang và Toan Ánh (1974) với “Bahnar Kon Tum”, “Bahnar Jolong”, “Bahnar Golar”, “Bahnar Tosung”, “Bahnar Konkođe”, “Bahnar Alatanag”, “Bahnar Alakong”, “Bahnar Tolotenil”, “Bahnar Bơnom”, “Bahnar Roh”, “Bahnar Krem”, “Bahnar Chàm” và “Bahnar But” [30, tr.
Ngược lại, Đặng Nghiêm Vạn và cộng sự (1981) giới thiệu một sự phân loại giản lược hơn hẳn chỉ với 05 nhóm là “Công Tum”, “Tồlồ”, “Gơlar”, “Rơngao”, “Giơlơng” và “Krem” [124, tr. Còn trong cuốn dân tộc chí gần đây nhất về người Bahnar vào năm 2006, chủ biên Bùi Minh Đạo và các đồng tác giả “căn cứ vào ý kiến của chính người bản tộc” cho biết rằng nó có ít nhất 08 nhóm, bao gồm: 1. “Tơlô”, cư trú ở huyện Kon Chro và huyện An Khê, tỉnh Gia Lai; 2. “Krem”, cư trú ở huyện Vĩnh Thạnh, An Lão, Hoài Ân và Tây Sơn, tỉnh Bình Định, một số ít ở huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; 3.
“Vân Canh”, cư trú ở huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định; 4. “Thồ Lồ”, cư trú ở huyện Đồng Xuân, Sơn Hoà và Sông Hinh, tỉnh Phú Yên; 5. “Gơ Lar”, cư trú ở các huyện Mang Yang, Đắc Đoa và Chư Sê, tỉnh Gia Lai, một phần ở quanh thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; 6. “Kon Tum”, cư trú ở thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum; 7.
“Jơlơng”, cư trú ở quanh thành phố Kon Tum và huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; và 8. “Rơngao”, cư trú tại thành phố Kon Tum và huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum [26, tr. 1 Nay là thành phố. 7 Người Bahnar được xem là dân tộc bản địa1 của Tây Nguyên.
Giới nghiên cứu ở Việt Nam cho đến nay vẫn ủng hộ giả thuyết rằng tộc người này vốn sinh sống tại vùng trung Tây Nguyên nhưng đã bị các tộc người nói ngôn ngữ Nam Đảo nhập cư sau từng bước khống chế và đẩy lên phía bắc. Ngoài ra, Đặng Nghiêm Vạn và Ngô Vĩnh Bình còn cung cấp thêm thông tin đáng chú ý: “Một số tư liệu rời rạc thoáng qua cho ta thấy xưa kia họ có thể ở đồng bằng và họ là một cư dân cổ xưa được người Chàm ghi trong bia kí của mình là Mađa cư trú ở vùng ven biển Nghĩa Bình” [124, tr. Lịch sử tộc người Bahnar, có thể nói, gắn liền với lịch sử các dân tộc Tây Nguyên. Theo các tác giả Dân tộc Bahnar ở Việt Nam, sau nhiều thế kỉ tự trị, vùng đất của người Bahnar cũng như nhiều dân tộc Tây Nguyên khác2 rơi vào phạm vi ảnh hưởng của Champa trong khoảng thời gian từ giữa thế kỉ XII đến giữa thế kỉ XV.
Còn từ cuối thế kỉ XV - sau khi Lê Thánh Tông chinh phạt thắng lợi vương quốc này - đến cuối thế kỉ XVIII, địa bàn sinh sống của họ lại phần nào chịu ảnh hưởng bởi các cuộc xung đột giữa Lào và Thái Lan. Cuối thế kỉ XVIII, một bộ phận người Bahnar thuộc An Khê, Kbang và Kon Chro ngày nay đã tham gia phong trào Tây Sơn chống chúa Nguyễn do anh em Nguyễn Nhạc làm thủ lĩnh. Đến nửa đầu thế kỉ XIX, vùng đất của người Bahnar và các tộc người Tây Nguyên khác trở thành phiên quốc của nhà Nguyễn, với các tên “Trấn man”, “Thuộc quốc”, “Thuỷ vương quốc”, “Hỏa vương quốc”. Từ cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XX, nó nằm dưới sự quản lí của thực dân Pháp [26, tr.
Tuy nhiên, dù trải qua những biến thiên lịch sử nhất định trong mười thế kỉ qua, cơ cấu kinh tế - xã hội cổ truyền của người Bahnar cho đến trước Cách mạng tháng Tám là khá bền vững. Sau 1 Cụm từ “dân tộc bản địa” (khác với “dân tộc tại chỗ”) được dùng với nghĩa phân biệt người Bahnar với những dân tộc cũng sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên nhưng không sớm bằng. 2 Ngay từ thế kỉ thứ X sau Công nguyên, vùng đất của các dân tộc Tây Nguyên đã gần trùng với địa bàn cư trú của họ vào đầu thế kỉ XX [72, tr. 8 hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ kéo dài 30 năm1, tộc người này đã trở thành thành viên của đại gia đình các dân tộc Việt Nam thống nhất vào năm 1975.
Đặc điểm môi trƣờng tự nhiên của nơi cƣ trú Về địa hình, nơi cư trú của người Bahnar là vùng thấp nằm ở phía đông, bao gồm ba huyện An Khê, Kbang và Kon Chro của tỉnh Gia Lai, phần miền núi của hai tỉnh Bình Định, Phú Yên và vùng cao nằm ở phía tây, bao gồm các huyện Đắc Đoa, Mang Yang của tỉnh Gia Lai, thành phố Kon Tum cùng các huyện Đắc Hà, Kon Rẫy và Kon Plông của tỉnh Kon Tum. Cả hai vùng đều được tạo nên bởi thung lũng, cao nguyên và núi. Địa hình thung lũng nhìn chung bằng phẳng, bao gồm: thung lũng Kon Tum, châu thổ của sông Đắc Bla, sông Pô Kô thuộc thành phố Kon Tum và huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum; thung lũng sông Ba nằm ở ven sông Ba, thuộc các huyện Kbang, An Khê và Kon Chro, tỉnh Gia Lai; thung lũng ven sông A Yun, thuộc các huyện Đắc Đoa, Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Địa hình cao nguyên, tương đối bằng phẳng, bao gồm cao nguyên Kông Hà Nừng thuộc các huyện Kbang, An Khê, một phần cao nguyên Pleiku thuộc các huyện Đắc Đoa, Mang Yang, Chư Sê, tỉnh Gia Lai và huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum.
Địa hình núi bao gồm các núi cao, trung bình và thấp, nằm rải rác trong vùng như He Reng, Mang Yang, Kon Chro, Kon Plông. Đất đai ở khu vực cư trú của người Bahnar bao gồm ba nhóm chính: nhóm đất bazan chủ yếu phân bố ở cao nguyên, tập trung tại các huyện Đắc Đoa, Mang Yang, tỉnh Gia Lai và huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum, rất thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp như chè, hồ tiêu, cà phê, cao su.; nhóm đất phù sa phân bố ở ven các sông Ba, Đắc Bla, Pô Kô và A Yun, thích hợp 1 Do đến tận đầu thế kỉ XX toàn quyền Pháp ở Đông Dương mới ra nghị định sáp nhập Tây Nguyên vào Việt Nam, ý thức “về quốc gia, quốc thổ” của người dân Tây Nguyên là “mới mẻ” và “chủ yếu có được qua hai cuộc kháng chiến cứu nước trong thế kỉ XX” [24, tr. 105] 9 cho việc phát triển lúa nước, các loại cây lương thực và cây thực phẩm; và nhóm đất granite nằm trên các đồi núi, thích hợp cho việc phát triển kinh tế lâm nghiệp [26, tr. Khí hậu tại nơi cư trú của người Bahnar, giống như toàn Tây Nguyên nói chung, mang tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa với nhiều tiểu vùng khác nhau.
Một năm có hai mùa rất rõ rệt là mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 3), trong đó mùa mưa ở các huyện phía đông Nam Trung Bộ bắt đầu và kết thúc muộn hơn do chịu ảnh hưởng của khí hậu đồng bằng. Điều kiện khí hậu này đã đem đến cho người Bahnar một hệ động thực vật đặc biệt phong phú, trong đó có hàng chục loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam hoặc Đông Dương [26, tr. Nguồn nước cũng được xem là một tiềm năng lớn cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người Bahnar, bao gồm nguồn nước mưa, nước mặt và nước ngầm. Nguồn nước mưa chiếm tỉ trọng cao nhất, tuy nhiên phân bố không đều; tiếp đó là nguồn nước mặt, được tạo thành từ hệ thống sông chảy về phía tây gồm sông Pô Kô và sông Đắc Bla cùng hệ thống sông chảy về phía đông gồm sông Ba và sông A Yun; cuối cùng là nguồn nước ngầm, khá lớn, có độ sâu 4 - 5 m vào mùa mưa và 12 - 15 m vào mùa khô [26, tr.
Đời sống kinh tế - xã hội 1. Đời sống kinh tế Các hoạt động mưu sinh chủ yếu của người Bahnar là trồng trọt, chăn nuôi, làm nghề thủ công, khai thác và trao đổi các nguồn lợi tự nhiên. Về khía cạnh trồng trọt, người Bahnar - cũng như các dân tộc Tây Nguyên nói chung - là cư dân nương rẫy. Đất rẫy của mỗi hộ gia đình bao gồm đất đương canh và hưu canh: mỗi đám rẫy được canh tác một năm rồi bỏ hoá, sau khoảng mươi năm khi độ màu của đất phục hồi và rừng đã kịp mọc thì 10 khai thác trở lại.