mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là ngƣời gửi tiền không cần phải đến ngân hàng lấy tiền mà chỉ Luan van 14 cần viết giấy chi trả cho khách (còn đƣợc gọi là Séc), khách hàng mang giấy đến Ngân hàng sẽ nhận đƣợc tiền. - Các dịch vụ khác 1. Khái niệm Philip Kotler cho rằng: "Dịch vụ là mọi biện pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là không sờ thấy đƣợc và không dẫn đến sự chiếm đoạt một cái gì đó. Việc thực hiện dịch vụ có thể có hoặc có thể không liên quan đến hàng hoá dƣới dạng vật chất của nó".
[18] Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2003): “Dịch vụ là thực hiện những gì Doanh nghiệp đã hứa hẹn nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những mối quan hệ đối tác lâudài với khách hàng và thị trường. Và dịch vụ chỉ đạt chất lượng khi khách hàng cảm nhận rõ ràng là việc thực hiện các hứa hẹn đó của doanh nghiệp mang đến cho khách hàng giá trị gia tăng nhiều hơn các doanh nghiệp khác hoạt động trong cùng lĩnh vực”. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng đƣợc hiểu là các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu kinh doanh, sinh lời, sinh hoạt cuộc sống, cất trữ tài sản… Qua đó, ngân hàng thu chênh lệch lãi suất, tỷ giá hay thu phí từ các sản phẩm dịch vụ này. Tuy nhiên, hiện nay có hai quan điểm về dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại.
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, các hoạt động sinh lời của ngân hàng ngoài hoạt động cho vay thì đƣợc gọi là hoạt động dịch vụ. Sự phân định nhƣ vậy cho phép ngân hàng thực thi chiến lƣợc tập trung đa dạng hóa, phát triển và nâng cao hiệu quả của các hoạt động phi tín dụng. - Còn quan điểm thứ hai thì cho rằng, tất cả các hoạt động kinh doanh của một ngân hàng đều đƣợc coi là hoạt động dịch vụ, bao gồm cả hoạt động tín dụng. Trong phân tổ các ngành của nền kinh tế thì ngành ngân hàng thuộc Luan van 15 lĩnh vực dịch vụ; vì thế, có thể xem hoạt động cho vay là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng.
Dịch vụ là một sản phẩm đặc biệt, có nhiều đặc tính khác so với các loại hàng hóa hữu hình thông thƣờng nhƣ tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất trữ. Chính những đặc tính khác biệt này làm cho dịch vụ trở nên khó định lƣợng và không thể nhận dạng bằng mắt thƣờng đƣợc mà chỉ có thể đo lƣờng thông qua việc cảm nhận. Sản phẩm dịch vụ có những nét đặc trƣng cơ bản sau đây: - Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ gây khó khăn cho khách hàng khi quyết định mua một sản phẩm là dịch vụ. Họ không thể sê thấy, dùng thử hay kiểm tra để từ đó đánh giá đƣợc chất lƣợng của nó mà phải sử dông dịch vụ thì mới đánh giá đƣợc chất lƣợng.
Một dịch vụ thuần tuý không thể đƣợc đánh giá bằng cách sử dụng bất kì một cảm giác tự nhiên nào, nó là một sự trừu tƣợng mà không thể khảo sát đƣợc trƣớc khi mua bán mà khách hàng thƣờng phải dùa vào thông tin cá nhân và giá cả để làm cơ sở đánh giá. - Tính không đồng nhất Mỗi khách hàng có sở thích, thói quen không giống nhau do sự khác nhau về khu vực địa lý, sù ảnh hƣởng của các nền văn hoá khác nhau tới lối sống, sự khác nhau về tâm sinh lý, kinh nghiệm trải qua việc sử dụng nhiều lần.nên họ có những yêu cầu, đánh giá về chất lƣợng dịch vụ khác nhau. Từ đó ta có thể thấy đƣợc rằng thật khó có thể đƣa ra tiêu chuẩn chung cho một sản phẩm dịch vụ (dịch vụ thƣờng bị cá nhân hoá). Điều này buộc ngƣời làm dịch vụ phải đƣa ra cách phục vụ thích hợp với từng đối tƣợng khách nhằm đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu của khách hàng.
- Tính không thể tách rời Luan van 16 Sản xuất và tiêu dùng dịch vụ trùng nhau cả về mặt thời gian và không gian. Ta không thể sản xuất ra hàng loạt dịch vụ rồi mới tiêu dùng nh- sản phẩm là hàng hoá và cũng không có thời gian để sửa chữa và loại bỏ các sản phẩm háng trƣớc khi tiêu dùng. - Tính không lƣu giữ đƣợc Dịch vụ không thể lƣu trữ và lƣu kho, quá trình sản xuất và tiêu dùng đồng thời. Doanh nghiệp cần tìm cách bán đƣợc nhiều nhất sản phẩm trong mỗi ngày( huấn luyện nhân viên, chính sách giảm giá, thu hút khách hàng, điều kiện kèm theo.) Dịch vụ không có khả năng lƣu kho nên doanh nghiệp cần sử dụng công cụ giá một cách hợp lý để tận dụng tối đa lợi nhuận và công suất bán.
Đồng thời vẫn giữ đƣợc chất lƣợng, uy tín của dịch vụ. Khái niệm thẻ ATM Thẻ ATM (Automated Teller Machine) là loại thẻ ghi nợ do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa hai bên. [4] Thẻ ATM là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt để rút tiền và thực hiện nhiều dịch vụ tài chính khác tại các máy ATM. Máy ATM, với tên là Automatic Teller Machine nhằm mục tiêu thay thế giao dịch viên với các mục tiêu sau: - Tự động hóa các giao dịch giữa khách hàng với ngân hàng - Dịch vụ mọi lúc và mọi nơi - Bảo mật và an toàn… Thẻ ghi nợ là một phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt.
Thẻ ghi nợ là thẻ điện tử do một ngân hàng phát hành cho phép khách hàng có thể rút tiền từ tài khoản của mình tại ngân hàng. Thẻ ghi nợ đƣợc dùng Luan van 17 để thanh toán tại các đơn vị chấp nhận thẻ hoặc rút tiền từ máy ATM. Thẻ ghi nợ không có quan hệ vay mƣợn giữa ngân hàng và chủ thẻ. Đặ ịch vụ thẻ ATM Kể từ khi ra đời cho đến nay, cấu tạo của thẻ ATM đã có những thay đổi khá lớn nhằm tăng độ an toàn và tiện dụng cho khách hàng.
Ngày nay với những thành tựu của kĩ thuật vi điện tử, một số loại thẻ đƣợc gắn thêm một con chip điện tử nhằm tăng khả năng ghi nhớ thông tin và tính bảo mật cho thẻ. Hầu hết các loại thẻ ATM ngày nay đều đƣợc cấu tạo bằng nhựa cứng (plastic), có kích cỡ 84mm x 54mm x 0.76mm, có góc tròn, gồm hai mặt: Mặt trƣớc của thẻ gồm: - Tên biểu tƣợng thẻ và huy hiệu của tổ chức phat hành thẻ. - Số thẻ là số dành riêng cho mỗi chủ thẻ. Số này đƣợc dập nổi trên thẻ và sẽ đƣợc in lại trên hóa đơn khi chủ thể mua hàng.
Tùy theo từng loại thẻ mà có chữ số khác nhau và cấu trúc theo nhóm khác nhau. - Ngày hiệu lực của thẻ: là thời hạn mà thẻ đƣợc lƣu hành. - Họ và tên của chủ thẻ. - Số mật mã đợt phát hành(chỉ có ở thẻ AMEX).
Mặt sau của thẻ bao gồm: - Dãy băng từ có khả năng lƣu trữ những thông tin nhƣ: chủ thẻ, tên ngân hàng phát hành, số PIN. - Băng chữ ký mẫu của thẻ. Phân loại thẻ * Phân loại theo đặc tính kĩ thuật: - Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): Là loại thẻ ATM có đặc tính kỹ thuật là thẻ nhựa có gắn bởi một dải từ tính ở mặt sau, lƣu trữ thông tin của ngƣời mang thẻ và của cơ quan cấp thẻ. - Thẻ thông minh (thẻ điện tử có bộ xử lý chip):trên thẻ có gắn bộ nhớ Luan van 18 đặc biệt (Memory chip), khi thanh toán máy sẽ khấu trừ ngay vào bộ nhớ của thẻ, để giảm số dƣ, hoặc khi gửi tiền máy sẽ ghi vào bộ nhớ của thẻ đó gia tăng số dƣ.
Đồng thời, những dữ liệu này sẽ đƣợc truyền tin đến máy trung tâm, mỗi ngày một lần, hay định kỳ để cập nhật tài khoản của chủ thẻ. Hiện nay trên thế giới có khoảng 25 nơi chế tạo loại thẻ này và đã có trên 200 triệu thẻ đƣợc lƣu hành. * Phân loại theo chủ thể phát hành - Thẻ do ngân hàng phát hành: là loại thẻ ATM do chủ thể là một ngân hàng thƣơng mại phát hành. - Thẻ do các tổ chức phi ngân hàng phát hành: là loại thẻ ATM do chủ thể là một tổ chức phi ngân hàng phát hành.
Là loại thẻ du lịch và giải trí của các tập đoàn kinh doanh lớn hoặc các công ty xăng dầu lớn, các cửa hiệu lớn. * Phân loại theo tính chất thanh toán của thẻ - Thẻ tín dụng(credit card): thẻ này có đặc điểm là ngân hàng chỉ ghi nợ vào tài khoản ngƣời chủ thẻ sau một thời hạn nhất định. Cuối mỗi tháng ngân hàng sẽ gửi cho chủ thẻ một bảng kê hoá đơn để yêu cầu chủ thẻ thanh toán. - Thẻ ghi nợ (Debit card): thẻ này có đặc điểm là khi chủ thẻ thanh toán thì số tiền đó sẽ đƣợc ghi nợ ngay vào tài khoản của chủ thẻ.
- Thẻ online: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản chủ thẻ. - Thẻ offline: là loại thẻ mà giá trị những giao dịch đƣợc khấu trừ vào tài khoản chủ thẻ sau đó vài ngày. * Phân loại theo hạn mức tín dụng: - Thẻ thƣờng: đây là loại thẻ cơ bản nhất, mang tính chất phổ biến. Hạn mức tối thiểu tùy theo ngân hàng phát hành qui định.
Luan van 19 - Thẻ vàng: là loại thẻ đƣợc phát hành cho những đối tƣợng có uy tín, khả năng tài chính lành mạnh, nhu cầu chi tiêu lớn. Loại thẻ này có những điểm khác * Phân loại theo phạm vi sử dụng thẻ - Thẻ trong nƣớc: là thẻ đƣợc giới hạn trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch phải là đồng bản tệ của nƣớc đó. - Thẻ quốc tế: đây là loại thẻ đƣợc chấp nhận trên toàn thế giới, sử dụng các ngoại tệ mạnh để thanh toán. Hoạt động thanh toán thẻ tại Ngân hàng thương mại Việc tiếp nhận thanh toán bằng thẻ phải có hợp đồng thỏa thuận giữa NH phát hành thẻ hoặc ngân hàng thanh toán thẻ với đơn vị chấp nhận thẻ - Ngân hàng phát hành thẻ, ngân hàng thanh toán thẻ (tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán thẻ) có trách nhiệm hƣớng dẫn đầy đủ quy trình thanh toán thẻ cho các đơn vị chấp nhận thẻ.