Nghiên cứu dọc sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội từ 11 đến 13 tuổi

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội từ 11 đến 13 tuổi, cung cấp thông tin quý giá cho ngành nha khoa.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Răng Hàm Mặt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ Y học

2018

199
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội

Nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội từ 11 đến 13 tuổi là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực y học và nha khoa. Đầu mặt và cung răng là những yếu tố quyết định đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Việc hiểu rõ về sự phát triển này giúp các bác sĩ có thể đưa ra những phương pháp điều trị và can thiệp kịp thời, đảm bảo sức khỏe răng miệng cho trẻ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin về kích thước và hình thái của đầu mặt mà còn giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cung răng.

1.1. Đặc điểm phát triển đầu mặt ở độ tuổi 11 đến 13

Đầu mặt của trẻ em trong độ tuổi từ 11 đến 13 có sự thay đổi rõ rệt về kích thước và hình thái. Sự phát triển này không chỉ liên quan đến sự tăng trưởng của xương mà còn ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường và di truyền. Nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn này, sự phát triển của đầu mặt diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là ở các vùng như hàm trên và hàm dưới.

1.2. Tình trạng cung răng của học sinh Hà Nội

Cung răng của học sinh Hà Nội trong độ tuổi này thường gặp nhiều vấn đề như lệch lạc, thiếu răng hoặc răng mọc không đều. Những vấn đề này có thể ảnh hưởng đến khả năng nhai và phát âm của trẻ. Việc theo dõi và đánh giá tình trạng cung răng là rất cần thiết để có những can thiệp kịp thời.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về sự phát triển đầu mặt và cung răng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thu thập và phân tích dữ liệu. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt dữ liệu chuẩn cho từng độ tuổi và giới tính. Điều này dẫn đến khó khăn trong việc so sánh và đánh giá sự phát triển giữa các nhóm học sinh khác nhau. Ngoài ra, việc áp dụng các phương pháp nghiên cứu hiện đại cũng gặp nhiều khó khăn do thiếu thiết bị và công nghệ.

2.1. Thiếu dữ liệu chuẩn cho từng độ tuổi

Việc thiếu dữ liệu chuẩn cho từng độ tuổi và giới tính gây khó khăn trong việc đánh giá sự phát triển đầu mặt và cung răng. Các bác sĩ thường phải dựa vào các chỉ số từ các nghiên cứu ở nước ngoài, điều này không phản ánh chính xác tình trạng của học sinh Việt Nam.

2.2. Khó khăn trong việc áp dụng công nghệ mới

Nhiều phương pháp nghiên cứu hiện đại như chụp CT Conebeam hay phần mềm phân tích hình ảnh chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam. Điều này làm giảm độ chính xác trong việc đánh giá sự phát triển đầu mặt và cung răng của học sinh.

III. Phương pháp nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng

Để nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng, các phương pháp nghiên cứu đa dạng đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm chụp phim sọ nghiêng, đo kích thước cung răng và phân tích hình thái. Việc sử dụng các công nghệ hiện đại giúp nâng cao độ chính xác và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu.

3.1. Chụp phim sọ nghiêng

Chụp phim sọ nghiêng là một trong những phương pháp chính để đánh giá sự phát triển đầu mặt. Phương pháp này cho phép xác định các chỉ số quan trọng như chiều cao mặt, chiều rộng cung răng và các góc giữa các cấu trúc xương.

3.2. Đo kích thước cung răng

Đo kích thước cung răng được thực hiện thông qua việc lấy dấu và đổ mẫu. Phương pháp này giúp xác định các chỉ số như chiều dài, chiều rộng và chu vi cung răng, từ đó đánh giá tình trạng phát triển của răng miệng.

IV. Kết quả nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội từ 11 đến 13 tuổi có nhiều đặc điểm nổi bật. Các chỉ số đầu mặt và cung răng có sự thay đổi rõ rệt theo độ tuổi, cho thấy sự phát triển nhanh chóng trong giai đoạn này. Những kết quả này có thể được sử dụng làm cơ sở để xây dựng các chỉ số chuẩn cho trẻ em Việt Nam.

4.1. Các chỉ số đầu mặt và cung răng

Các chỉ số đầu mặt và cung răng được xác định trong nghiên cứu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các độ tuổi. Những chỉ số này có thể giúp các bác sĩ trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị cho trẻ.

4.2. Xu hướng phát triển theo độ tuổi

Xu hướng phát triển đầu mặt và cung răng cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ trong giai đoạn từ 11 đến 13 tuổi. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc theo dõi sự phát triển của trẻ trong giai đoạn này.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Nghiên cứu sự phát triển đầu mặt và cung răng ở học sinh Hà Nội từ 11 đến 13 tuổi đã cung cấp nhiều thông tin quý giá. Những kết quả này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về sự phát triển của trẻ mà còn hỗ trợ các bác sĩ trong việc chẩn đoán và điều trị. Tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu để cập nhật và hoàn thiện các chỉ số phát triển cho trẻ em Việt Nam.

5.1. Tầm quan trọng của nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc xây dựng các chỉ số chuẩn cho từng độ tuổi và giới tính, từ đó giúp nâng cao chất lượng điều trị trong lĩnh vực nha khoa.

5.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cần được áp dụng vào thực tiễn để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe răng miệng cho trẻ em, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của sự phát triển đầu mặt và cung răng.

23/07/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu dọc sự phát triển của đầu mặt và cung răng ở một nhóm học sinh hà nội từ 11 đến 13 tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Những hiểu biết về sự tăng trưởng đầu mặt hiện nay. Ngày nay, có rất nhiều giả thuyết về sự tăng trưởng của các tác giả khác nhau như: Weimann và Sicher, thuyết khung chức năng của Moss [19],[20],[21],[22]. Nhưng thuyết bồi xương và tiêu xương của Enlow ngày nay được nhắc tới nhiều.

Enlow và Hans (1996), đã thực hiện NC từ nhỏ đến trưởng thành và đã chứng minh được rằng sự tăng trưởng đầu - mặt không đồng nhất về mức độ, tốc độ và cả thời gian. NC của ông cũng cho kết quả, xương tăng trưởng kéo theo sự tăng trưởng của mô mềm, các mô quanh xương tác động trở lại sự tăng trưởng của xương [23],[24],[25]. Theo Brodie [26], mẫu tăng trưởng sọ mặt được thiết lập rất sớm và sau đó là những thay đổi về tỷ lệ. Downs và Ricketts [27],[28] cho rằng sự thay đổi theo tuổi của một số góc và kích thước theo một quá trình tuần tự và dần dần.

Hellman [29] phát biểu “trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ lại, mà là kết quả của sự tăng trưởng”, sự tăng trưởng - được hiểu là sự gia tăng kích thước; sự phát triển - được hiểu là sự tiến triển dần dần tới tình trạng sau cùng, thể hiện qua những thay đổi hình dạng, vị trí, thành phần và cả kích thước. Sự lớn lên dần dần của sọ mặt là quá trình tăng trưởng “không đồng bộ” trong đó mỗi thành phần trưởng thành ở những thời điểm, chiều hướng, mức độ khác nhau nên tạo lên sự khác nhau về hình dạng và kích thước sọ mặt qua các thời kỳ. Các tác giả đều thống nhất quan niệm có sự khác nhau về tốc độ tăng trưởng của các thành phần sọ mặt. Những thay đổi sọ mặt qua các thời kỳ [30].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ chế của quá trình tăng trưởng. Cơ chế của sự tăng trưởng vẫn còn là một vấn đề phức tạp, tính phức tạp này xuất phát từ sự đa dạng của các thành phần sọ, mỗi thành phần vừa có sự phát triển “độc lập”, vừa có sự phối hợp trong quá trình tăng trưởng. Sự tăng trưởng của sụn.

Theo Scott xương lớn lên là do sự tăng sinh của các tế bào nằm bên trong sụn và sự cốt hóa dần dần, khớp sụn có vai trò khởi đầu sự tăng trưởng. Các vùng có sự tăng trưởng nhiều từ sụn là nền sọ, vách mũi và đầu lồi cầu [31],[32]. Sự hình thành xương từ sụn [30]. Theo Brodie [26], sự tạo thành xương ở đầu lồi cầu là nguyên nhân làm XHD di chuyển xuống dưới và ra trước.

Sự tăng trưởng lồi cầu XHD [3],[30]. Sự tăng trưởng của mô liên kết giữa các khớp. Các đường khớp xương tuy có kích thước nhỏ, nhưng có ở cả ba chiều không gian, nên sự bồi đắp xương ở nơi này mới là cơ chế chính của sự tăng trưởng, giúp sọ phát triển theo tất cả các hướng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Các đường khớp, các thóp vùng sọ mặt [1]. Khớp dọc giữa) Theo Brodie [33], các khớp giữa các xương của mặt và sọ song song với nhau, nên sự tăng trưởng của mô liên kết giữa các khớp này khiến mặt và hàm dưới di chuyển xuống dưới và ra trước so với nền sọ. Sự đắp và tiêu xương bề mặt. Sự đắp xương bề mặt khiến xương dầy lên.

Vì vậy, để xương không quá dầy, nhưng đủ cứng là sự tiêu xương ở bề mặt đối diện [3],[34],[35]. Tăng trưởng theo cách này có rất nhiều xương trong đó có xương sọ. Chính sự gia tăng khối lượng não bên trong làm tiêu xương ở mặt trong và đắp xương ở mặt ngoài. Hai hiện tượng này giúp khối xương sọ gia tăng kích thước theo ba chiều trong không gian, nhưng không làm tăng trọng lượng của xương sọ.

Sự tăng trưởng xương sọ mặt qua các giai đoạn [35]. Biểu hiện của quá trình tăng trưởng. Quá trình tăng trưởng của xương trong phức hợp sọ - mặt được thể hiện qua hai hiện tượng chủ yếu: Sự dịch chuyển, sự xoay. Sự dịch chuyển của các xương thành phần: Có hai loại dịch chuyển trong quá trình tăng trưởng của sọ - mặt đó là tái tạo hình và chuyển chỗ.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Sự tái tạo hình: Sự tái tạo hình là quá trình trong đó các xương tăng trưởng bằng cách “đắp thêm” chất xương mới lên trên một bề mặt xương và/ hoặc “tiêu đi” của mô xương trên một bề mặt khác giúp xương gia tăng kích thước, định vị lại trong không gian và tuân theo nguyên tắc sau: + Bề mặt: Mặt tương ứng hướng tăng trưởng thì bồi xương. Nguyên tắc bề mặt trong tăng trưởng [3]. [(+) chỉ vùng đắp xương, (-) chỉ vùng tiêu xương] + Chữ V: Đúng với xương hình chữ V, tiêu xương mặt ngoài, bồi phía trong. Nguyên tắc chữ V trong tăng trưởng [3].

[(+) chỉ vùng đắp xương, (-) chỉ vùng tiêu xương] - Sự chuyển chỗ: Sự chuyển chỗ là kết quả của sự tăng trưởng không đồng đều của các xương kế cận nhau. Do có sự tiếp xúc nên các xương này bị dịch chuyển thụ động. Điển hình của sự chuyển chỗ này là sự chuyển chỗ của XHT, nền sọ tăng trưởng làm đẩy HT ra trước và xuống dưới [3]. Sự chuyển chỗ của XHT do tăng trưởng nền sọ [3].

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Phối hợp sự tái tạo hình và chuyển chỗ: Quá trình này diễn ra ở hầu hết các xương, các xương vừa tăng trưởng vừa chịu ảnh hưởng của các xương xung quanh cũng đang lớn dần lên. Sự xoay trong tăng trưởng. - BjÖrk và cộng sự [36], đã sử dụng các mảnh cấy ghép đặt trong xương hàm, đặt vào những vùng xương ổn định cách xa các mấu chức năng, sau đó tiến hành chụp phim sọ nghiêng. Khi chập các phim sọ nghiêng theo đường tham chiếu là nền sọ (SN), tác giả phát hiện ra sự xoay của xương hàm trong khi chúng dịch chuyển do tăng trưởng.

Dựa vào sự thay đổi vị trí mảnh cấy ghép để xác định hướng tăng trưởng và mức độ sự xoay trong tăng trưởng. Theo tác giả có hai loại xoay: + Xoay bên trong: Sự xoay xẩy ra bên trong lõi của xương hàm, thường có khuynh hướng bị che lấp bởi sự thay đổi bề mặt xương và sự mọc của các răng. + Xoay bên ngoài: Do sự thay đổi bề mặt xương tạo nên. Sự xoay bên trong và sự xoay bên ngoài hợp nhất với nhau tạo ra sự xoay chung của xương hàm.

- Isaaccson và cộng sự [37], nhận thấy lồi cầu có hướng tăng trưởng lên trên và ra trước, chính điều này đã làm cho XHD xoay trong quá trình tăng trưởng. Vị trí tâm xoay tùy thuộc tỉ lệ di chuyển của các phần, vì vậy tâm xoay có thể thay đổi, hiện tượng xoay mang tính động lực của sự tăng trưởng. Ngược lại, theo Schudy [38], sự xoay là kết quả của sự tăng trưởng. Vị trí tâm xoay XHD [30].

- Lavergne và Gasson [39]. Trong nghiên cứu của mình các tác giả này đã phân thành hai loại xoay trong tăng trưởng: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 + Sự xoay vị trí: Là sự xoay hoàn toàn của HD so với những điểm, đường, mặt phẳng tham chiếu ở nền sọ. + Sự xoay hình thể: Là khả năng thay đổi hình dạng của HD so với đường cắm ghép. Theo Rowe và cộng sự [40] “sự xoay hình thể có thể thay đổi dưới tác động của các lực và các khí cụ chỉnh hình, là bằng chứng có giá trị về hiệu quả điều trị”.

Mức độ tăng trưởng của lồi cầu do yếu tố di truyền quyết định nhưng nhà lâm sàng có thể tác động đến chiều hướng tăng trưởng.  Sự xoay của xương Hàm trên: Đối với XHT không dễ dàng chia thành xương trung tâm và các mấu chức năng. Tuy nhiên, nếu đặt các mảnh cấy ghép ở trên mấu xương ổ răng HT, có thể quan sát thấy vùng trung tâm XHT xoay nhẹ, hướng ra trước hoặc ra sau. Sự xoay ra trước sẽ làm nghiêng các răng cửa trên ra trước làm tăng chiều dài cung răng, trong khi sự xoay ra sau làm cho các răng cửa đứng thẳng hơn và làm giảm độ nhô (làm giảm chiều dài cung răng) [3],[36].

Sự xoay xương hàm trên thông qua chồng phim [3].  Sự xoay của xương hàm dưới: Sự xoay XHD ra xa XHT trong quá trình tăng trưởng tạo khoảng trống cho các răng mọc lên. XHD xoay xuống dưới và ra trước [30]. Kiểu xoay của xương hàm khi tăng trưởng ảnh hưởng rõ đến cường độ mọc răng, ảnh hưởng đến hướng mọc răng và vị trí sau cùng của các răng cửa.

Có hai kiểu xoay. - Xoay lên trên và ra trước: Trong kiểu mặt ngắn, làm tăng mức độ cắn phủ, gây nên tình trạng cắn sâu, sự dịch chuyển của các răng về phía mặt lưỡi so với nền LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 XHT và XHD sẽ làm tăng khuynh hướng răng chen chúc cho dù trong quá trình tăng trưởng các răng đều di chuyển ra trước cùng với sự di chuyển ra trước của xương hàm. XHD xoay lên trên và ra trước [30]. - Xoay xuống dưới và ra sau (hướng mở): Trong kiểu mặt dài, kiểu xoay này kết hợp với cắn hở phía trước (nếu độ trồi răng cửa không đủ bù trừ) và gây lùi xương hàm dưới (vì cằm xoay ra sau và xuống dưới).

Chiều cao tầng mặt dưới và góc mặt phẳng hàm dưới sẽ tăng. Sự xoay của XHD cũng đưa các răng cửa hướng ra trước, làm vẩu răng. XHD xoay xuống dưới và ra sau [30]. Sự tăng trưởng của phức hợp sọ mặt.

Sự tăng trưởng của nền sọ. Theo NC của Bjork [36], tốc độ tăng trưởng của nền sọ trước theo cùng tốc độ tăng trưởng chung cơ thể. Sự tăng trưởng sau khi sinh cho đến tuổi trưởng thành của nền sọ trước là do hoạt động của khớp trán - mũi, sự gia tăng kích thước của xoang trán và sự đắp xương ở bề mặt xương trán và xương mũi. Nền sọ giữa được đo từ lỗ tịt đến bờ trước của hố yên xương bướm, phần này liên hệ mật thiết với thùy trán của não.

Vì vậy, tốc độ tăng trưởng rất gần với tốc độ tăng trưởng của não [37],[38],[39]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Theo Thilander và Ingervall [41], nền sọ sau nằm giữa hố yên và lỗ chẩm (basion). Tương tự như nền sọ trước, phần nền sọ này theo kiểu tăng trưởng chung của cơ thể, chủ yếu là do sự tăng trưởng của sụn bướm - chẩm. Các khớp sụn ở nền sọ [3].

Ngoài trên chẩm; 5. Nền ngoài chẩm; 6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ