Chương 1 giới thiệu một cách có hệ thống tài liệu nghiên cứu, bao gồm việc tổng quan các lĩnh vực nghiên cứu về du lịch di sản, sự hài lòng của du khách trong các hành trình du lịch di sản, cũng như các mô hình nghiên cứu đã được thực hiện trước đây. Chương này nhấn mạnh vào việc tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu đáng tin cậy, giúp định hình một cơ sở vững chắc cho nghiên cứu tiếp theo. Chương 2 trình bày cơ sở lý luận của Luận án, tập trung vào việc cung cấp một bối cảnh rõ ràng cho Luận án và thể hiện cách các khái niệm quan trọng được thao tác hóa. Chương này cũng tiếp tục phân tích quá trình hình thành lý thuyết nghiên cứu và phát triển các giả thuyết liên quan.
Ngoài ra, chương cung cấp một cơ sở lý luận chặt chẽ cho Luận án, đồng thời đảm bảo rằng các khái niệm và thuật ngữ quan trọng được hiểu rõ và sử dụng một cách thích hợp. Chương 3 tập trung vào việc trình bày thiết kế và phương pháp nghiên cứu. Chương này bao gồm mô hình nghiên cứu, chi tiết về thiết kế nghiên cứu và cách tiến hành phân tích tổng hợp và khảo sát thực nghiệm. Đây là bước quan trọng để cung cấp chi tiết về cách nghiên cứu được thực hiện từ việc thiết kế đến phương pháp thực hiện, giúp đảm bảo tính nhất quán và sự minh bạch trong quá trình nghiên cứu.
Chương 4 tập trung vào việc trình bày các kết quả thực nghiệm của Luận án. Chương này sẽ giải thích về quy mô ảnh hưởng trung bình của mỗi giả thuyết đã được xác định, cung cấp phân tích mô tả, độ tin cậy và hiệu lực của các thang đo định lượng và kiểm định giả thuyết. Đồng thời, cung cấp một cái nhìn chi tiết về các kết quả thực 21 nghiệm, đảm bảo rằng thông tin về mức độ ảnh hưởng, độ tin cậy và hiệu lực của các thang đo và giả thuyết được trình bày một cách rõ ràng và mạch lạc. Chương 5 trình bày kết luận và đề xuất của Luận án, cùng với tài liệu tham khảo và phụ lục ở cuối.
Chương này cung cấp cái nhìn tổng quan về nội dung đã được thực hiện, cũng như đề xuất về tương lai và tài liệu tham khảo bổ sung. Mỗi phần của Luận án sẽ tập trung vào một khía cạnh cụ thể của nghiên cứu, từ việc giới thiệu tới phân tích dữ liệu và kết luận cuối cùng, hỗ trợ việc trình bày một cách rõ ràng và có hệ thống. 22 NỘI DUNG CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH DU LỊCH ĐỐI VỚI ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH DI SẢN Lĩnh vực nghiên cứu về du lịch và các hoạt động liên quan đến sự hấp dẫn du lịch ở cả tại cấp địa phương và quốc gia đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới, bao gồm cả Việt Nam.
Đặc biệt, với sự phát triển đa dạng của các hình thức du lịch khác nhau, trong đó có du lịch di sản văn hóa, các chủ đề nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực du lịch nói chung và du lịch di sản nói riêng đang ngày càng mở rộng và tiếp tục thay đổi cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu. Trong phạm vi chương này sẽ tổng quan tài liệu về du lịch di sản, tổng quan nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến du lịch di sản, qua đó hình thành một cái nhìn rộng hơn và xác định các khoảng trống nghiên cứu về sự hài lòng của khách du lịch đối với điểm đến du lịch di sản tại Việt Nam. Nghiên cứu về du lịch di sản Cùng với xu thế phát triển chung của du lịch toàn cầu và khu vực, những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã tăng trưởng khá nhanh, trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước. Du lịch phát triển đã góp phần tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập ngoại tệ, cải thiện kết cấu hạ tầng và nhiều lĩnh vực trọng yếu khác cho xã hội.
Nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, những mối đe dọa tiềm ẩn đối với môi trường tự nhiên và văn hóa của các cộng đồng địa phương. Yêu cầu cao nhất của sự phát triển du lịch là phát triển bền vững (Bùi Thị Nhân, 2021). Do vậy, việc xây dựng mô hình du lịch phát triển sao cho phù hợp với từng quốc gia, từng địa phương để hướng đến phát triển bền vững luôn là đề tài được nhiều giới quan tâm tìm hiểu và nghiên cứu. Có thể thấy rằng, từ sự ra đời của khái niệm “phát triển bền vững” vào những năm 1 80, trên thế giới bắt đầu hướng tới phát triển ngành du lịch một cách bền vững nhằm duy trì các lợi ích của du lịch trong điều kiện bảo tồn, cải thiện môi trường và cân bằng phù hợp giữa kinh tế – văn hóa – xã hội (Asmelash, A.
Vì thế, các hình thức du lịch có trách nhiệm, có hiểu biết và đề 23 cao sự hợp tác mang tính cộng đồng, bảo tồn văn hóa, tài nguyên du lịch ngày càng được khuyến khích và phát triển mạnh mẽ. Sang thập niên 0, việc triển khai các loại hình du lịch mới xuất hiện như: du lịch di sản, du lịch văn hóa, du lịch tâm linh, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn,.ở các nước trên thế giới là đ i hỏi cần thiết. Và các loại hình du lịch này đã phổ biến ở các nước châu Á, quốc gia đầu tiên khởi xướng là Hàn Quốc, kế đến là Đài Loan, Nhật Bản, Nê-pal, Ấn Độ… Hầu hết các nước đang phát triển ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh nhìn nhận phát triển du lịch có trách nhiệm mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương là một vấn đề nghiêm túc và không dễ tiến hành bởi vì nó liên quan đến nhiều lĩnh vực ở địa phương như lợi ích kinh tế, ảnh hưởng môi trường và xã hội. Ngược lại, những vấn đề của địa phương cũng tác động đến hoạt động kinh doanh du lịch.
Do đó, du lịch không thể tách rời với cuộc sống thực tế của người dân bản địa, song trong thực tế quy hoạch phát triển du lịch vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức. Vì lẽ đó, các tổ chức du lịch quốc tế, các tổ chức bảo tồn thế giới và các tổ chức phi Chính phủ quan tâm đến phát triển bền vững đã tiến hành hỗ trợ các quốc gia này xây dựng nhiều mô hình du lịch nhằm chia sẻ lợi ích cho các cộng đồng địa phương. Theo dự đoán của các chuyên gia du lịch, các loại hình du lịch di sản, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch nông thôn, du lịch làng nghề., và các loại hình du lịch tương tự sẽ phát triển nhanh nhất trong hai thập niên tới. Đặc biệt các nước đang phát triển, với nguồn tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đa dạng, phong phú, hầu hết các địa phương đều có tiềm năng để phát triển loại hình du lịch này (Bhowmik, P.
Từ đây, có nhiều cuộc hội thảo khoa học được tổ chức trên cơ sở đúc rút những bài học kinh nghiệm từ các nước đi trước và đề ra hướng phát triển phù hợp cho mỗi địa phương. Thông qua đó, hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về các loại hình du lịch này được xây dựng và dần hoàn thiện. Năm du lịch quốc tế 2002 đã nhấn mạnh mục tiêu của du lịch là phải tính đến lợi ích của người dân bản địa và xa hơn nữa là góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa 24 của địa phương. Từ đó, lý thuyết về du lịch dựa vào cộng đồng địa phương đã được xây dựng và phát triển ở các nước châu Á, Phi, Nam Mỹ như: Thái Lan, Nê–pal, Đài Loan, Hàn Quốc, Botswana, Lesotho, Madagascar, Mauritius, Mozambique, Namibia, Swaziland, Tanzania, Zambia, Zimbabwe, Nam Phi.
Hầu hết các tác giả đều đề cập đến cách thức, giải pháp để phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở một địa phương, một khu vực hay một đất nước nào đó. Một số tác phẩm tiêu biểu liên quan đến loại hình du lịch này có thể kể đến như: “Du lịch dựa vào cộng đồng để bảo tồn và phát triển phụ nữ” do Viện Mountain Institute xuất bản năm 2001, và tài liệu hướng dẫn “Cẩm nang du lịch dựa vào cộng đồng” của tổ chức REST nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa, du lịch di sản có nhiều sức hút từ các nhà nghiên cứu quốc tế như các bài viết: “Phát triển du lịch sinh thái - Cẩm nang cho các nhà lập kế hoạch và quản lý bảo tồn” của Andy, Drum, Alan và Moore (2002 ; “Du lịch văn hóa: quan điểm toàn cầu và địa phương” của Greg Richards (2007), “Phương pháp nghiên cứu văn hóa du lịch” của Greg Richards và Wil Munsters (2010),. Mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau mạnh mẽ giữa di sản và du lịch đã được ghi nhận rõ ràng trong tài liệu nghiên cứu về du lịch. Các nghiên cứu trước đây Green, 2010; Hoffman và cộng sự, 2002; Madden và Shipley, 2012; Vannarith, 200 đã xác định du lịch di sản là một thị trường ngách của ngành du lịch, phần lớn phát triển dựa trên tài nguyên di sản địa phương, bao gồm các địa điểm khảo cổ, địa danh, ph ng trưng bày, địa điểm tôn giáo, nơi ở của hoàng gia và các điểm liên quan.
Là một trong những phân khúc lâu đời nhất và đang phát triển nhanh chóng của ngành du lịch (Green, 2010; Timothy và Nyaupane, 2009) và thị trường ngách rất sinh lợi (Green, 2010; Rowland, 2006), du lịch dựa trên di sản là một sự lựa chọn cần thiết để giảm bớt tình trạng nghèo đói ở các nước đang phát triển (UNEP/ WTO, 2004). Các hành vi kinh tế xã hội, nhân khẩu học và tâm lý của khách du lịch di sản làm cho du lịch dựa trên di sản trở thành một lựa chọn thiết yếu để đảm bảo lợi ích cộng đồng mà không ảnh hưởng đến công bằng giữa các thế hệ và tính bền vững của phát triển du lịch di sản (Hughes và Carlsen, 2010; Green, 2010). Có thể 25 hình dung được sự chú ý đến một số điểm nổi bật đặc biệt của khách du lịch di sản. Họ có học vấn cao hơn, chi tiêu nhiều hơn, đi du lịch theo nhóm, lưu trú lâu hơn và có thu nhập cao hơn so với khách du lịch bình thường (Timothy và Boyd, 2006).