Chương 1. Tổng quan nghiên cứu. Địa điểm, thời gian, nội dung, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Kết luận và khuyến nghị. Danh mục các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án. Tài liệu tham khảo. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm và cơ sở lý luận 1. Đất lúa nước Theo công ước Ramsar (1971) thì đất lúa nước là một loại hình đất canh tác ngập nước (loại hình thứ 18 tại Bảng 1. Đây là loại hình đất ngập nước (ĐNN) theo mùa hay ngập không thường xuyên, được sử dụng để canh tác lúa hoặc luân canh, xen canh lúa với các cây trồng nông nghiệp khác hoặc kết hợp với nuôi trồng thủy sản [dẫn theo Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012a].
Các loại hình đất ngập nƣớc theo công ƣớc Ramsar Stt Các loại hình đất ngập nƣớc 1 Các vịnh nông có mức nước từ 6m trở lại khi triều thấp 2 Các vùng cửa sông châu thổ 3 Những đảo nhỏ xa bờ 4 Những bờ biển có đá, vách đá ven biển 5 Những bãi biển dù là cát hay sỏi 6 Những bãi gian triều dù là cát hay bùn 7 Những vùng đầm lầy rừng ngập mặn 8 Những đầm phá ven biển dù là mặn hay lợ 9 Những ruộng muối 10 Ao nuôi tôm, cá 11 Các sông suối 12 Đầm lầy ven sông, hồ do dòng sông đổi dòng 13 Hồ nước ngọt 14 Ao nước ngọt dưới 8 ha, đầm lầy nước ngọt 15 Ao nước mặn, những hệ thống thoát nước nội địa 16 Đập chứa nước 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Stt Các loại hình đất ngập nƣớc 17 Rừng ngập nước theo mùa như rừng tràm 18 Đất canh tác ngập nƣớc, đất đƣợc tƣới tiêu 19 Bãi than bùn,v. Nguồn: Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng [2012a] Ngoài ra, dưới góc độ quản lý nhà nước thì Nghị định 35/2015/NĐ-CP ngày 13/4/2015 quy định: (i) Đất trồng lúa là đất có các điều kiện phù hợp để trồng lúa, bao gồm đất chuyên trồng lúa nước và đất lúa khác, (ii) Đất chuyên trồng lúa nước là đất đang trồng hoặc có đủ điều kiện trồng được 2 vụ lúa nước trở lên trong năm, (iii) Đất lúa nước khác bao gồm đất lúa chỉ trồng được 1 vụ lúa nước trong năm và đất lúa nương [Bộ TN&MT, 2014b; Chính phủ, 2015]. Bộ NN&PTNT [2010] đã phân chia chi tiết thành: Đất lúa 3 vụ, đất lúa 2 vụ, đất 2 vụ lúa + 1 vụ màu/cá, đất 1 vụ lúa + 2 vụ màu, đất 1 vụ lúa + cá/tôm/màu, đất 1 vụ lúa (Xuân hoặc Mùa). Theo quan điểm của luận án thì đất lúa nước là một loại hình ĐNN [Ramsar, 1971] theo mùa hoặc ngập không thường xuyên [Lê Diên Dực, 2012], được phân chia chi tiết theo Bộ NN&PTNT [2010].
Điều kiện để loại đất đó trồng được lúa là: (a) Phải có nước, ( b) Phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, (c) Phù hợp với điều kiện khí hậu, (d) Sản phẩm phải tiêu thụ được. Ngưỡng chịu đựng với một số nhân tố BĐKH của cây lúa đối với một số nhân tố BĐKH: Không chịu được độ ngập từ 50 cm trở lên với thời gian kéo dài từ 2- 3 ngày trở lên (cây lúa sẽ chết) [Nguyễn Võ Linh, 2012]. Đất trồng lúa nước cần được sử dụng linh hoạt [Thủ tướng Chính phủ, 2013b] để nâng cao hiệu quả sử dụng như: luân canh với các cây trồng hàng năm, kết hợp nuôi trồng thủy sản, tham gia vào các mô hình liên kết giữa trồng trọt và chăn nuôi và chuyển đổi sang các mục đích canh tác nông nghiệp khác để đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao hiệu quả kinh tế và thích ứng được với những tác động tiêu cực của BĐKH. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cây lúa và đặc điểm thích nghi với các nhân tố biến đổi khí hậu Lúa là cây lương thực chính của hơn 40% dân số trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á. Thậm chí, nhiều quốc gia ở vùng Đông Nam Á và vùng Đông Á còn được xem như nền văn minh lúa nước. Canh tác lúa nước đã có cách đây khoảng 10.000 năm nay, tập trung chủ yếu ở các quốc gia vùng Đông Nam Á [De Datta, 1981; Wihelm Solheim, 1994]. Lúa là loài thực vật họ Hòa thảo (Graminae), có tên khoa học để chỉ giống lúa phổ biến ở vùng Châu Á là Oryza Sativa, thuộc bộ Hòa thảo (Poales), lớp thực vật một lá mầm (Monocots), ngành thực vật có hoa (Angiospermae).
Nhiều minh chứng cho rằng cây lúa có nguồn gốc từ Ấn Độ và vùng Đông Nam Á [Lê Anh Tuấn, 2011]. Quá trình sinh trưởng phát triển của cây lúa chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh, điều kiện sinh thái. Cây lúa cần các điều kiện về khí hậu, đất đai, thủy lợi phù hợp để có thể sinh trưởng và phát triển tốt, đó là: Lượng mưa hàng năm từ 2.500 mm, vào thời kỳ tăng trưởng cần một lượng mưa vào khoảng 125 mm trong một tháng; thời kỳ thu hoạch cần nhiều nắng (ruộng khô càng tốt); nhiệt độ môi trường thích hợp nhất khoảng 21 - 27°C; khu vực canh tác phải có độ bằng phẳng, điều này rất cần thiết để duy trì mực nước từ 100 mm đến 150 mm để giúp cho cây lúa sinh trưởng và kết hạt tốt. Chính vì vậy, những khu vực đồng bằng và lưu vực các con sông chảy qua các miền nhiệt đới nhiều mưa sẽ là môi trường thuận lợi cho cây lúa nước phát triển [Phạm Thị Minh Thúy, 2010].
Tiếp cận dựa vào cộng đồng Theo Gene Barrett (2001) thì 4 chuẩn mực có thể vận dụng cho một mô hình cộng đồng: (a) Địa điểm hay lãnh thổ, (b) Quyền lợi hay mối quan tâm, (c) Luật tục hay hương ước, (d) Bản sắc [dẫn theo Lê Diện Dực và Trần Thu Phương, 2004]. Theo Chung Hoàng Chương (2016), sáu cấp độ của cộng đồng để ứng biến với một vấn đề mang tính toàn cầu như BĐKH bao gồm (i) Cộng đồng làng xã; (ii) Cộng đồng quận, huyện; (iii) Cộng đồng tỉnh, thành; (iv) Cộng đồng quốc gia; (v) Cộng đồng khu vực; (vi) Cộng đồng quốc tế [dẫn theo Trần Thắng, 2016]. Dựa vào 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lãnh thổ khu vực và các mối quan tâm chung cũng hình thành các cộng đồng như: Cộng đồng Asean (AEC), Cộng đồng chung Châu âu (EU). Theo Lê Diên Dực [2000] thì tiếp cận dựa vào cộng đồng là một nguyên tắc mà những người sử dụng tài nguyên cũng phải là quản lý hợp pháp đối với nguồn tài nguyên đó.
Điều này giúp phân biệt nó với các chiến lược quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hoặc là có tính tập trung hóa cao hoặc là không có sự tham gia của cộng đồng phụ thuộc. Quản lý dựa vào cộng đồng là dựa trên tiền đề người dân địa phương, những người hơn ai hết quan tâm đến việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên, hơn cả những người quản lý hoặc tổ chức của nhà nước. Cộng đồng địa phương là những người hiểu hơn ai hết quá trình và thực hành sinh thái ở địa phương họ, và họ cũng là những người hơn ai hết có khả năng quản lý một cách hiệu quả những nguồn tài nguyên đó thông qua những hình thức sử dụng “truyền thống” hoặc địa phương [Tsing và cs. Theo Lê Văn An và cs.,[2016] mức độ tham gia của người dân địa phương được mô tả theo các cấp bậc: (1) Tham gia thụ động; (2) Tham gia cung cấp thông tin; (3) Tham gia tư vấn; (4) Tham gia thực hiện các hoạt động phát triển cộng đồng; (5) Tham gia trong quá trình ra quyết định và (6) Tham gia tự nguyện.
Vấn đề liên kết “4 nhà”: Nhà nước, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà nông đã được đề cập trong trong sản sản xuất nông nghiệp, trong đó có đất lúa nước [Nguyễn Duy Cần và cs., 2011; Nguyễn Phú Son, 2013; Trường Sinh, 2014] đã phần nào thể hiện liên kết giữa các bên liên quan. Tuy vậy, các nghiên cứu chưa làm rõ cơ sở lý luận để lựa chọn các “Nhà”, chưa đề cập đến sự đồng thuận của các bên liên quan, chưa nghiên cứu đến vai trò tri thức bản địa của những người sản xuất lúa. Trên cơ sở phân tích các bên liên quan [Lê Diên Dực, 2000], theo quan điểm của luận án thì có 5 cộng đồng liên quan đến sử dụng đất lúa nước: (i) Cộng đồng các nhà ra quyết định, (ii) Cộng đồng các nhà doanh nghiệp, (iii) Cộng đồng các nhà khoa học, (iv) Cộng đồng những người sản xuất, (v) Cộng đồng các nhà công nghiệp. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đối với sử dụng đất lúa nước, thì tiếp cận dựa vào cộng đồng chính là dựa vào những kinh nghiệm, tri thức bản địa của người dân [CARE, 2009] cùng với sự với sự tham gia của 4 cộng đồng (Các nhà ra quyết định, các nhà khoa học, các nhà doanh nghiệp, các nhà công nghiệp) trên cơ sở sự đồng thuận và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan [Lê Diên Dực, 2000].
Sử dụng khôn khéo đất lúa nước Triết lý của công ước Ramsar là khái niệm “Sử dụng khôn khéo”. Sử dụng khôn khéo ĐNN được định nghĩa là “duy trì đặc điểm sinh thái của ĐNN qua các tiếp cận hệ sinh thái trong khuôn khổ của phát triển bền vững”. Do đó tâm điểm của “Sử dụng khôn khéo” là bảo tồn và sử dụng bền vững ĐNN và tài nguyên của chúng vì lợi ích con người [Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012b; Ramsar, 2016]. Kể từ khi định nghĩa “Sử dụng khôn khéo” ra đời, khái niệm này có nhiều bước phát triển và thay đổi với những thuật ngữ tương tự nhưng được thể hiện cụ thể hơn.
Thuật ngữ đầu tiên liên quan đến sử dụng khôn khéo là “Sử dụng hợp lý” được Ủy ban về Rừng của Hoa Kỳ (U. Forest Service) đưa ra năm 1910 để mô tả khái niệm về khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên. Đối với sử dụng đất nông nghiệp, các nghiên cứu đề cập đến quản lý sử dụng đất bền vững như: FAO [1995] đã đưa một số tiêu chí cho nông nghiệp bền vững là: (1) Thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng cơ bản của các thế hệ hiện tại và tương lai về số lượng và chất lượng sản phẩm nông nghiệp; (2) Cung cấp việc làm lâu dài, đủ thu nhập và điều kiện sống; (3) Duy trì và tăng cường khả năng tái sản xuất các loại tài nguyên nông nghiệp (đất, nước, cây trồng, động vật nuôi); (4) Giảm thiểu rủi ro và khả năng bị tổn thương trong nông nghiệp. Theo Beek và cs.