Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu nuôi trồng nấm ăn có bƣớc phát triển nhảy vọt ở nhiều nƣớc trong đó có Việt Nam. Nƣớc ta là một nƣớc nông nghiệp với nguồn phụ phế phẩm giàu Xenlulozo và Lignin hết sức phong phú. Tỷ lệ nông dân chiếm phần lớn dân số lại có nhiều thời gian nhàn và rất muốn có thêm nghề phụ để nâng cao thu nhập. Nấm sò trắng hay nấm bào ngƣ trắng là loại nấm khá phổ biến và có thị trƣờng tiêu thụ khá rộng và ít bị cạnh tranh.
Trong khi đó, việc chế biến 10 triệu tấn mía để làm đƣờng trong nhà máy đƣờng sinh ra một lƣợng phế thải khổng lồ: 2,5 triệu tấn bã mía, 250.000 tấn bã bùn (sau khi đã lấy nƣớc đƣờng) và 250.000 tấn mật rỉ. Trƣớc đây 80% lƣợng bã mía này đƣợc dùng để đốt lò hơi trong các nhà máy sản xuất đƣờng, sinh ra 50.000 tấn tro và 20% còn lại là 500. Ngoài ra, lƣợng mía tiêu thụ riêng lẻ tại khu dân cƣ rất lớn đặc biệt là mùa hè. Với lƣợng bã mía dồi dào tạo điều kiện thuận lợi cho việc nuôi trồng nấm sò.
Tại nhà máy mía đƣờng, ngƣời ta sự dụng bã mía sản xuất phân vi sinh hoặc bột giấy. Còn ở các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ dùng bã mía làm chất đôt hoặc thải trực tiếp ra ngòai môi trƣờng gây ảnh hƣởng lớn đến môi trƣờng và cảnh quan. Để khắc phục đƣợc điều này, một biện pháp kinh tế và an toàn hơn cả là tận dụng bã mía vào việc trồng nấm và góp phần bảo vệ môi trƣờng. Do đó chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sử dụng bã mía làm giá thể trồng nấm bào ngư trắng tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” n 2 1.
Mục đính nghiên cứu Nghiên khả năng sử dụng bã mía làm giá thể trồng nấm bào ngƣ trắng và đƣa ra công thức phù hợp trồng nấm bào ngƣ trắng phù hợp với tình hình thực tế của xã hội. Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng kỹ thuật trồng nấm bào ngƣ phù hợp với thực tế xã hội. Đánh giá khả năng sinh trƣởng của nấm bào ngƣ trắng trên các giá thể nghiên cứu. Đề xuất ra giải pháp nâng cao hiệu quả giá thể nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Tạo cơ hội cho em tiếp cận với những thách thức trong thực hiện 1 đề tài nghiên cứu khoa học trong thực tiễn, đƣợc có cơ hội vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện các kỹ năng tổng hợp phân tích số liệu, tiếp thu học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Củng cố kiến thức cơ sở cũng nhƣ kiến thức chuyên ngành. Tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác sau này 1.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Xây dựng ra công thức phù hợp đề sử dụng bã mía làm nguồn cơ chất trồng nấm bào ngƣ trắng - Giải quyết đƣợc một phần chất thải hữu cơ ngoài môi trƣờng - Tạo ra công ăn việc làm cho ngƣời dân, nâng cao thu nhập trên địa bàn nghiên cứu 1. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập đƣợc phải chính xác, khách quan. - Nắm chắc các quy trình sản xuất nấm bào ngƣ trắng n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Điều kiện nuôi trồng nấm tại Việt Nam Đặc điểm khí hậu Việt Nam Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Á và là nơi chuyển tiếp giữa đại lục Châu Á và hai đại dƣơng là Thái Bình Dƣơng và Ấn Độ Dƣơng. Khí hậu Việt Nam là khí hậu nhiệt đới gió mùa do nằm ở trong vùng nhiệt đới và nằm ở phía Nam của châu Á nên chịu ảnh hƣởng của gió mùa nơi đây. Ở vị trí này nên nền nhiệt của nƣớc ta trung bình tử 22 -27 oC. Hằng năm, có khoảng 100 ngày mƣa với lƣợng mƣa trung bình từ 1.
Độ ẩm không khí trên 80%. Chế độ gió mùa cũng là một yếu tố ảnh hƣởng rất nhiều tới khí hậu Việt Nam. Nhìn chung, Việt Nam có một mùa nóng mƣa nhiều và một mùa tƣơng đối lạnh và ít mƣa. Vì sự thay đổi này khiến cho thảm thực vật tại Việt Nam là vô cùng phong phú, đặc biệt là điều kiện cho rất nhiều loại nấm tồn tại và phát triển.
Đặc điểm nền nông nghiệp nƣớc ta Với nền văn minh lúa nƣớc lâu đời, Việt Nam có một nền mong vững chắc trong ngành nông nghiệp. Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế nƣớc ta. 10 mặt hàng XK đạt „tỷ đô” năm 2014: kim ngạch XK gỗ và các sản phẩm gỗ đạt 6,54 tỷ USD; tôm: 4 tỷ USD; cà phê: 3,6 tỷ USD; gạo: 3,0 tỷ USD; điều: 2 tỷ USD; cá tra: 1,8 tỷ USD; cao su: 1,8 tỷ USD; tiêu: 1,2 tỷ USD; sắn: 1,12 tỷ USD; rau quả: 1,47 tỷ USD. (Bộ Nông Nghiệp và Phát Tiển Nông Thôn ,2015) [12] n 4 Tỉ lệ thuận với việc nền nông nghiệp phát triển là việc các phế phụ phẩm nông nghiệp cũng tang nhanh nếu không tìm ra một giải phát phù hợp và kịp thời ta không thể phát triền nền kinh tế nông nghiệp một cách bền vững và hiệu quả.
Giải pháp hiệu quả và tối ƣu nhất đƣợc đặt ra hiện nay là sử dụng các phế phụ phẩm trong quá trình sản suất nông nghiệp nhƣ một nguồn nguyên liệu mới để cung cấp cho những ngành khác. Công nghệ nuôi trồng nấm Trong các vi sinh vật có ích đƣợc sử dụng nhiều nhất, gần gũi với con ngƣời nhất, ta phải kể tới nấm. Nấm là một loài sinh vật nhân thật không có diệp lục, dị dƣỡng Đa số các loại nấm đều cấu tạo từ các sợi nấm. sợi nấm có dạng ống, chứa đầy tế bào chất và dịch bào.
Nấm ăn là một loại nấm có quả thể lớn cung cấp nguồn thực phẩm cho con ngƣời. trong thiên nhiên có nhiều loại nấm ăn nhƣng sản xuất nấm ăn theo quy trình và công nghệ chỉ mới có hơn 20 loài. Hầu hết chúng thuộc ngành phụ nấm đảm và một phần thuộc ngành nấm túi. Sinh sản của nấm: Sinh sản vô tính: Nếu cắt một mô nấm vào môi trƣờng nhân tạo, một thời gian ta có thể có sợi nấm.
Sợi nấm thu đƣợc có thể phục hồi đặc tính di truyền của chúng và hình thành bào tử vô tính. Sinh sản hữu tính: Quá trình sinh sản có thể diễn ra giữa 2 thể sợi nấm hoạc 2 tế bào khác tính và hình thành bao tử hữu tính. Sinh sản hữu tính phải trải qua các giai đoạn: chất phối, nhân phối, giảm phân, gián phân rồi hình thành 4 bào tử đảm. bào tử hình thành sợi nấm đơn bội Điều kiện sinh trưởng của nấm ăn: Nhiệt độ: Nhiệt độ ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của nấm thể hiện qua 2 mặt: n 5 Nhiệt độ tăng cao, tốc độ phản ứng sinh hóa tang nhanh nên sinh trƣởng và phát triển nhanh: nhƣng tăng đến một lúc nào đó nhiệt độ tiếp tục tăng khiến cho protein và axit nucleic phá hủy khiến cho nấm bị ức chế sinh trƣởng thậm chí có thể bị chết Dinh dƣỡng: o Hợp chất các bon hữu cơ: xenlulozo, hemixenlulo, linin, tinh bột, pectin, axit hƣu cơ, cồn, rƣợu đƣờng đôi và đƣờng đơn o Chất chứa nito: Protein, ure, muối NH4+ , NO3 o Các muối vô cơ: các loại nấm khác nhau yêu cầu các loại muối khác nhau: nấm hƣơng: NaNO3, KNO3, NH4Cl,… o Tỷ lệ C/N: trong giai đoạn sinh dƣỡng thì C/N = 20 : 1, Trong giai đoạn sinh sản thì C/N = 30 – 40 :1 thì thích hợp o Các chất khoáng: cần 5% khối lƣợng khô bao gồm: P,K, Mg, S, Cu, Fe,… o Nƣớc: nếu nƣớc không đủ thì nấm sinh truongr chậm, nếu nƣớc nhiều dễ sinh nấm mốc.
Nói chung độ ẩm giai đoạn sợi 60 – 70%, giai đoạn phát triển quả thể 85 – 95%. Ánh sáng: Nấm ăn không có diệp lục cho cây xanh nên không cần ánh sáng liên tục nhƣng tùy thuộc vào loại nấm và giai đoạn phát triển mà yêu cầu cƣờng độ ánh sáng khác nhau: - Không cần ánh sáng - Cần ánh sáng phân tán - Cần ánh sáng nhƣng cần che tối trong thời gian ngắn - Cần ánh sáng Không khí: nấm ăn luôn phải hô hấp nên không thể thiếu O2 đƣợc. các loài nấm khác nhau cần tỉ lệ O2 và CO2 khác nhau. Nhƣng khi hình thành quả thể thì O2 phải tăng lên để đảm bảo chất lƣợng nấm ăn.
n 6 pH: Phần lớn loại nấm ăn yêu cầu trị số pH 3-8 nhƣng thích hợp nhất là 5 – 5,5. Trị số pH ảnh hƣởng tới sự nảy màn của bào tử ví dụ : Nấm rơm pH là 7.5 nảy mầm rất nhiều nhƣng pH là 8 thì không nảy mầm Tóm lại đối với những loại nấm ăn khác nhau chúng ta cần phải xem xét kĩ lƣỡng, từ yêu cầu dinh dƣỡng, nhiệt độ, độ ẩm… để đạt đƣợc hiểu quả tốt nhất trong quá trình nuôi trồng. Tình hình sản xuất nấm trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất trên thế giới Ngành sản xuất nấm ăn đã hình thành và phát triển trên thế giới hàng trăm năm nay.
Hiện nay, ngƣời ta đã biết 2000 loài nấm ăn , trong đó có 80 loại nấm ăn ngon và đang đƣợc trồng, nghiên cứu nuôi trồng nhân tạo (UNESSCO – 2004). Việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm ngày càng phát triển mạnh mẽ, đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ. Sản lƣợng nấm ăn nuôi trồng năm 2010 đạt 36 triệu tấn nấm tƣơi. Ở Châu Âu và Bắc Mĩ trồng nấm đã trở thành một ngành công nghiệp lớn đƣợc cơ giới toàn bộ nên năng suất và sản lƣợng rất cao.
Các loại nấm đƣợc nuôi trồng đa số là nấm mỡ, nấm bào ngƣ trắng do sản lƣợng nấm rất cao Nhiều nƣớc ở Châu Á, trồng nấm còn mang tính chất thủ công nên sản lƣởng nấm không cao, nhƣng sản xuất gia đình, trang trại với số đông nên sản lƣợng rất lớn chiếm khoảng 70% sản lƣợng trên thế giới. Các nƣớc Đông Bắc Á nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản và vùng lãnh thổ Đài Loan áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong nghề nấm đã đạt những thành quả vƣợt bậc. Nhật Bản có nghề trồng nấm truyền thống là nấm Hƣơng mỗi năm đạt hành triệu tấn. Hàn Quốc nổi tiếng với nấm Linh Chi mỗi năm xuất khẩu tu về hàng trăm triệu USD.
Ở Trung Quốc, từ những năm 60 đã bắt đầu trồng nấm áp dụng biện pháp tiên tiến năng suất tăng 4-5 lần và sản lƣợng tăng tới chục lần Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển mạnh trong 20 năm gần đây.