Chương 1 ận về nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên trong công việc và thực tiễn. - Chương 2: Trình bày của luận văn, nội dung gồm thiết kế nghiên cứu, thiết kế khảo sát, diễn đạt và mã hóa thang đo. 5 - Chương 3 - Chương 4: Kết luận và gợi ý một số giải pháp. Trình bày một số nhóm giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao mức độ hài lòng công việc và sự gắn kết của nhân viên với cơ quan, đồng thời nêu lên những hạn chế nghiên cứu và đề nghị các bước nghiên cứu tiếp theo.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã có tìm đọc và tham khảo một số tài liệu sau: - - Phi. - Nghiên cứu của MM Nurul Kabir, Mosammod Mahamuda Parvin (2011) Theo cách tiếp cận của MM Nurul Kabir, Mosammod Mahamuda Parvin thì sự hài lòng của nhân viên liên quan đến 7 yếu tố: (1) Điều kiện làm việc, (2) Lương, (3) Sự thăng tiến, (4) Sự công bằng, (5) An toàn, (6) Mối quan hệ với đồng nghiệp, (7) Mối quan hệ với cấp trên. Còn theo nghiên cứu của EJ Lumley, M. Ferreira (2011) thì sự thỏa mãn công việc của nhân viên văn phòng liên quan đến 8 yếu tố: (1) Lương, (2) Sự thăng tiến, (3) Mối quan hệ với đồng nghiệp, (4) Mối quan hệ với cấp trên, (5) Phúc lợi, (6) Chính sách công ty, (7)Tính chất công việc, (8) Sự giao tiếp.
6 - - ” củ ến hành đo lường mức độ hài lòng của nhân viên và kết quả hàm hồi quy được viết như sau: Tất cả các hệ số trong phương trình hồi quy trên đây đều mang dấu dương, điều đó có nghĩa là cả 6 nhân tố nghiên cứu đều có tác động tích cực đến sự hài lòng của nhân viên về công việc. Nói cách khác, khi cải thiện bất kỳ nhân tố nào đều làm gia tăng sự hài lòng của nhân viên, và ngược lạ ( 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ Chương này sẽ giới thiệu các khái niệm và lý thuyết về cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu, trình bày một số định nghĩa về sự hài lòng trong công việc. Trên cơ sở kết quả một số nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước, luận văn tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu và các giả thuyết nghiên cứu. Spector Hoppock (1935) Vroom ( 1964) 8 Schultz (1982) - Weiss(1967) định nghĩa thái độ về công việc được thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của người lao động.
Với các quan điểm về sự hài lòng ở trên, định nghĩa về sự hài lòng của Weiss là đầy đủ và bao quát hơn cả nên luận văn sẽ sử dụng định nghĩa này cho nghiên cứu của mình. Schemerhon (1993) Như vậy, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự công việc nhưng chúng ta có thể rút ra được rằng một người được xem là có sự công việc thì người đó sẽ có cảm giác thoái mái, dễ chịu đối với công việc của mình.2 về sự hài lòng công việc a. [12] NHU CẦU TỰ THỂ HIỆN: - Giao trách nhiệm, ủy quyền - Mở rộng công việc NHU CẦU TỰ TRỌNG: - Biểu dương, khen thưởng - Kêu gọi tham gia NHU CẦU XÃ HỘI: - Tạo không khí thoải mái - Xây dựng tinh thần đồng đội - Cung cấp thông tin NHU CẦU AN TOÀN: - Cải tiến điều kiện làm việc - Tiền thưởng, thù lao NHU CẦU SINH LÝ: - Tiền lương - Điều kiện làm việc Hình 1. Tháp nhu cầu của Maslow Nói đến sự thỏa mãn nói chung người ta thường nhắc đến lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow(1943).
Theo ông nhu cầu của con người được chia làm năm cấp bậc tăng dần: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện. Sau khi một nhu cầu nào đó đã được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp bậc cao hơn kế tiếp sẽ xuất hiện. Từ lý thuyết này ta có thể thấy nhà quản lý cần phải biết được nhân viên của mình đang ở cấp bậc nhu cầu nào để từ đó động viên nhân viên của mình bằng cách đáp ứng các nhu cầu cá nhân đó của họ.1 Bảng các nhân tố tạo sự thỏa mãn cho người lao động theo từng loại nhu cầu của lý thuyết Maslow Loại nhu cầu Các nhân tố tạo sự thỏa mãn cho người lao động Nhu cầu cơ bản - Tiền lương. Nếu tổ chức muốn đáp ứng nhu cầu này cho người lao động, họ có thể đáp ứng thông qua việc trả lương tốt và công bằng, đảm bảo các khoản phúc lợi như tiền thưởng theo danh hiệu thi đua, thưởng các chuyến tham quan, du lịch, thưởng sáng kiến… - Điều kiện làm việc an toàn, đầu tư trang thiết bị cần thiết và cải thiện môi trường làm việc xung quanh.Đơn vị nên có các chương trình thể dục, thể chất cho người lao động để giúp họ giữ gìn sức khỏe.
Nhu cầu an toàn - Đảm bảo các điều kiện làm việc, đảm bảo công việc được duy trì ổn định và đối xử công bằng với nhân viên. - Đơn vị có thể cung cấp cho nhân viên những kế hoạch đảm bảo cuộc sống và sức khỏe, các chế độ BHXH, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm. Nhu cầu xã hội - Mối quan hệ với đồng nghiệp, cấp trên,… Đơn vị có thể tổ chức những cuộc thi nhỏ về 11 kiến thức chuyên môn trong nội bộ, không những tạo điều kiện cho CBVC nâng cao trình độ của mình, mà còn là nơi giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giữa các đồng nghiệp với nhau. Tổ chức hoạt động TDTT tại đơn vị hoặc tham gia các hội thao, hội khỏe.do các cấp, các ngành, đoàn thể tổ chức hoặc giao lưu thi đấu với các đơn vị khác.
Nhu cầu tự trọng - Được khen thưởng/khen ngợi Cơ quan có thể tổ chức các bữa tiệc trao giải thưởng công nhận thành tích cho nhân viên, tặng thưởng…Điều này giúp cải thiện, thúc đẩy lòng tự trọng của họ. Ngoài ra, cán bộ viên chức sẽ được phong tặng các danh hiệu thi đua khi hoàn thành tốt các nhiệm vụ và kế hoạch được giao, chấp hành tốt các quy định của Ngành và Pháp luật của Nhà nước Nhu cầu tự thể hiện Nhà lãnh đạo cần tạo ra các cơ hội phát triển các thế mạnh của cá nhân; người lao động cần được đào tạo và phát triển, tạo điều kiện để người lao động phát triển nghề nghiệp. - Công việc sáng tạo, thử thách - Linh hoạt và tự chủ về công việc - Tham gia vào việc đưa ra quyết định 12 Do đó, muốn lãnh đạo nhân viên thì điều quan trọng là bạn phải hiểu người lao động của bạn đang ở cấp độ nhu cầu nào. Nhận biết cấp độ nhu cầu và đưa ra các giải pháp phù hợp, các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu hoặc kỳ vọng của người lao động để cho họ làm việc hăng hái và chăm chỉ hơn với công việc được giao, phấn chấn hơn khi thực hiện nhiệm vụ và tận tụy hơn với nhiệm vụ đảm nhận.
Thuyết kỳ vọng Victor Vroom [18] Victor Vroom nhấn mạnh quan hệ nhận thức: con người mong đợi cái gì? Theo thuyết này, động lực là chức năng của sự kỳ vọng của cá nhân rằng: một sự nỗ lực nhất định sẽ đem lại một thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn đến những kết quả hoặc phần thưởng như mong muốn. Học thuyết này gợi ý cho các nhà quản lý rằng cần phải làm cho người lao động hiểu được mối quan hệ trực tiếp giữa nỗ lực – thành tích; thành tích – kết quả/phần thưởng cũng như tạo nên sự hấp dẫn cần các kết quả/phần thưởng đối với người lao động. Ứng dụng lý thuyết này vào thực tiễn có thể thấy muốn người lao động có động lực hướng tới mục tiêu nào đó (phù hợp với mục tiêu của tổ chức) thì người quản lý phải tạo nhận thức cho người lao động rằng nỗ lực của họ sẽ mang lại những phần thưởng tương xứng với mong muốn của họ. Muốn vậy, trước hết phải tạo được sự thỏa mãn của người lao động với điều kiện môi trường làm việc hiện tại, với sự hỗ trợ của cấp trên, của đồng nghiệp, từ đó khiến họ tin tưởng hơn vào nỗ lực của mình sẽ dẫn đến kết quả và phần thưởng như kỳ vọng.
Sự thỏa mãn về thưởng phạt công bằng cũng sẽ giúp họ tin rằng những kết quả họ đạt được chắc chắn sẽ được ghi nhận cũng như sự tưởng thưởng của cơ quan. Lý thuyết ERG(Existence- Relatedness – Growth) [8] Thuyết ERG của Alderfer nhìn chung giống thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow tuy nhiên số lượng nhu cầu cấp bậc được rút gọn còn ba thay vì năm như của Maslow. Thuyết ERG nhận ra ba kiểu nhu cầu chính của con người: - Nhu cầu tồn tại ( Existence needs) bao gồm những nhu cầu tồn tại cơ bản của con người như nhu cầu sinh lý và an toàn, nhóm nhu cầu này có nội dung giống như nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn của Maslow. Các tổ chức có thể đáp ứng nhu cầu này thông qua việc trả lương, phúc lợi, môi trường làm việc an toàn và bảo đảm việc làm.
- Nhu cầu quan hệ (Relatedness needs) là những đòi hỏi về quan hệ và tương tác qua lại giữa các cá nhân. Nhu cầu quan hệ bao gồm nhu cầu xã hội và một phần nhu cầu tự trọng. Nhu cầu quan hệ có thể được thỏa mãn bằng các mối quan hệ tương tác với đồng nghiệp và quản lý. - Nhu cầu phát triển (Growth needs) là đòi hỏi bên trong mỗi con người cho sự phát triển cá nhân, nó bao gồm nhu cầu tự thể hiện và một phần nhu cầu tự trọng.
Những nhu cầu này có thể được thỏa mãn bằng cách sử dụng tất cả những kỹ năng và khả năng của nhân viên. Những công việc mang tính thách thức, tự chủ và sáng tạo có thể thỏa mãn nhu cầu này. Thuyết ERG cho rằng tại một thời điểm có thể có nhiều nhu cầu cùng xuất hiện và khi một nhu cầu không được đáp ứng thì có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác. Nghiên cứu đã dựa trên quan điểm này xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến trong đó biến phụ thuộc (sự hài lòng công việc) và nhiều biến độc lập (sự thỏa mãn của các nhu cầu khác nhau).
Lý thuyết hai yếu tố của Frederick Herzbeg [10] Năm 1959, F.Herzberg và các đồng nghiệp của mình, sau khi thực hiện các cuộc phỏng vấn với những người kỹ sư và kế toán ngành công nghiệp khác nhau và đã rút ra nhiều kết luận rất bổ ích.