Tổng quan nghiên cứu

Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh là một trong những khu rừng đặc dụng trọng yếu của vùng Đông Bắc Việt Nam. Khu bảo tồn sở hữu tổng diện tích tự nhiên 15.593,81 ha, bao gồm 12.949,7 ha thuộc phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, 2.609,11 ha phân khu phục hồi sinh thái và 35 ha khu dịch vụ hành chính. Hệ sinh thái tại đây lưu giữ nguồn đa dạng sinh học phong phú với 485 loài thực vật bậc cao có mạch và 249 loài động vật có xương sống trên cạn, trong đó có 30 loài động vật và 5 loài thực vật được ghi danh trong Sách đỏ Việt Nam.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tiễn khu bảo tồn chịu áp lực lớn từ các hoạt động nhân sinh của cộng đồng cư dân vùng đệm. Địa bàn có 1.930 hộ gia đình với 8.504 nhân khẩu sinh sống tại 22 thôn bản thuộc 5 xã lân cận, trong đó đồng bào dân tộc Dao chiếm tới 82% dân số và tỷ lệ hộ nghèo bình quân toàn vùng lên đến 18,29%. Do nguồn thu nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nương rẫy tự cấp tự túc và khai thác lâm sản trái phép, tài nguyên rừng đang đối mặt với nguy cơ xâm hại thường trực.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là phân tích thực trạng công tác quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2012 - 2014, đánh giá vai trò của cộng đồng, nhận diện các nhân tố thúc đẩy và cản trở sự tham gia của người dân tại hai xã trọng điểm Đồng Sơn và Đồng Lâm. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc để chuyển đổi từ cơ chế quản lý rừng đóng kín sang mô hình đồng quản lý rừng có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 4 khung lý thuyết và quan điểm khoa học liên ngành. Thứ nhất là quan điểm tiếp cận hệ thống, nhìn nhận mối quan hệ giữa tài nguyên rừng và sinh kế cộng đồng như một thể thống nhất biện chứng; các tác động kinh tế và xã hội của người dân trực tiếp quyết định sự biến đổi của hệ sinh thái tự nhiên. Thứ hai là quan điểm sinh thái - nhân văn, phân tích các hành vi can thiệp vào tài nguyên rừng dưới góc độ thích ứng văn hóa, phong tục tập quán và nhu cầu sinh tồn của đồng bào vùng cao.

Thứ ba là lý thuyết bảo tồn gắn liền với phát triển do Gilmour và Nguyễn Văn Sản đề xuất năm 1999, bao gồm 3 trụ cột tiếp cận: tạo sinh kế thay thế để giảm áp lực lên rừng, nâng cao mức sống kinh tế nông thôn và tăng cường sự tham gia của người dân vào quy hoạch quản lý tài nguyên. Thứ tư là thang đo mức độ tham gia gồm 7 cấp bậc của Hosley đưa ra năm 1996, trải dài từ tham gia vận động thụ động đến tự huy động và tổ chức quản lý. Luận văn vận dụng các khái niệm nền tảng bao gồm quản lý rừng dựa vào cộng đồng, rừng đặc dụng, phân khu phục hồi sinh thái, sinh kế bền vững và tri thức bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ hệ thống văn bản pháp lý quốc gia (Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004, Nghị định 117/2010/NĐ-CP, Quyết định 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ) cùng số liệu sơ cấp thu thập trực tiếp ngoài hiện trường trong giai đoạn điều tra năm 2012 - 2014.

Quy mô chọn mẫu khảo sát hiện trường đạt 120 hộ gia đình, phân bổ đều tại 4 thôn bản đặc trưng: thôn Khe Lèn, thôn Đồng Trà (xã Đồng Lâm) và thôn Tân Ốc 1, bản Khe Táo (xã Đồng Sơn). Phương pháp chọn mẫu áp dụng là lấy mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo tiêu chí địa hình, thành phần dân tộc (dân tộc Dao và dân tộc Kinh) và 3 mức phân loại kinh tế gia đình gồm hộ khá, trung bình và nghèo.

Quy trình thu thập thông tin ứng dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) với các công cụ chủ lực: phiếu điều tra bảng hỏi bán định hướng đối với 120 chủ hộ, tổ chức 8 cuộc thảo luận nhóm tập trung (quy mô từ 5 đến 7 thành viên mỗi nhóm), phân tích thể chế tổ chức cộng đồng và phỏng vấn sâu cán bộ quản lý hạt kiểm lâm. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này nhằm thu thập toàn diện cả dữ liệu định lượng về kinh tế hộ và dữ liệu định tính về văn hóa, thể chế; đồng thời bảo đảm tính khách quan thông qua đối chiếu và kiểm tra chéo thông tin.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tài nguyên rừng tại khu bảo tồn có độ che phủ đạt trên 80% với tổng diện tích đất có rừng là 14.157,7 ha. Trong đó, rừng tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối với 13.777,7 ha (tương đương 93,83% đất có rừng), rừng trồng chỉ chiếm 873,3 ha (tương đương 6,17%). Rừng giàu và trung bình chiếm 29,35%, rừng nghèo chiếm 13,54%, phần còn lại là rừng phục hồi, tre nứa và hỗn giao chiếm 50,94%. Điều này cho thấy khu bảo tồn sở hữu tiềm năng phục hồi sinh thái rất cao nhưng cấu trúc rừng còn dễ bị tổn thương.

Thứ hai, đời sống kinh tế của cư dân vùng đệm phụ thuộc sâu sắc vào rừng nhưng đang đối mặt với nghèo đói nghiêm trọng. Toàn vùng có 1.930 hộ thì có 353 hộ nghèo (chiếm 18,29%) và 365 hộ cận nghèo. Tỷ lệ nghèo tại xã Đồng Lâm lên tới 26,58% và xã Đồng Sơn là 20,04%. Tổng diện tích đất sản xuất lúa nước chỉ đạt 342,66 ha, sản lượng lương thực quy thóc bình quân đạt 210 kg/người/năm, khiến khoảng 2.252 người rơi vào tình trạng thiếu đói lương thực từ 3 đến 4 tháng mỗi năm.

Thứ ba, sự xung đột về quyền sử dụng đất và nơi cư trú diễn ra phức tạp do còn 34 hộ dân sinh sống ngay trong vùng lõi bảo vệ nghiêm ngặt (22 hộ tại xã Đồng Sơn, 10 hộ tại xã Đồng Lâm). Các hộ này đã định cư và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trước khi thành lập khu bảo tồn năm 2002.

Thứ tư, mức độ tham gia của cộng đồng vào quản lý bảo vệ rừng mới dừng lại ở cấp độ 3 trong thang đo 7 bậc của Hosley, tức là hình thức tham gia cung cấp thông tin và tư vấn thụ động. Đa số người dân chỉ tham gia các đợt tuyên truyền hoặc nhận khoán bảo vệ rừng ngắn hạn mà chưa được chia sẻ quyền ra quyết định, hưởng lợi ích kinh tế lâu dài hay tự chủ tổ chức tuần tra.

Thảo luận kết quả

Thực trạng suy thoái tài nguyên rừng cục bộ bắt nguồn từ vòng luẩn quẩn giữa nghèo đói và áp lực sinh kế. Để trực quan hóa các mối liên hệ này, dữ liệu nghiên cứu có thể được thể hiện qua biểu đồ tròn phản ánh cơ cấu thành phần dân tộc (với 82% người Dao) và bảng ma trận thể chế mô tả mức độ ảnh hưởng của các đoàn thể như Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ trong công tác bảo vệ rừng. Khi so sánh với các mô hình quản lý rừng cộng đồng tại Vườn quốc gia Pù Mát (Nghệ An) hay dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà (Sơn La, Lai Châu), nghiên cứu tại Đồng Sơn – Kỳ Thượng cho thấy tính tương đồng về sự gắn bó hữu cơ của đồng bào thiểu số với rừng.

Tuy nhiên, điểm đặc thù tại đây là địa hình chia cắt mạnh bởi đỉnh Am Váp cao 1.051 m và Thiên Sơn cao 1.090 m, giao thông sạt lở vào mùa mưa lũ khiến khả năng tuần tra của lực lượng kiểm lâm mỏng gặp rất nhiều hạn chế. Việc thiếu các chính sách chia sẻ lợi ích từ lâm sản ngoài gỗ khiến người dân chưa có động lực nội tại để bảo vệ rừng, dẫn đến tình trạng khai thác trộm gỗ, săn bắt thú và thu hái thảo dược tự phát.

Đề xuất và khuyến nghị

Nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy sự tham gia chủ động của cộng đồng trong công tác quản lý và bảo vệ rừng:

Một là, nhóm giải pháp kinh tế và sinh kế bền vững. Ban quản lý khu bảo tồn cần phối hợp với chính quyền địa phương triển khai giao khoán bảo vệ 13.777,7 ha rừng tự nhiên theo nhóm hộ và thôn bản; áp dụng định mức chi trả dịch vụ môi trường rừng thỏa đáng. Phát triển các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp dưới tán rừng như trồng dược liệu bản địa (ba kích, trà hoa vàng), khai thác có kiểm soát nhựa trám, mật ong rừng và tre nứa. Mục tiêu cụ thể là tăng thêm 25% đến 30% thu nhập kinh tế từ rừng cho 353 hộ nghèo, giải quyết triệt để tình trạng thiếu đói giáp hạt trong giai đoạn 3 năm.

Hai là, nhóm giải pháp xã hội và thể chế cộng đồng. Tiến hành rà soát, bổ sung và thể chế hóa 22 bản quy ước, hương ước bảo vệ rừng tại tất cả các thôn bản thuộc 5 xã vùng đệm. Tôn vinh và phát huy tối đa vai trò của già làng, trưởng bản và người có uy tín trong cộng đồng người Dao. Lồng ghép các điều khoản cấm phá rừng, săn bắt động vật hoang dã vào luật tục truyền thống; đồng thời củng cố hoạt động của các tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng tự quản trong thời gian 12 tháng.

Ba là, nhóm giải pháp kỹ thuật, hạ tầng và truyền thông. Hoàn thiện hệ thống ranh giới rõ ràng ngoài thực địa với 140 cọc mốc và 10 bảng nội quy; ứng dụng công nghệ định vị GPS và phần mềm GIS trong giám sát rừng có sự tham gia của người dân địa phương. Tăng cường tập huấn kỹ thuật phòng cháy chữa cháy rừng, cung cấp cây giống lâm nghiệp chất lượng cao để phủ xanh 1.479,9 ha đất trống đồi trọc và nương rẫy bỏ hóa.

Bốn là, nhóm giải pháp cơ chế chính sách. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh cần sớm xây dựng phương án đền bù thỏa đáng, quy hoạch tái định cư hoặc chuyển đổi sinh kế bền vững cho 34 hộ dân đang sinh sống trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt theo đúng tinh thần Quyết định 24/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, Ban quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và lực lượng Kiểm lâm địa phương. Luận văn cung cấp khung phương pháp đánh giá sự tham gia của cộng đồng và các giải pháp phân định ranh giới, hỗ trợ nâng cao hiệu lực tuần tra quản lý rừng đặc dụng trên thực tế.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý tài nguyên môi trường cấp tỉnh, huyện và xã. Tài liệu này là căn cứ thực tiễn quan trọng để xây dựng quy hoạch 3 loại rừng, thiết kế các chương trình giảm nghèo gắn với giao đất giao rừng và phê duyệt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và tổ chức quốc tế (như WWF, IUCN, UNDP). Luận văn mang lại bộ dữ liệu khảo sát chi tiết về kinh tế - xã hội và tập quán đồng bào dân tộc Dao, giúp thiết kế các dự án can thiệp phát triển sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học đạt hiệu quả cao.

Thứ tư, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học và Xã hội học nông thôn. Đây là tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách thức kết hợp phương pháp điều tra có sự tham gia (PRA) với lý thuyết kinh tế - sinh thái nhân văn trong nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính khiến người dân vùng đệm xâm nhập khai thác rừng trái phép là gì? Nguyên nhân chủ yếu do nghèo đói và thiếu đất canh tác. Với 18,29% hộ nghèo và sản lượng lương thực chỉ đạt 210 kg/người/năm, có tới 2.252 người thiếu đói từ 3 đến 4 tháng mỗi năm. Khai thác gỗ, củi, săn bắt thú và thu hái lâm sản ngoài gỗ là phương thức sinh tồn bắt buộc của nhiều gia đình.

Luận văn đã sử dụng cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu như thế nào để bảo đảm tính đại diện? Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 120 hộ gia đình tại 4 thôn bản thuộc 2 xã Đồng Sơn và Đồng Lâm. Phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên được áp dụng, bảo đảm đại diện đầy đủ các nhóm hộ khá, trung bình, nghèo cũng như hai thành phần dân tộc chính là dân tộc Dao (chiếm 82%) và dân tộc Kinh.

Tại sao sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn hiện nay mới dừng ở mức độ thấp? Theo thang đo Hosley năm 1996, sự tham gia của người dân mới ở cấp độ 3 (tham vấn cung cấp thông tin). Người dân chưa được trực tiếp tham gia lập kế hoạch, thiếu quyền quyết định và cơ chế chia sẻ lợi ích tài chính minh bạch, dẫn đến thái độ tham gia còn mang tính đối phó và thụ động.

Vấn đề 34 hộ dân sinh sống trong vùng lõi khu bảo tồn gây ra những khó khăn gì? Các hộ này sở hữu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp được cấp trước khi thành lập khu bảo tồn năm 2002. Do chưa có kinh phí đền bù giải tỏa và di dời, người dân tiếp tục canh tác nương rẫy và trồng rừng sản xuất, gây xung đột pháp lý trực tiếp với quy chế bảo vệ nghiêm ngặt.

Các giải pháp đề xuất trong luận văn có tính khả thi trong bao lâu và do ai thực thi? Các giải pháp kinh tế và xã hội được thiết kế theo lộ trình từ 1 đến 3 năm, do Ban quản lý khu bảo tồn chủ trì phối hợp chặt chẽ với Chi cục Kiểm lâm Quảng Ninh, Ủy ban nhân dân huyện Hoành Bồ và chính quyền 5 xã vùng đệm triển khai thực hiện.

Kết luận

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Trang đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu nghiên cứu với 5 kết luận cốt lõi sau:

  • Xác định diện tích tự nhiên 15.593,81 ha của Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng sở hữu 14.157,7 ha rừng có giá trị đa dạng sinh học cao nhưng đang chịu áp lực nặng nề từ các hoạt động dân sinh.
  • Làm rõ nguyên nhân sâu xa của các tác động tiêu cực đến rừng bắt nguồn từ tỷ lệ nghèo đói 18,29% và tình trạng thiếu lương thực của 2.252 cư dân vùng đệm.
  • Chứng minh thực trạng 34 hộ dân sinh sống hợp pháp trong vùng lõi là điểm nghẽn pháp lý và quản lý cần được ưu tiên tháo gỡ.
  • Đánh giá khách quan mức độ tham gia của cộng đồng bản địa hiện mới đạt cấp độ 3 (tham vấn thụ động), chưa khai thác được tiềm năng tự quản của 22 thôn bản.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp hài hòa giữa bảo tồn sinh thái và cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc Dao.

Về lộ trình thực hiện, các cơ quan chức năng cần hoàn thành việc rà soát hương ước thôn bản và cắm 140 mốc ranh giới trong năm đầu tiên; tiếp đó triển khai các hợp đồng giao khoán rừng và mô hình sinh kế dược liệu trong vòng 24 đến 36 tháng tiếp theo. Đây là công trình khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao, kêu gọi sự chung tay phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, nhà khoa học và cộng đồng địa phương vì sự phát triển bền vững của tài nguyên rừng Việt Nam.