đặt vấn đề: làm thế nào những cấu trúc hạ tầng do con người xây dựng có thể chịu được những khối nặng khổng lồ mà không bị sụp đổ. Ông lý giải : “load”- khối nặng đè lên cấu trúc; “stress”- phần bị khối nặng đè lên, và “strain”- sự thay đổi hình dạng do tương tác giữa khối nặng và stress. Những khái niệm này và nhiều khái niệm khác đều hàm ý chung: stress là những tác động của yếu tố bên ngoài đòi hỏi sự đáp ứng của hệ sinh – tâm lý - xã hội. Sự đóng góp của Hooke bởi thuyết “tương đồng cấu trúc” và ý tưởng “cơ thể như một cỗ máy” đặt nền móng cho hai ý tưởng khác có ảnh hưởng sâu sắc đến khái niệm về stress.
Đó là: -Thứ nhất: cơ thể được xem như cỗ máy là vật bị hư tổn và bào mòn.Selye cũng cho rằng stress tác động làm cơ thể “hư tổn và bào mòn”. -Thứ hai: cỗ máy cần nhiên liệu để hoạt động, cơ thể để hoạt động được cũng cần năng lượng. Tuỳ thuộc vào năng lượng- sản phẩm của hệ thần kinh, cơ thể sẽ hoạt động hiệu quả, kém hiệu quả hoặc thậm chí ngừng hoạt động. Các nhà khoa học nhanh chóng sử dụng những khái niệm “sự cạn kiệt năng lượng thần kinh” và “những rối loạn thần kinh” (52,tr3-4).
Cùng thời, René Descartes(1546-1650) với những lý giải của mình cũng để lại dấu ấn nhất định, không ở khái niệm stress, thì cũng trên lĩnh vực tâm lý học nghiên cứu stress hiện nay. Ông đưa ra câu trả lời cho vấn đề mối quan hệ giữa tâm trí và cơ thể : “tinh thần phi vật chất có thể ảnh hưởng đến cơ thể vật chất”. Cho tới nay, vấn đề tinh thần – cơ thể có lẽ vẫn là vấn đề chưa có lời giải đáp. Nhưng, cách tiếp cận của Descartes: “Mọi người đều trải qua những kinh nghiệm thể lý và tinh z thần, và đều cảm nhận rằng chúng ảnh hưởng lẫn nhau” đang được nhiều người quan tâm (52,tr4).
Thế kỷ 18, những “cảm xúc mạnh” như: trạng thái thần kinh bị kích động, chứng hysteri, ảo tưởng, được xem xét lại như lời giải thích cho bệnh tật. Khi dùng những trạng thái đó để giải thích, nhiều người đã đi tới kết luận: “Ít nhất 1/3 căn bệnh đều có nguồn gốc thần kinh”. Các nhà khoa học và lý luận phê bình xã hội cùng thời cũng nhận định: “Hệ thần kinh của con người thích nghi kém và không thể đương đầu với tính phức tạp đang ngày càng tăng của cuộc sống hiện đại” (52,tr4). Thế kỷ 19, George Beard- bác sĩ thần kinh người Mỹ cho rằng: cuộc sống với những yêu cầu đầy áp lực là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự quá tải của hệ thần kinh- “suy nhược thần kinh”.
Tình trạng này được biểu hiện bởi những triệu chứng như: lo âu không lành mạnh, mệt mỏi không rõ lý do, và những nỗi sợ vô lý – mà nguyên nhân là do hệ thần kinh không có khả năng đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hàng ngày. Beard cũng cho rằng suy nhược thần kinh là hậu quả của “một loại tổ chức xã hội nào đó”, và “ông cố gắng làm rõ vai trò của xã hội trong việc tạo ra những căn bệnh tâm thần” (52,tr5-7), chính ở khía cạnh này, nghiên cứu của ông vẫn còn giá trị cho tới ngày nay. Năm 1859, nhà sinh lý học Pháp, Claude Bernard, đã đưa khái niệm “milieu intérieur ( môi trường bên trong cơ thể), xem cơ thể con người phức tạp như một “tập hợp những tồn tại đơn giản, như là những nhân tố giải phẫu” Khái niệm này mô tả nguyên lý: Chính sự hoà hợp và ổn định của môi trường bên trong-được quyết định bởi môi trường bên ngoài (nhiệt độ, dã thú…) - là điều kiện để có cuộc sống bình thường, tức là những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng những thay đổi đó. Tuy nhiên nếu chúng bị xáo trộn quá mức bình thường, con người sẽ đau ốm hoặc có thể chết.
Theo ông, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết bằng cách sắp đặt và z làm hài hoà hoạt động của cơ thể. Ông nhấn mạnh, chỉ có động vật cao cấp nhất trong sự phát triển chủng loại mới có hệ thần kinh làm được nhiệm vụ này. Dựa vào sự phát hiện của Claude Bernard, các nhà nghiên cứu sau này đã khám phá bản chất của những thay đổi thích ứng mà nhờ đó tình trạng ổn định được duy trì (52,tr5-7).Những nghiên cứu stress ở thế kỷ XX 1.Trên thế giới Đầu thế kỷ XX, Walter Cannon nhà sinh lý học trường Harvard (Mỹ) người đặt nền móng cho việc nghiên cứu thực nghiệm tương đối có hệ thống về những ảnh hưởng của stress qua các quan sát chi tiết của ông(1927) về sự thay đổi của cơ thể khi bị đau đớn, đói và một số cảm xúc căn bản khác. Đặc biệt trong tác phẩm nổi tiếng “Sự khôn ngoan của cơ thể” đã đưa ra khái niệm “tự điều chỉnh, cân bằng nội môi” (“homeostasis”) và khái niệm “chống trả hoặc bỏ chạy” (“the fight- or- fight reaction”)(48).
Ông nhận thấy có một trình tự hoạt tính được phát khởi trong các dây thần kinh và các tuyến nội tiết nhằm chuẩn bị để có thể chiến đấu chống lại hoặc bỏ chạy để bảo toàn tính mạng trước những đe doạ của ngoại cảnh. Con người nhanh chóng nắm được bản chất của kích thích và những hành động bỏ chạy hay chiến đấu với kích thích.Thậm chí, nếu không có hành động nào xảy ra, có thể giữ nguyên trong trạng thái thức tỉnh một khoảng thời gian kèm theo là sự cảm nghiệm kích thích hàng loạt phản ứng ở vị trí đầu tiên. Homeostasis là khuynh hướng của cơ thể trở về trạng thái sinh lý trước khi xảy ra stress (thở, nhịp tim…) (60). Trung tâm của đáp ứng với stress là vùng dưới đồi, đôi khi được gọi là trung tâm stress là vì nó kiểm soát hệ thần kinh tự chủ và hoạt hoá tuyến yên.
Nghiên cứu của Cannon, đặc biệt khái niệm “chống trả hoặc bỏ chạy” là tiền đề cho các nghiên cứu sau này.Pavlov cũng đã nêu ra đặc trưng của khái niệm “Tự điều chỉnh, cân bằng nội môi”: “. Cơ thể là một hệ thống tự điều chỉnh, và là một hệ z thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tự hiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí hoàn thiện bản thân”(34,tr227). Sau Đại chiến thế giới lần II, W.Rivers, một bác sĩ tâm thần, cũng là nhà nhân chủng học làm việc ở Anh, đã đặt ra những tiền đề cho các nhà nghiên cứu khoa học ngày nay về tình trạng được gọi là rối loạn stress sau sang chấn (29,tr9). Năm 1936, Hans Selye, nhà nội tiết học người Canada đã mở rộng nghiên cứu của Cannon và là người đầu tiên theo phương pháp hiện đại nghiên cứu các ảnh hưởng của stress nặng tác động liên tục lên cơ thể.
Ông mô tả stress theo thuật ngữ “Hội chứng thích nghi chung”(GAS: General Adaptation Syndrome) qua 3 giai đoạn (báo động, kháng cự và kiệt sức). Hội chứng này được mô tả theo mô hình sau: Mức kháng cự bình thường Báo động cơ thể Kháng cự cơ thể cố gắng Kiệt sức huy động đối phó đối phó hoặc thích nghi với cơ thể mất khả với tác nhân gây stress tác nhân gây stress năng đối phó và có thể dẫn đến tử vong z H1: Hội chứng thích nghi chung(33,tr429) - Giai đoạn thứ nhất (báo động và huy động sức lực ): xảy ra khi người ta ý thức sự hiện diện của tác nhân gây stress.Về mặt tâm lý, phân hệ thần kinh giao cảm được kích thích trong suốt giai đoạn báo động và động viên này. Sự kéo dài tình trạng phát động hệ thần kinh này có thể dẫn đến các rối loạn trong hệ tuần hoàn máu hoặc bệnh loét dạ dày và cơ thể dễ mắc nhiều thứ bệnh khác. - Giai đoạn thứ hai (đối phó và thích ứng):Trong giai đoạn đối phó và thích ứng, con người dùng rất nhiều biện pháp để thay đối phó với tác nhân gây stress- đôi khi thành công-nhưng cái giá phải trả là đánh mất phần nào nói chung về mặt cơ thể hay về mặt sinh lý.
Nếu đối phó không đúng mức sẽ tiến đến thời kỳ cuối. - Giai đoạn cuối (kiệt sức):Trong giai đoạn này, khả năng thích ứng với tác nhân gây stress của con người sút giảm xuống đến mức các hậu quả tệ hại của stress xuất hiện: bệnh cơ thể, các triệu chứng tâm lý dưới dạng mất khả năng tập trung tinh thần, dễ cáu giận hoặc trong vài trường hợp bị mất định hướng và mất khả năng tiếp xúc với thực tại.Theo một ý nghĩ nào đó người ta hoàn toàn kiệt sức. Nếu stress chấm dứt, giai đoạn ba sẽ dẫn đến sự chết đi của cơ quan nào đó. Nghiên cứu của Selye giúp chúng ta hiểu tác động ngắn hạn của những sự kiện gây stress và những ảnh hưởng của stress đồng bộ.
Selye đã đóng góp ba thuật ngữ quan trọng là: eustress (stress tích cực), neustress (stress trung tính) và distress (stress tiêu cực). Năm 1970, ông phân bốn loại : eustress (stress hữu ích), distress (stress tiêu cực), hyperstress (overstress : stress quá mức) và hypostress (understress: stress dưới mức).Theo Selye, không phải tất cả các loại stress đều xấu, nhưng khi nói về stress là người ta nghĩ đến stress tiêu cực (distress) (60).Selye đã có hơn 1500 công bố khoa học, và 30 cuốn sách chuyên khảo. Công trình của ông còn được tiếp tục tại Đại học Selye-Toffler để xem xét những vấn đề thách thức của xã hội hiện đại là căng thẳng thần kinh và thể xác, sự thay đổi và tương lai (4,tr22;18,tr8).Tuy nhiên đánh giá về mô hình GAS chúng ta z thấy rằng mô hình hoàn toàn căn cứ vào các nhân tố sinh lý nên không quan tâm đến các nguyên nhân tâm lý. Dù vậy mô hình vẫn đề ra cơ sở cho việc tìm hiểu stress.Parin đã nhận xét: “Khái niệm stress của H.Selye đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh.
Quan điểm của ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối, bây giờ đã nhận được sự phổ biến rộng khắp. Nói một cách tổng quát, học thuyết của nhà bác học Canada nổi tiếng này có thể được coi là hệ thống luận điểm cơ bản, đặt nền móng cho sự phát triển của khoa học y học hiện đại”. Không quên công lao đóng góp và tiếp tục công trình của ông, kể từ hội nghị quốc tế tại Montreux (1988) đến nay đã có gần 20 hội nghị về stress được tổ chức.