phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung nghiên cứu chính có 04 chƣơng với tên gọi nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. 5 Chƣơng 2: Mô tả địa bàn nghiên cứu & Thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 4: Hàm ý chính sách.
Tóm lại, sự gắn bó và nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến sự gắn bó của ngƣời lao động đối với doanh nghiệp luôn là vấn đề quan tâm của các nhà quản lý cũng nhƣ các nhà nghiên cứu quản trị. Đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này đã đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc công bố. Mặc dù có sự khác biệt về cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu cũng nhƣ cách thể hiện các quan điểm, song điểm chung là tất cả các nghiên cứu đều thừa nhận tính khách quan của các nhân tố ảnh hƣởng đến sự gắn bó của ngƣời lao động; thừa nhận có nhiều yếu tố khác nhau ảnh hƣởng đến sự gắn bó của ngƣời lao động bao gồm các nhóm yếu tố thuộc về công việc; các yếu tố liên quan đến đãi ngộ; các yếu tố liên quan đến thăng tiến nghề nghiệp; các yếu tố liên quan đến môi trƣờng làm việc; văn hóa công ty. Những kết quả này sẽ đƣợc tác giả thừa hƣởng và vận dụng vào việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến sự gắn bó của ngƣời lao động đối với Chi nhánh Skypec khu vực miền Trung, vốn rất cần thiết và cấp bách phải làm rõ nhƣng đến nay chƣa có nghiên cứu nào tƣơng tự đƣợc thực hiện tại đây.
6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN 1. Khái niệm ngƣời lao động Theo pháp luật Việt Nam, ngƣời lao động là ngƣời từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, đƣợc trả lƣơng và chịu sự quản lý, điều hành của ngƣời sử dụng lao động. Ngƣời lao động có thể là ngƣời lao động phổ thông, lao động chân tay hoặc lao động trí óc.
Ngƣời lao động có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Lao động và Luật Công đoàn. Ngƣời lao động cũng đƣợc bảo vệ quyền lợi bởi các tổ chức công đoàn tại nơi làm việc. ( Nguồn https://ebh.vn/tin-tuc/nguoi-lao-dong-la-gi) Theo Bộ luật Lao động năm 2019 của Việt Nam thì: “người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo một thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành và giám sát của người sử dụng lao động”. Khái niệm sự hài lòng Sự hài lòng (Satisfaction), mãn nguyện hay thỏa mãn là một trạng thái cảm xúc thỏa mãn có thể đƣợc xem là trạng thái tinh thần, có thể có đƣợc từ sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí của một ngƣời.
Theo James Monroe (1969), hài lòng có nghĩa là bạn đã có đủ - theo một cách tốt. Một bữa ăn ngon mang lại sự thỏa mãn cho cơn đói của bạn; khi bạn tốt nghiệp ra trƣờng hoặc kiếm đƣợc một công việc tốt; khi một cái gì đó đƣợc giải thích tốt để bạn cảm thấy thỏa mãn. 7 Ở góc độ tổng quát nhất, sự hài lòng nói chung theo Philip Kotler (2004), đó là mức độ của trạng thái cảm giác của một ngƣời bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu đƣợc từ sản phẩm (hay sản lƣợng) với những kỳ vọng của ngƣời đó. Khái niệm sự hài lòng trong công việc Có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về sự hài lòng công việc và mỗi nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, lý giải riêng qua các công trình nghiên cứu của họ để đƣa ra các nguyên nhân có thể dẫn đến sự hài lòng công việc.
Theo Vroom (1964), hài lòng trong công việc là trạng thái mà ngƣời lao động có định hƣớng hiệu quả rõ ràng đối với công việc trong tổ chức, thực sự cảm thấy thích thú với công việc. Theo Weiss (1967), hài lòng trong công việc là thái độ về công việc đƣợc thể hiện bằng cảm nhận, niềm tin và hành vi của ngƣời lao động. Theo Kreitner và Kinicki (2007), sự hài lòng trong công việc chỉ phản ánh một phần về thái độ đối với công việc mà ngƣời lao động yêu thích cũng nhƣ mức độ hài lòng trong các thang đo nhân tố đánh giá: Thanh toán lƣơng, cơ hội thăng tiến, giám sát, quan hệ đồng nghiệp và thang đo nhân tố khác mà họ mong đợi. Sự thỏa mãn công việc chỉ xem là một cơ chế cá nhân trong mô hình tổng thể hành vi của tổ chức nhằm đánh giá mức độ ảnh hƣởng đến thực hiện công việc và sự tận tâm đối với tổ chức.
( Nguồn Kreitner, R & Kinicki, A. (1967)) Tóm lại, sự hài lòng của nhân viên như là sự đáp ứng những nhu cầu và mong muốn của con người trong môi trường công việc. Khi những nhu cầu và mong muốn này đƣợc đáp ứng thích đáng thì sự hài lòng của nhân viên sẽ đƣợc tăng lên. Việc nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên giúp nhà lãnh đạo nắm bắt đƣợc nhu cầu thực sự, những điều tạo ra sự hài lòng và những điều 8 chƣa hài lòng những điều gây ra cảm giác bất mãn cho ngƣời lao động trong tổ chức.
Từ đó nhà lãnh đạo có thể cải thiện, sửa đổi, bổ sung chính sách nhân sự trong công ty trong khuôn khổ cho phép để tăng hiệu quả làm việc và tăng cƣờng mức độ gắn bó của ngƣời lao động đối với tổ chức doanh nghiệp, đảo bảo cho doanh nghiệp có một đội ngũ lao động chất lƣợng và bền vững. CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU SỰ HÀI LÒNG TRONG CÔNG VIỆC CỦA NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Lý thuyết hai nhân tố của Herzberg (1959) Thuyết hai yếu tố của Frederick Herzberg về động lực trong công việc, cũng đƣợc gọi là lý thuyết Hygiene-Motivation hoặc lý thuyết Motivation- Hygiene. Lý thuyết này đƣợc Herzberg trình bày trong cuốn sách "The Motivation to Work: Theories of Work Behavior" xuất bản vào năm 1959.
Theo lý thuyết này, Herzberg chia những yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng và động lực trong công việc thành hai nhóm: yếu tố động lực (Motivation Factors) và yếu tố hấp dẫn (Hygiene Factors). Thuyết hai nhân tố của F.Herzberg có những ẩn ý quan trọng đối với các nhà quản trị: Thứ nhất, những yếu tố làm thỏa mãn ngƣời lao động khác với các yếu tố tạo ra sự bất mãn. Do vậy, nhà quản trị không thể mong đợi sự thỏa mãn của ngƣời lao động đơn giản là xóa bỏ các nguyên nhân gây ra sự bất mãn. Thứ hai, việc khuyến khích động viên ngƣời lao động đòi hỏi phải giải quyết thỏa đáng đồng thời cả hai nhóm nhân tố duy trì và nhân tố động viên.
Đội ngũ quản trị đồng thời phải loại trừ sự bất mãn và tạo ra sự thỏa mãn, không thể chú trọng một nhóm nào cả. Các nhân tố đƣợc F. Herzberg liệt kê nhƣ sau: 9 Bảng 1.1 - Các nhân tố duy trì và động viên Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên 1. Thành tích, thành tựu đạt đƣợc 2.
Sự công nhận 3. Quan hệ với đồng nghiệp 3. Các cơ hội thăng tiến và phát triển 4. Điều kiện làm việc 4.
Ý nghĩa công việc 5. Chính sách của công ty 5. Tính trách nhiệm 6. Quan hệ qua lại giữa các cá nhân (Nguồn: Organizational Behavior, Robbins, Stephen P.
2002) Nhƣ vậy, theo học thuyết của Frederick Herzberg, để tạo ra sự cam kết và gắn bó lâu dài của nhân viên, các nhà quản lý cần tập trung vào những yếu tố tạo động lực, nhƣ cơ hội phát triển cá nhân, tính thú vị của công việc và việc công nhận thành tựu. Đồng thời, họ cũng cần đảm bảo rằng các yếu tố hấp dẫn đủ điều kiện để tránh sự không hài lòng và bất mãn từ phía nhân viên. Điều này bao gồm cung cấp điều kiện lao động tốt, thực hiện chính sách công ty công bằng và đảm bảo mức lƣơng hấp dẫn. Tóm lại, để đạt đƣợc sự hài lòng của ngƣời lao động, ngƣời quản lý cần kết hợp cả hai loại yếu tố – yếu tố tạo động lực và yếu tố đảm bảo điều kiện làm việc.
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943) Abraham Maslow (1908-1970) là một nhà tâm lý học ngƣời Mỹ đƣợc biết đến với công trình quan trọng về lý thuyết nhu cầu cấp bậc, chủ yếu là lý thuyết nhu cầu cơ bản (hoặc Tháp nhu cầu Maslow). Ông sinh ra tại khu Brooklyn, New York và trở thành một trong những nhà tâm lý học hàng đầu của thế kỷ 20. 10 Vào năm 1943, Abraham Maslow đã phát triển lý thuyết "Thứ bậc nhu cầu" của con ngƣời (Hierarchy of Needs), bao gồm 5 cấp bậc. Ông sắp xếp các nhu cầu của con ngƣời theo một hệ thống trật tự cấp bậc tạo thành hình dạng của một kim tự tháp.
Trong lý thuyết này, các nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ xuất hiện khi các nhu cầu ở mức độ thấp hơn đã đƣợc thỏa mãn. Tuy nhiên, lý thuyết này đã trải qua sự điều chỉnh và hoàn thiện, đặc biệt vào năm 1954, khi các cấp bậc nhu cầu đã đƣợc xác định là: - Nhu cầu sinh lý - Nhu cầu an toàn - Nhu cầu xã hội - Nhu cầu đƣợc tôn trọng - Nhu cầu thể hiện bản thân .1 - Mô hình tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: Organizational Behavior, Robbins, Stephen P. 2002) Trong thực tế, các nhu cầu không luôn tuân theo thứ bậc mà Maslow đã đề xuất. Chúng phụ thuộc nhiều vào yếu tố cá nhân và ngữ cảnh.
Nghiên cứu 11 đã chỉ ra rằng nhu cầu của con ngƣời còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ giai đoạn sự nghiệp, kích thƣớc tổ chức và vị trí địa lý, yếu tố văn hóa và nhiều yếu tố khác. Từ lý thuyết này, ta thấy rằng các nhà quản lý cần hiểu rõ về cấp bậc nhu cầu của nhân viên để có thể khuyến khích và hỗ trợ họ một cách hiệu quả. Chỉ khi nhu cầu của nhân viên đƣợc đáp ứng thì họ mới có khả năng đạt đến sự hài lòng và đóng góp hiệu quả cho tổ chức. Lý thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964) Năm 1943, Abraham Vroom đã đƣa ra một lý thuyết động lực mới với ba khái niệm quan trọng: Valence (Hóa trị), Instrumentality (Tính chất công cụ) và Expectancy (Kỳ vọng), tạo thành lý thuyết VIE.
Trong lý thuyết này, Vroom mô tả mục tiêu của động lực nhƣ một quá trình lựa chọn giữa các hình thức hoạt động có mục tiêu khác nhau, với sự quản lý chủ động của con ngƣời đối với chúng.