Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Sử dụng khôn khéo đất lúa nước dựa vào cộng đồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang" do nghiên cứu sinh Hà Văn Định thực hiện tại Viện Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Diên Dực và TS. Nguyễn Võ Linh. Luận án thuộc chuyên ngành Môi trường và phát triển bền vững, bảo vệ năm 2018.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thực tiễn quản lý tài nguyên vùng ven biển ở nhiều quốc gia cho thấy các hệ thống quản lý tập trung hóa hoặc mang tính chất áp đặt từ trên xuống thường không đem lại hiệu quả bền vững (Lê Diên Dực, 2000; Trần Thị Út và cộng sự). Bên cạnh đó, các biện pháp can thiệp vật lý và giải pháp kỹ thuật công trình "cứng" như đê, kè biển, tường chắn sóng tuy cần thiết nhưng không đủ để đối phó với quy mô tác động ngày càng lớn của biến đổi khí hậu (BĐKH), đồng thời tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ cấu trúc các hệ sinh thái tự nhiên và làm suy giảm đa dạng sinh học (Nguyễn Văn Huy, 2013). Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 03/6/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã chỉ rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của công tác ứng phó BĐKH là chủ trương xã hội hóa chưa huy động được sự tham gia của các đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp, cộng đồng và người dân. Đồng thời, Chiến lược Quốc gia về BĐKH (Quyết định số 2139/QĐ-TTg ngày 05/12/2011) cũng xác định thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng là một trong mười nhiệm vụ trọng tâm, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh sử dụng tri thức bản địa và đa dạng hóa sinh kế.
Huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang nằm ở vùng hạ lưu ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, là địa bàn nhạy cảm và chịu tổn thương sâu sắc do BĐKH và hiện tượng nước biển dâng (NBD). Đất lúa nước là tư liệu sản xuất nông nghiệp chủ lực của huyện với diện tích canh tác năm 2015 đạt 10.797,3 ha, chiếm 56,65% tổng diện tích đất nông nghiệp. Giai đoạn 2002 - 2016, sản xuất lúa tại đây chịu thiệt hại nặng nề bởi thiên tai: diện tích lúa bị chết do ảnh hưởng của bão Durian, hạn hán và xâm nhập mặn lên tới 3.008 ha, gây thiệt hại ước tính 60,0 tỷ đồng. Trong bối cảnh đó, vấn đề cấp thiết đặt ra là tìm kiếm giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước dựa vào tri thức bản địa của người nông dân và sự tham gia của các bên liên quan, nhằm thích ứng với BĐKH và biến các tác động bất lợi thành cơ hội sản xuất mà không làm biến đổi các đặc tính cơ bản của hệ sinh thái.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Đề xuất được các giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước dựa vào cộng đồng để khắc phục những bất cập trong quản lý sử dụng đất lúa và thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Mục tiêu cụ thể:
- (i) Đánh giá thực trạng tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất cập trong quản lý sử dụng.
- (ii) Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những vấn đề đặt ra.
- (iii) Đánh giá được cộng đồng người sản xuất áp dụng tri thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu và sự tham gia của các cộng đồng liên quan.
- (iv) Đề xuất các giải pháp phát huy tri thức bản địa sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu có sự tham gia của cộng đồng.
Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu giải quyết bốn câu hỏi chính:
- (i) Tài nguyên đất lúa nước được sử dụng như thế nào? Nó có vai trò như thế nào đối với phát triển kinh tế - xã hội của huyện Gò Công Đông? Hiện tại, việc quản lý, sử dụng có những bất cập gì không?
- (ii) Biến đổi khí hậu tác động như thế nào đến sử dụng đất lúa nước hiện tại và trong tương lai? Có những vấn đề gì đặt ra cho sử dụng đất lúa nước?
- (iii) Cộng đồng những người sản xuất đã áp dụng tri thức bản địa để sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu như thế nào? Hiện tại, đã có những mô hình sử dụng khôn khéo thích ứng với biến đổi khí hậu do cộng đồng những người sản xuất thực hiện? Có những bất cập nào cản trở việc nhân rộng mô hình?
- (iv) Giải pháp nào để phát huy tri thức bản địa trong sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu? Việc nhân rộng mô hình có được cộng đồng địa phương chấp nhận không? Các bên liên quan tham gia vào các giải pháp đó như thế nào?
Luận điểm bảo vệ của luận án
- (i) Sử dụng đất lúa nước có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội huyện Gò Công Đông.
- (ii) Biến đổi khí hậu tác động đến lúa nước gây thu hẹp diện tích canh tác, diện tích gieo trồng lúa.
- (iii) Cộng đồng có vai trò quan trọng đối với việc xây dựng các giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước thích ứng với biến đổi khí hậu.
- (iv) Sử dụng khôn khéo đất lúa nước là sử dụng tri thức bản địa của cộng đồng người sản xuất và sự tham gia của các cộng đồng liên quan nhằm khắc phục được những bất cập trong quản lý sử dụng và có thể biến tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu thành những cơ hội mà không làm thay đổi những tính chất cơ bản của hệ sinh thái.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Tài nguyên đất lúa nước; các mô hình sử dụng đất lúa; cộng đồng những người sản xuất lúa và các nhóm cộng đồng liên quan tại địa phương.
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, với các địa điểm điều tra thực địa trọng điểm gồm xã Tân Thành, xã Phước Trung và xã Bình Nghị.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá hiện trạng và số liệu thứ cấp giai đoạn 2000 - 2015 và thiệt hại giai đoạn 2002 - 2016; dự báo tác động BĐKH đến năm 2050 và 2100.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Tổng quan tài liệu quốc tế được luận án hệ thống hóa qua ba nhánh nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu về tác động của biến đổi khí hậu: Các báo cáo của Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 1988, 2007, 2012) xác lập xu thế nóng lên toàn cầu, nước biển dâng do giãn nở nhiệt và tan băng. Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2010) ghi nhận thiệt hại do lũ lụt đô thị ven biển vượt 40 tỷ USD, đe dọa 178 triệu người. Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI, 2010) chỉ ra ngập úng làm Bangladesh và Ấn Độ mất khoảng 4 triệu tấn lúa mỗi năm, Philippines thiệt hại 65 triệu USD năm 2006, trong khi xâm nhập mặn khiến hơn 1 triệu ha đất lúa ven biển Bangladesh mất khả năng canh tác, năng suất giảm dưới 1,5 tấn/ha. UNCCD NAP (2002) chỉ ra nhiệt độ tăng làm độ ẩm đất nông nghiệp suy giảm gấp ba lần đất rừng; Nicholls (2003) phân tích tình trạng mất đất canh tác tại các vựa lúa châu Á. Các phương pháp mô hình hóa của ADB (2007), Magades (2009, vận dụng học thuyết Ricardo), WB (2005), GEF (2006), ICRISAT (2009) và Rao (2006) đã định lượng sự suy giảm năng suất lúa, đậu tương, cao lương khi nhiệt độ và lượng mưa biến động.
- Nghiên cứu thích ứng dựa vào cộng đồng (CBA): Chương trình CBA của UNDP (2008 - 2012) với quy mô 4,5 triệu USD tại 10 quốc gia khẳng định vai trò của nguồn lực địa phương và tổ chức quần chúng. Khung tiếp cận của tổ chức CARE (2009, 2014) tích hợp tri thức bản địa vào bốn chiến lược thích ứng sinh kế. Dự án của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 2014) tại Việt Nam, Campuchia và Thái Lan nhấn mạnh liên kết đa cấp từ xã đến vùng lãnh thổ. Bizikova và cộng sự (2009), Jonathan và cộng sự, Pascal và cộng sự chỉ ra yêu cầu phải kết hợp sức mạnh cộng đồng với sự hỗ trợ kỹ thuật và chính sách từ chính quyền.
- Nghiên cứu sử dụng đất lúa thích ứng BĐKH: Báo cáo của ADB (2009) và USAID (2009) đưa ra sáu nhóm hoạt động: điều chỉnh lịch thời vụ, thay đổi công nghệ canh tác, sử dụng giống chịu nhiệt, đa dạng hóa cây trồng luân canh, phát triển hệ thống cảnh báo sớm và cải thiện tưới tiêu. Palanisami và Krishna (2014), Phạm Hồng Phước (2012) phân tích các giải pháp tiết kiệm nước và cải tạo đất lúa tại Ấn Độ; Tâm Bình (2016) phản ánh hệ thống quản lý hồ đập kết hợp viễn thám tại Thái Lan; Dixon (2002 tại Ethiopia), Chithranayana và Punyawadena (2014 tại Sri Lanka) ghi nhận kinh nghiệm canh tác nương theo con nước tại các vùng đất ngập nước. Gyampoh và cộng sự (tại Ghana), Ajani và cộng sự, Tubiello và Vander Velde (2011), John (2009) khẳng định hiệu quả của đa dạng hóa sinh kế và nông lâm kết hợp chống chịu hạn hán.
Các hướng nghiên cứu trong nước
- Tác động BĐKH đến sản xuất lúa: Nguyễn Ngọc Anh (2010) phân tích chế độ dòng chảy mùa kiệt (tháng XI đến tháng VI) và hiện tượng giáp nước đẩy mặn vào sâu nội đồng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Nguyễn Sinh Huy (2010) dự báo khi nước biển dâng 1,0 m sau năm 2050 - 2100, mặn xâm nhập 50% diện tích, dòng chảy kiệt thượng nguồn xuống dưới 2.000 m³/s vào tháng 4 sẽ làm suy giảm nghiêm trọng hệ số quay vòng đất của các hệ thống 2 vụ và 3 vụ lúa. Nguyễn Thị Hồng Điệp và cộng sự (2015), Tăng Đức Thắng (2010), Lê Anh Tuấn (2009, 2011), Trần Xuân Biên và cộng sự (2016) chứng minh mặn hóa làm thu hẹp diện tích đất canh tác và đảo lộn lịch gieo sạ. Nguyễn Võ Linh (2012) xác định bốn nhân tố tác động mạnh nhất đến sản xuất lúa ĐBSCL gồm: NBD, khô hạn, xâm nhập mặn và ngập úng. Phạm Quang Hà và cộng sự (2013) sử dụng mô hình DSSAT dự báo năng suất lúa tiềm năng vụ Đông Xuân và Hè Thu vùng ĐBSCL giảm 6 - 7% vào năm 2050. Nguyễn Duy Khang (2009) tính toán theo kịch bản SRES A1B cho thấy diện tích tiềm năng canh tác 3 vụ lúa suy giảm từ 31% xuống còn 5%.
- Phương pháp và công cụ đánh giá: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016) xây dựng các kịch bản BĐKH chi tiết; Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn (IMHEN, 2011) ban hành quy trình đánh giá bảy bước; Trần Văn Tỷ và cộng sự (2015) ứng dụng chỉ số khô hạn SPI; Nguyễn Thị Hà Mi và Võ Quang Minh (2014), Nguyễn Thị Huệ và cộng sự (2013) dùng công nghệ GIS lập bản đồ ngập lụt đất lúa; Mai Văn Trịnh và cộng sự (2013) xây dựng bộ 30 chỉ số tác động cho bảy vùng sinh thái nông nghiệp.
- Thích ứng dựa vào cộng đồng và chính sách: Các chủ trương tại Nghị quyết 24-NQ/TW, Quyết định 2139/QĐ-TTg, Quyết định 333/QĐ-TTg; nghiên cứu liên kết "4 nhà" của Nguyễn Duy Cần và cộng sự (2011), Nguyễn Phú Son (2013), Trường Sinh (2014); các công trình về tri thức bản địa của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông Lâm Nghiệp miền núi (ADC, 2013, 2014), Nguyễn Mạnh Hùng (2014), Đoàn Ngọc Khôi và cộng sự.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
- Thuật ngữ "sử dụng khôn khéo" trước đây chỉ giới hạn trong bảo tồn đất ngập nước tự nhiên, chưa được áp dụng vào quản lý và sử dụng đất lúa nước - một dạng đất ngập nước nhân tạo.
- Trong nông nghiệp, các khái niệm "sử dụng hợp lý" hay "sử dụng bền vững" chủ yếu tập trung vào giải pháp công trình, phân bón, thủy lợi nhằm né tránh thiên tai, chưa xem BĐKH là cơ hội để chuyển đổi mô hình sinh kế và chưa bảo tồn chức năng sinh thái tự nhiên.
- Các mô hình liên kết sản xuất hiện hữu ("4 nhà") chưa làm rõ cơ sở lý luận, thiếu vắng sự tham gia của các tổ chức cung cấp dịch vụ cơ giới hóa (nhà công nghiệp), thiếu cơ chế đồng thuận và chia sẻ lợi ích, đồng thời chưa coi trọng vai trò tri thức bản địa của người nông dân.
- Chưa có nghiên cứu tích hợp phương pháp tiếp cận hệ sinh thái và tiếp cận cộng đồng để giải quyết bài toán sử dụng đất lúa nước thích ứng với BĐKH tại một huyện ven biển cụ thể như Gò Công Đông.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm và khung phân tích lý thuyết
- Đất lúa nước: Theo Công ước Ramsar (1971), đất lúa nước là loại hình đất canh tác ngập nước (loại hình thứ 18 trong danh mục đất ngập nước), có chế độ ngập theo mùa hoặc không thường xuyên (Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012a). Nghị định số 35/2015/NĐ-CP phân định thành đất chuyên trồng lúa nước (trồng từ 2 vụ trở lên) và đất lúa nước khác. Theo Nguyễn Võ Linh (2012), ngưỡng chịu đựng ngập nước của lúa là không chịu được mức ngập từ 50 cm trở lên kéo dài quá 2 - 3 ngày.
- Tiếp cận hệ sinh thái (EbA): Dựa theo Quyết định V/6 tại COP5 Công ước Đa dạng sinh học (CBD, 2000), 12 nguyên tắc của Gill Shepherd (2004) và nghiên cứu của Trương Quang Học và Hoàng Thị Ngọc Hà (2016a). Quan điểm nghiên cứu khẳng định sử dụng đất lúa nước phải thích ứng nương theo biến đổi sinh thái, không can thiệp bằng các công trình cơ học làm tắc nghẽn hoặc biến đổi chu trình tự nhiên.
- Tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA): Vận dụng 4 chuẩn mực cộng đồng của Gene Barrett (2001); 6 cấp độ ứng biến của Chung Hoàng Chương (2016); 6 bậc thang tham gia của Lê Văn An và cộng sự (2016); 9 bước tham gia của Isobel W. Heathcote (1998) và 5 nguyên tắc quản lý tài nguyên ven biển của Lê Diên Dực (2000) gồm: (1) Tăng cường quyền lực (trao quyền), (2) Tính hợp lý về sinh thái và phát triển bền vững, (3) Tạo sự công bằng và chia sẻ lợi ích, (4) Tôn trọng tri thức bản địa, (5) Bình đẳng giới.
- 5 cộng đồng liên quan: Luận án xác lập mô hình 5 bên tham gia quản lý sử dụng đất lúa nước:
- Cộng đồng các nhà ra quyết định: Cơ quan quản lý nhà nước (Phòng NN&PTNT, Phòng TN&MT, Sở NN&PTNT, Chi cục Bảo vệ thực vật...).
- Cộng đồng các nhà khoa học: Viện nghiên cứu, Trung tâm/Trạm Khuyến nông, Trạm Bảo vệ thực vật, Viện lúa ĐBSCL.
- Cộng đồng các nhà doanh nghiệp: Doanh nghiệp cung ứng giống, vật tư, thu mua và bao tiêu chế biến nông sản.
- Cộng đồng các nhà công nghiệp: Doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc tư nhân cung ứng dịch vụ máy móc cơ giới hóa sản xuất.
- Cộng đồng những người sản xuất lúa: Nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất lúa (chủ thể trung tâm).
- Tri thức bản địa: Định nghĩa theo UNESCO (2010), phân loại 6 dạng của Mathias (1995) và vai trò theo ADC (2013), bao gồm các kinh nghiệm dự báo khí tượng, nhận biết dấu hiệu hạn mặn, kỹ thuật chọn giống, kỹ thuật luân canh, né mặn được sàng lọc qua thực tiễn sản xuất.
- Sử dụng khôn khéo đất lúa nước: Là việc áp dụng tri thức bản địa của cộng đồng người sản xuất lúa và sự tham gia của 4 cộng đồng liên quan nhằm biến các tác động tiêu cực của BĐKH thành cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà không làm thay đổi những tính chất cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên.
| Tiêu chí so sánh |
Sử dụng khôn khéo |
Sử dụng hợp lý |
Sử dụng bền vững |
| Góc độ tiếp cận |
Tiếp cận trên quan điểm đất ngập nước |
Chưa đề cập tới quan điểm đất ngập nước |
Chưa đề cập tới quan điểm đất ngập nước |
| Bối cảnh nghiên cứu |
Đặt trọng tâm trong bối cảnh BĐKH |
Đề cập chưa rõ nét |
Đề cập chưa rõ nét |
| Vai trò tri thức bản địa |
Áp dụng tri thức bản địa của cộng đồng |
Chưa đề cập tới |
Chưa đề cập tới |
| Sự tham gia của các bên |
Nhấn mạnh vai trò và sự tham gia của 5 cộng đồng liên quan |
Chưa đề cập đến 5 cộng đồng |
Chưa đề cập đến 5 cộng đồng |
| Ứng xử với tác động BĐKH |
Biến tác động tiêu cực thành cơ hội, không làm thay đổi tính chất cơ bản của hệ sinh thái |
Chưa đề cập tới quan điểm này |
Chưa đề cập tới quan điểm này |
| Điểm tương đồng |
Đều hướng tới mục tiêu đạt hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường và né tránh rủi ro thiên tai |
|
|
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập tài liệu khí tượng thủy văn, số liệu thống kê sản xuất nông nghiệp, diện tích, năng suất, sản lượng lúa giai đoạn 2000 - 2015 từ Niên giám thống kê huyện Gò Công Đông, Sở TN&MT, Sở NN&PTNT tỉnh Tiền Giang.
- Phương pháp phân tích không gian địa lý (GIS) và mô hình hóa:
- Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ địa hình không gian 3D, chồng xếp các lớp bản đồ hiện trạng sử dụng đất với bản đồ ngập lụt, hạn hán.
- Sử dụng mô hình thủy lực ISIS tính toán diễn biến xâm nhập mặn và truyền triều trên hệ thống kênh rạch.
- Phân vùng hạn hán bằng chỉ số khô hạn SPI dựa trên chuỗi số liệu lượng mưa quá khứ và kịch bản BĐKH của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016).
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA):
- Thực hiện điều tra nông hộ bằng phiếu hỏi cấu trúc tại các xã Tân Thành, Phước Trung, Bình Nghị. Mẫu điều tra được phân tầng theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn và tình trạng kinh tế.
- Sử dụng các công cụ PRA: Sơ đồ Venn (xác định vị trí và mối quan hệ giữa 5 cộng đồng), ma trận phân tích SWOT, sơ đồ cây vấn đề, lịch mùa vụ canh tác và lát cắt điều tra thực địa nhằm phát hiện các mô hình canh tác thích ứng do người dân tự thực hiện.
- Phương pháp đánh giá đa tiêu chí (MCE - Multi-Criteria Evaluation):
- Ứng dụng quy trình phân tích thứ bậc (AHP) để đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của các mô hình sử dụng đất lúa.
- Thiết lập ma trận so sánh cặp đôi, tính toán vector trọng số cho các yếu tố cấp 1 và cấp 2, kiểm định độ tin cậy bằng tỷ số nhất quán CR (yêu cầu CR < 0,1) dựa trên bảng tra chỉ số ngẫu nhiên RI và tiến hành phân tích độ nhạy của các chỉ tiêu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu liên quan. Tác giả định nghĩa đất lúa nước dưới góc độ là một loại hình đất ngập nước theo Công ước Ramsar (1971), phân tích đặc tính sinh học của cây lúa và ngưỡng chống chịu ngập úng, xâm mặn. Luận án phân tích chi tiết khái niệm "sử dụng khôn khéo", làm rõ sự khác biệt giữa sử dụng khôn khéo với sử dụng hợp lý và sử dụng bền vững thông qua bảng so sánh tiêu chí. Luận án xây dựng khung phân tích kết hợp giữa tiếp cận hệ sinh thái (EbA) và tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA), xác định vai trò của 5 nhóm cộng đồng trong quản lý đất lúa. Phần tổng quan tài liệu điểm lại các nghiên cứu tác động của BĐKH, các chương trình thích ứng dựa vào cộng đồng của các tổ chức quốc tế (IPCC, WB, IRRI, UNDP, CARE, IUCN) và các công trình nghiên cứu trong nước tại ĐBSCL (Nguyễn Võ Linh, Nguyễn Sinh Huy, Phạm Quang Hà, Tăng Đức Thắng). Luận án chỉ ra khoảng trống về việc áp dụng khái niệm sử dụng khôn khéo vào đất lúa nước ven biển và sự cần thiết phải phát huy tri thức bản địa gắn với liên kết 5 bên.
Chương 2: Địa điểm, đối tượng, phạm vi, thời gian, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Gò Công Đông - khu vực chịu sức ép lớn từ triều cường và xâm nhập mặn. Tác giả cụ thể hóa nội dung nghiên cứu theo bốn mục tiêu đề ra. Phương pháp luận nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa kỹ thuật định lượng và định tính:
- Quy trình xử lý dữ liệu không gian: Ứng dụng công nghệ GIS, mô hình địa hình 3D, mô hình thủy lực ISIS và chỉ số hạn SPI để mô phỏng không gian ngập lụt, khô hạn và độ mặn theo kịch bản NBD 2050 và 2100.
- Quy trình điều tra xã hội học và PRA: Lập cấu trúc mẫu điều tra nông hộ đại diện tại các xã Tân Thành, Phước Trung, Bình Nghị; triển khai các công cụ sơ đồ Venn, phân tích SWOT, cây vấn đề, lát cắt thực địa.
- Quy trình đánh giá đa tiêu chí MCE: Xây dựng khung phân cấp chỉ tiêu đánh giá ba nhóm hiệu quả (kinh tế, xã hội, môi trường); thiết lập ma trận so sánh cặp đôi AHP, tính trọng số các chỉ tiêu và kiểm định chỉ số nhất quán CR đối chiếu chỉ số ngẫu nhiên RI.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận học thuật qua bốn nội dung lớn:
- Tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông và những bất cập: Năm 2015, diện tích đất lúa nước toàn huyện là 10.797,3 ha (chiếm 56,65% đất nông nghiệp). Đất lúa giữ vai trò quyết định đối với an ninh lương thực và sinh kế địa phương. Tuy nhiên, hệ số sử dụng đất có xu hướng biến động mạnh giai đoạn 2005 - 2015 do thiếu nước tưới. Phương thức quản lý bộc lộ nhiều bất cập: mang tính áp đặt chỉ tiêu diện tích cứng nhắc, thiếu sự tham gia của nông dân vào quy hoạch, hệ thống hạ tầng thủy lợi ngăn mặn còn mang tính cục bộ và chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm lúa gạo thiếu bền vững.
- Tác động của BĐKH đến đất lúa nước: Thống kê giai đoạn 2002 - 2016 ghi nhận 3.008 ha lúa bị thiệt hại, gây tổn thất 60,0 tỷ đồng do bão Durian, hạn hán và mặn xâm nhập. Kết quả chạy mô hình ISIS và GIS theo các kịch bản NBD cho thấy diện tích ngập triều và diện tích đất lúa bị nhiễm mặn (độ mặn vượt ngưỡng 4‰) tăng nhanh theo các kịch bản, đe dọa trực tiếp các xã dải ven biển, đặc biệt là vụ lúa Hè Thu. Chỉ số SPI cho thấy nguy cơ hạn kiệt nguồn nước ngọt nội đồng ngày càng gia tăng.
- Tri thức bản địa và sự tham gia của các cộng đồng: Điều tra PRA cho thấy nông dân địa phương tích lũy được kho tàng tri thức bản địa phong phú: quan sát thời tiết để dự báo hạn mặn, dịch chuyển lịch thời vụ gieo sạ né mặn, áp dụng các công thức luân canh linh hoạt (lúa - màu, 2 lúa - 1 màu). Sơ đồ Venn chỉ ra cộng đồng người sản xuất là chủ thể trung tâm nhưng tiếng nói trong việc lập kế hoạch sử dụng đất còn hạn chế. Kết quả tính toán vector trọng số và chỉ số nhất quán CR từ phương pháp MCE chứng minh mô hình luân canh thích ứng dựa vào cộng đồng đạt điểm số tổng hợp về kinh tế, xã hội và môi trường cao hơn hẳn mô hình chuyên lúa 3 vụ độc canh.
- Giải pháp sử dụng khôn khéo đất lúa nước: Đề xuất cơ chế hợp tác giữa 5 cộng đồng dựa trên 9 bước tham gia của Heathcote; vận dụng 5 nguyên tắc quản lý ven biển của Lê Diên Dực (trao quyền, công bằng và chia sẻ lợi ích, tính hợp lý sinh thái, tôn trọng tri thức bản địa, bình đẳng giới); thiết kế 3 mô hình tổ chức sản xuất có sự tham gia của cộng đồng nhằm tháo gỡ rào cản chính sách và nhân rộng phương thức sử dụng đất lúa linh hoạt.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án đã tích hợp thành công hai hướng tiếp cận: tiếp cận dựa vào hệ sinh thái (EbA) và tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA) vào việc giải quyết bài toán quản lý, sử dụng đất lúa nước tại dải ven biển. Công trình xác lập cơ sở khoa học khẳng định sự cần thiết phải kết hợp đồng thời ba chiều tiếp cận: tiếp cận từ dưới lên (cộng đồng người sản xuất), tiếp cận từ trên xuống (cơ quan quản lý nhà nước) và tiếp cận ngang (liên ngành giữa các bên liên quan).
- Bổ sung và phát triển khái niệm "Sử dụng khôn khéo đất lúa nước" từ quan điểm đất ngập nước của Công ước Ramsar đặt trong bối cảnh BĐKH. Luận án làm sáng tỏ luận điểm: BĐKH không chỉ mang lại tác động tiêu cực mà còn có thể trở thành cơ hội để chuyển đổi mô hình sinh kế nông nghiệp trên nền đất lúa mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn độc canh lúa, với điều kiện không làm biến đổi các tính chất cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Lượng hóa cụ thể phạm vi và mức độ tổn thương của tài nguyên đất lúa nước huyện Gò Công Đông trước các tác động của NBD, khô hạn và xâm nhập mặn thông qua việc kết hợp công nghệ GIS, mô hình thủy lực ISIS và chỉ số hạn SPI.
- Hệ thống hóa, phân loại và đánh giá khoa học kho tàng tri thức bản địa của người nông dân địa phương trong việc dự báo thời tiết, điều chỉnh lịch thời vụ và áp dụng các mô hình luân canh cây trồng thích ứng.
- Đề xuất quy trình phối hợp giữa 5 nhóm cộng đồng (nhà ra quyết định, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà công nghiệp, người sản xuất) dựa trên 9 bước tham gia cụ thể và 5 nguyên tắc quản lý tài nguyên ven biển.
- Đề xuất 3 mô hình tổ chức sản xuất có sự tham gia của cộng đồng nhằm thay thế mô hình độc canh lúa kém hiệu quả, cung cấp cơ sở thực tiễn để cơ quan quản lý điều chỉnh các rào cản chính sách, hỗ trợ chuyển đổi đất lúa linh hoạt.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Các mô hình thực nghiệm và đề xuất giải pháp của luận án được xây dựng dựa trên điều kiện sinh thái nông nghiệp và đặc thù xã hội của huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang (vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng bán nhật triều và mặn mùa khô). Do đó, việc áp dụng nguyên mẫu vào các tiểu vùng sinh thái khác của ĐBSCL (như vùng ngập lũ sâu Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên hay vùng bán đảo Cà Mau) đòi hỏi phải có những điều chỉnh phù hợp với điều kiện địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục nghiên cứu, theo dõi diễn biến lâu dài về tính chất thổ nhưỡng, độ phì nhiêu của đất và cân bằng sinh thái khi thực hiện các mô hình luân canh lúa - màu, lúa - thủy sản trong điều kiện không sử dụng đê bao ngăn mặn khép kín; đồng thời mở rộng nghiên cứu cơ chế liên kết chuỗi giá trị 5 bên ở quy mô liên huyện và liên vùng ven biển.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Tiền Giang và UBND huyện Gò Công Đông rà soát quy hoạch sử dụng đất, tháo gỡ quy định cứng nhắc về giữ đất lúa, thúc đẩy chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng linh hoạt trên đất lúa theo hướng thích ứng BĐKH.
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên và giảng viên: Là tài liệu tham khảo có giá trị phương pháp luận trong việc kết hợp công cụ định lượng kỹ thuật (GIS, mô hình ISIS, chỉ số SPI, phương pháp đánh giá đa tiêu chí MCE/AHP) với phương pháp định tính xã hội học có sự tham gia (PRA, sơ đồ Venn, SWOT) trong nghiên cứu khoa học môi trường và phát triển bền vững.
- Đối với cán bộ khuyến nông và nông dân: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa các kinh nghiệm bản địa quý báu về nhận biết thời tiết, kỹ thuật luân canh né mặn và các phương thức liên kết sản xuất hiệu quả giữa hộ nông dân với doanh nghiệp chế biến và đơn vị cung cấp dịch vụ cơ giới hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa "sử dụng khôn khéo đất lúa nước" khác với "sử dụng hợp lý" và "sử dụng bền vững" ở những điểm nào?
Sử dụng khôn khéo đất lúa nước là việc áp dụng tri thức bản địa của cộng đồng người sản xuất kết hợp với sự tham gia của 4 cộng đồng liên quan (nhà ra quyết định, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, nhà công nghiệp) để biến các tác động tiêu cực của BĐKH thành cơ hội nâng cao hiệu quả sử dụng đất mà không làm thay đổi các tính chất cơ bản của hệ sinh thái tự nhiên. Khái niệm này khác biệt ở chỗ: tiếp cận đất lúa dưới góc độ đất ngập nước theo Công ước Ramsar; đặt trọng tâm vào bối cảnh BĐKH; khai thác tri thức bản địa; huy động 5 nhóm cộng đồng; và xem BĐKH là cơ hội chuyển đổi sinh kế chứ không chỉ thuần túy né tránh hay chống chịu bằng công trình vật lý.
2. Số liệu thiệt hại do thiên tai và BĐKH gây ra đối với sản xuất lúa tại Gò Công Đông được ghi nhận cụ thể ra sao?
Theo số liệu thống kê được luận án trích xuất, riêng trong giai đoạn 2002 - 2016, sản xuất lúa trên địa bàn huyện Gò Công Đông đã gánh chịu thiệt hại nghiêm trọng do tác động tổng hợp của bão Durian, hạn hán và xâm nhập mặn, làm cho 3.008 ha lúa bị chết hoàn toàn, với tổng giá trị thiệt hại kinh tế ước tính lên tới 60,0 tỷ đồng.
3. Năm nhóm cộng đồng liên quan trong mô hình quản lý đất lúa gồm những chủ thể nào và ai là trung tâm?
Năm nhóm cộng đồng gồm: (1) Cộng đồng các nhà ra quyết định (Phòng NN&PTNT, Phòng TN&MT, Sở NN&PTNT...); (2) Cộng đồng các nhà khoa học (Viện Lúa ĐBSCL, hệ thống khuyến nông, bảo vệ thực vật...); (3) Cộng đồng các nhà doanh nghiệp (cung ứng giống, vật tư, thu mua lúa gạo); (4) Cộng đồng các nhà công nghiệp (cung ứng máy móc, dịch vụ cơ giới hóa); (5) Cộng đồng những người sản xuất lúa (nông dân, tổ hợp tác, hợp tác xã). Trong đó, cộng đồng những người sản xuất lúa giữ vai trò là chủ thể trọng tâm vì họ trực tiếp canh tác, tiếp nhận, phản hồi chính sách và kiểm chứng hiệu quả các giải pháp thích ứng.
4. Phương pháp đánh giá đa tiêu chí (MCE) được luận án sử dụng nhằm mục đích gì?
Phương pháp MCE kết hợp phân tích thứ bậc AHP được sử dụng để lượng hóa và đánh giá tổng hợp hiệu quả của các kiểu/mô hình sử dụng đất lúa dựa trên ba nhóm chỉ tiêu: kinh tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc thiết lập ma trận so sánh cặp đôi, tính toán vector trọng số, kiểm định tỷ số nhất quán CR và phân tích độ nhạy, phương pháp này cho phép chứng minh một cách khách quan tính ưu việt của các mô hình luân canh thích ứng có sự tham gia của cộng đồng so với mô hình độc canh lúa truyền thống.
5. Những nguyên tắc cốt lõi nào được luận án áp dụng để xây dựng giải pháp quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng?
Luận án vận dụng 5 nguyên tắc quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng của Lê Diên Dực (2000), bao gồm: (1) Tăng cường quyền lực hay trao quyền cho cộng đồng địa phương; (2) Đảm bảo tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền vững (không can thiệp thô bạo làm biến đổi dòng chảy và hệ sinh thái); (3) Tạo ra sự công bằng và chia sẻ lợi ích giữa các bên liên quan; (4) Tôn trọng các tri thức truyền thống/bản địa của cộng đồng; (5) Đảm bảo sự bình đẳng giới trong phân công lao động và ra quyết định.
Kết luận
Luận án của tác giả Hà Văn Định là công trình nghiên cứu chuyên sâu về khoa học môi trường và phát triển bền vững, giải quyết thành công bài toán sử dụng tài nguyên đất lúa nước ven biển trong điều kiện biến đổi khí hậu tại huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Bằng việc tích hợp cách tiếp cận hệ sinh thái (EbA) với cách tiếp cận dựa vào cộng đồng (CBA), luận án đã khẳng định vai trò trung tâm của người nông dân cùng kho tàng tri thức bản địa trong việc ứng phó với hạn mặn. Công trình cung cấp hệ thống phương pháp luận chặt chẽ kết hợp GIS, mô hình thủy lực và đánh giá đa tiêu chí MCE, đồng thời đề xuất cơ chế phối hợp 5 bên cùng các mô hình sản xuất có tính khả thi cao nhằm biến nguy cơ thiên tai thành cơ hội phát triển sinh kế bền vững cho vùng đồng bằng ven biển.