Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill.), thuộc họ Cà (Solanaceae), là một trong những loại rau ăn quả quan trọng và được canh tác phổ biến trên quy mô toàn cầu. Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê năm 2010, diện tích trồng cà chua cả nước đạt khoảng 17,6 nghìn ha với năng suất trung bình 11,6 tấn/ha. Bên cạnh vụ đông truyền thống (chính vụ), việc mở rộng sản xuất cà chua sang các vụ sớm (thu đông), vụ muộn (đông xuân) và đặc biệt là vụ xuân hè được xem là bước tiến kỹ thuật quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu rau quả trái vụ và gia tăng hiệu quả kinh tế cho người nông dân.
Tuy nhiên, sản xuất cà chua vụ xuân hè tại Việt Nam nói chung và khu vực Trung du miền núi phía Bắc nói riêng đang đối mặt với nhiều rào cản kỹ thuật:
- Tình trạng thiếu hụt bộ giống thích ứng chuyên biệt cho từng mùa vụ và vùng sinh thái.
- Trình độ thâm canh và đầu tư của người sản xuất còn hạn chế, quy trình bón phân chưa cân đối giữa các thời kỳ sinh trưởng.
- Điều kiện thời tiết vụ xuân hè nóng và ẩm tạo môi trường thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh gây hại nặng (đặc biệt là bệnh héo rũ vi khuẩn, bệnh xoăn lá do virus, sâu ăn lá, sâu đục quả), dẫn đến hiện tượng rụng hoa, rụng quả nghiêm trọng.
- Việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học không bảo đảm thời gian cách ly gây ô nhiễm môi trường, tồn dư hóa chất trên nông sản và làm tăng chi phí sản xuất.
Xuất phát từ thực tiễn trên, việc ứng dụng kỹ thuật ghép cà chua lên gốc ghép có khả năng chống chịu sâu bệnh và bất thuận thời tiết (cụ thể là gốc cà pháo) được xác định là hướng tiếp cận cần thiết. Đề tài "Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển một số giống cà chua nhập nội vụ xuân hè 2014 tại Thái Nguyên" do sinh viên Vũ Văn Cường thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thế Huấn tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này.
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định được một số tổ hợp ghép cà chua thích hợp làm tăng khả năng chống chịu sâu bệnh hại và nâng cao năng suất, chất lượng cà chua trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên.
Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 4 nội dung đánh số theo văn bản):
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của giống cà chua triển vọng trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên ở các công thức khác nhau.
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại ở các công thức thí nghiệm.
- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của cà chua ở các công thức.
- Đánh giá chất lượng cà chua ở các công thức khác nhau.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các giống cà chua thương phẩm nhập nội (Savior, Đại Minh Châu, Năm Tốt) và gốc ghép cà pháo địa phương.
- Phạm vi không gian: Khu thí nghiệm nhà lưới Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Vụ Xuân Hè năm 2014 (từ tháng 1/2014 đến tháng 6/2014).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và tổng quan tư liệu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh học và hóa sinh của cây cà chua. Theo công bố của Tạ Thu Cúc và cộng sự, quả cà chua chín chứa 94 - 95% nước và 5 - 6% chất khô; trong đó đường (glucoza, fructoza, saccaroza) chiếm 55%, hợp chất không tan trong rượu chiếm 21%, axit hữu cơ chiếm 12%, chất vô cơ chiếm 7% cùng các hợp chất có hoạt tính sinh học như vitamin C, vitamin A, carotenoit, axit peoumaric và axit chlorogenic.
Về tình hình sản xuất, theo dữ liệu FAOSTAT giai đoạn 2008 - 2012, diện tích cà chua thế giới năm 2012 đạt 4.803.680 ha, năng suất 336,812 tạ/ha và sản lượng 161.793.834 tấn. Trong đó, Châu Á dẫn đầu về diện tích canh tác (2.757.260 ha) và Trung Quốc là quốc gia sản xuất lớn nhất (đạt trên 50 triệu tấn năm 2012). Tại Việt Nam, giai đoạn 2004 - 2008 ghi nhận sự gia tăng năng suất từ 172 tạ/ha lên 216 tạ/ha, sản lượng năm 2008 đạt 532.310 tấn, phân bố tập trung trên 60% diện tích ở Đồng bằng sông Hồng và mở rộng tại Lâm Đồng.
Về cơ sở kỹ thuật ghép rau họ Cà, các nghiên cứu của AVRDC (Đài Loan), MARDI (Malaysia) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam (TS. Ngô Quang Vinh) chỉ ra rằng việc sử dụng gốc ghép kháng bệnh là giải pháp sinh học hữu hiệu nhất để kiểm soát bệnh héo rũ vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) và tăng khả năng chịu úng, chịu nhiệt so với cây tự rễ. Các mô hình sản xuất tại Đơn Dương, Đức Trọng (Lâm Đồng) và Thượng Đạt (Hải Dương) ghi nhận cà chua ghép đạt năng suất bình quân 60 - 80 tấn/ha, kéo dài thời gian thu hoạch và giảm chi phí thuốc bảo vệ thực vật.
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 3 công thức, lặp lại 3 lần:
- Công thức 1 (CT1 - Đối chứng): Giống cà chua Savior (trồng tự rễ, không ghép).
- Công thức 2 (CT2): Giống cà chua Đại Minh Châu ghép trên gốc cà pháo.
- Công thức 3 (CT3): Giống cà chua Năm Tốt ghép trên gốc cà pháo.
Thông số kỹ thuật ô thí nghiệm:
- Kích thước ô: 1,6 m × 6,25 m = 10 m²/ô (kể cả rãnh).
- Tổng diện tích thí nghiệm: 90 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ).
- Mật độ trồng: Khoảng 35.000 cây/ha; bố trí 2 hàng kép trên mặt luống, khoảng cách cây cách cây 40 cm, hàng cách hàng 70 cm.
- Chế độ phân bón cho 1 ha (theo quy trình của Đào Thanh Vân và Bùi Bảo Hoàn, 2000): 25 tấn phân chuồng hoai mục + 500 kg vôi bột + 120 kg N + 100 kg P₂O₅ + 150 kg K₂O. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, 20% đạm và 30% kali; lượng đạm và kali còn lại chia bón thúc qua 4 thời kỳ (hồi xanh, ra nụ, ra quả rộ, sau thu hoạch đợt 1).
Quy trình kỹ thuật ghép và chăm sóc
- Chuẩn bị giá thể ươm: 1,2 tấn than bùn + 0,6 tấn phân hữu cơ + 7,5 kg vôi bột + 2,5 kg NPK (16-16-8) + 5 kg super lân (tính cho 100.000 cây); ủ 30 - 60 ngày, phối trộn và đóng vào vỉ xốp 50 - 84 lỗ.
- Lịch gieo hạt: Cà pháo (gốc ghép) ngâm nước ấm 45 - 50°C trong 3 - 4 giờ, gieo ngày 28/01/2014; giống cà chua ngọn ghép (Đại Minh Châu, Năm Tốt) gieo ngày 08/02/2014; giống đối chứng (Savior) gieo ngày 13/02/2014.
- Kỹ thuật ghép: Cắt vát góc 30° tại vị trí trên 2 lá mầm và dưới 2 lá thật trên cả gốc ghép và ngọn ghép khi cây đạt tiêu chuẩn (gốc ghép 25 - 26 ngày sau gieo); sử dụng ống cao su đàn hồi chuyên dụng đường kính 2 - 3 mm để liên kết và cố định hai mặt vát.
- Quản lý buồng phục hồi: Giữ ẩm dạng sương, che sáng 100% trong 2 - 3 ngày đầu; tăng dần cường độ ánh sáng từ ngày thứ 4; từ ngày thứ 7 đưa ra điều kiện ánh sáng hoàn toàn; xuất vườn trồng ra ruộng sản xuất sau ghép 15 - 17 ngày (trồng ngày 22/03/2014).
Tiêu chuẩn theo dõi và phương pháp xử lý số liệu
- Tiêu chuẩn áp dụng: Quy trình gieo ươm theo 10 TCN 638-2005; các chỉ tiêu nông học theo Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 219-2006; phương pháp điều tra thành phần sâu bệnh theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia QCVN 01-38:2010/BNN&PTNT (theo dõi định kỳ 7 ngày/lần, phương pháp 5 điểm chéo góc).
- Các chỉ tiêu theo dõi: Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính (cm), động thái ra lá trên thân chính (lá), thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (ngày), tỷ lệ hại và mật độ của sâu xanh (Heliothis armigera), sâu khoang (Spodoptera litura), tỷ lệ nhiễm bệnh xoăn lá do virus TYLCV và bệnh héo rũ vi khuẩn (Ralstonia solanacearum), tỷ lệ đậu quả trên thân chính, cành cấp 1 và toàn cây (%).
- Xử lý thống kê: Số liệu thô được tính toán giá trị trung bình, xử lý phân tích phương sai (ANOVA) và kiểm định sai khác LSD ở mức ý nghĩa 95% (P < 0,05) bằng phần mềm chuyên dụng IRISTAT; biểu đồ được tổng hợp trên Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của việc phát triển sản xuất cà chua trái vụ trong vụ xuân hè nhằm đa dạng hóa cơ cấu cây trồng và nâng cao thu nhập cho nông dân. Tác giả phân tích các hạn chế kỹ thuật hiện hành, xác lập mục tiêu đánh giá tính thích ứng của hai tổ hợp ghép giống cà chua nhập nội (Đại Minh Châu/cà pháo và Năm Tốt/cà pháo) so với giống đối chứng không ghép (Savior), đồng thời đề ra 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể về sinh trưởng, tính chống chịu sâu bệnh, năng suất và chất lượng quả.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các tư liệu học thuật về:
- Nguồn gốc thực vật học, thành phần dinh dưỡng và giá trị phòng bệnh của cà chua.
- Bức tranh sản xuất cà chua toàn cầu (qua số liệu thống kê của FAO) và hiện trạng canh tác tại các vùng nông nghiệp trọng điểm ở Việt Nam.
- Lịch sử và thành tựu chọn tạo giống cà chua chịu nhiệt, kháng bệnh trên thế giới (Mỹ, AVRDC, MARDI Malaysia, Kasetsart Thái Lan) và các đề tài cấp Bộ tại Việt Nam (Viện Nghiên cứu Rau quả, Trường Đại học Nông nghiệp I, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm).
- Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm và mô hình chuyển giao kỹ thuật ghép cà chua tại Lâm Đồng và Hải Dương.
- Phân tích các giải pháp bảo vệ thực vật tích hợp (hóa học, sinh học, canh tác, bảo vệ thiên địch và sử dụng pheromone).
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết toàn bộ thiết kế thực nghiệm:
- Danh mục vật liệu nghiên cứu (các giống cà chua, giống cà pháo, các loại phân bón vô cơ, phân hữu cơ NTT, thuốc bảo vệ thực vật hóa học và sinh học).
- Địa điểm (nhà lưới Khoa Nông học, ĐH Nông Lâm Thái Nguyên) và lịch trình thực hiện từ tháng 01/2014 đến tháng 06/2014.
- Phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCBD (3 công thức, 3 lần nhắc lại, diện tích ô 10 m², tổng diện tích 90 m²).
- Quy trình chuẩn bị giá thể, kỹ thuật gieo hạt lệch ngày, thao tác ghép vát góc 30° và các bước tôi luyện cây giống trong nhà phục hồi.
- Hệ thống công thức tính toán chỉ tiêu nông học, tỷ lệ bệnh, mật độ sâu hại và quy trình phân tích thống kê trên phần mềm IRISTAT.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này phản ánh toàn bộ các dẫn liệu thực nghiệm thu thập được qua 4 nội dung chính:
1. Đặc điểm thời tiết khí hậu vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên
Số liệu từ Trạm khí tượng Thái Nguyên (từ tháng 1 đến tháng 4/2014) cho thấy diễn biến thời tiết có tính quy luật nhưng tiềm ẩn nhiều bất thuận:
- Nhiệt độ trung bình tăng từ 16,3°C (tháng 1) lên 24,4°C (tháng 4). Giai đoạn tháng 2 nhiệt độ thấp kéo dài thời gian nảy mầm trong vườn ươm; giai đoạn tháng 3 - 4 nhiệt độ dao động 19,4 - 24,4°C phù hợp cho hồi xanh và phân hóa mầm hoa.
- Độ ẩm không khí duy trì ở mức cao (73 - 91%), đạt đỉnh 91% vào tháng 3 tạo điều kiện cho cây hồi phục nhưng đồng thời thúc đẩy nấm bệnh và virus phát sinh.
- Lượng mưa biến động mạnh: tháng 1 đạt 3,7 mm, tháng 2 đạt 29,7 mm, tháng 3 tăng lên 85,9 mm và tháng 4 đạt 139,3 mm, hỗ trợ nhu cầu nước trong giai đoạn ra hoa đậu quả.
| Tháng |
Nhiệt độ TB (°C) |
Ẩm độ TB (%) |
Lượng mưa (mm) |
Số giờ nắng (giờ) |
| 1 |
16,3 |
73 |
3,7 |
133 |
| 2 |
16,8 |
79 |
29,7 |
45 |
| 3 |
19,4 |
91 |
85,9 |
31 |
| 4 |
24,4 |
88 |
139,3 |
47 |
2. Đặc điểm sinh trưởng trong vườn ươm và ngoài ruộng sản xuất
- Giai đoạn vườn ươm: Gốc ghép cà pháo sinh trưởng chậm hơn, đạt tiêu chuẩn ghép sau 36 ngày gieo; giống cà chua ngọn ghép đạt tiêu chuẩn ghép sau 26 - 27 ngày; thời gian liền vết ghép là 33 ngày (CT2) và 35 ngày (CT3); tuổi cây xuất vườn đạt 41 ngày (CT2), 42 ngày (CT3) và 37 ngày (đối chứng Savior).
- Giai đoạn ruộng sản xuất: Thời gian từ trồng đến ra hoa dao động 26 - 29 ngày; thời gian đến đậu quả dao động 35 - 38 ngày; thời gian bắt đầu thu hoạch quả đợt 1 từ 64 - 67 ngày; tổng thời gian sinh trưởng của CT1 (đối chứng) là 108 ngày, CT2 là 114 ngày và CT3 là 116 ngày.
| Chỉ tiêu theo dõi (ngày) |
CT1 (Đ/C Savior) |
CT2 (Đại Minh Châu/cà pháo) |
CT3 (Năm Tốt/cà pháo) |
Gốc ghép (Cà pháo) |
| Ngày mọc mầm |
6 |
7 |
5 |
6 |
| Xuất hiện 2 lá thật |
14 |
15 |
14 |
20 |
| Xuất hiện 4 lá thật |
24 |
23 |
22 |
31 |
| Thời điểm ghép |
28 |
26 |
27 |
36 |
| Thời điểm liền vết ghép |
- |
33 |
35 |
- |
| Tuổi cây xuất vườn |
37 |
41 |
42 |
- |
| Ngày ra hoa (sau trồng) |
26 |
28 |
29 |
- |
| Ngày đậu quả (sau trồng) |
35 |
37 |
38 |
- |
| Thu hoạch đợt 1 (sau trồng) |
65 |
64 |
67 |
- |
| Tổng thời gian sinh trưởng |
108 |
114 |
116 |
- |
3. Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính và tốc độ ra lá
- Chiều cao thân chính tăng liên tục theo đặc tính sinh trưởng vô hạn. Tại thời điểm 56 ngày sau trồng, chiều cao cây đạt: CT1 (76,1 cm) > CT2 (70,5 cm) > CT3 (68,8 cm). Sự sai khác giữa CT3 với đối chứng đạt ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05 (LSD₀,₀₅ = 4,76 cm), trong khi CT2 không sai khác có ý nghĩa so với đối chứng ở hầu hết các kỳ theo dõi. Cây ghép có thân thấp cứng cáp hơn, hạn chế đổ ngã khi gặp mưa dông.
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao đạt cao nhất ở giai đoạn 35 - 42 ngày sau trồng (CT2 đạt 12,0 cm/tuần; CT1 đạt 11,0 cm/tuần; CT3 đạt 9,5 cm/tuần).
- Động thái ra lá: Ở 56 ngày sau trồng, số lá tích lũy trên thân chính đạt 24,1 lá (CT1), 21,3 lá (CT2) và 21,6 lá (CT3). Tốc độ ra lá tăng nhanh trong giai đoạn 14 - 49 ngày sau trồng và đạt đỉnh ở giai đoạn 42 - 49 ngày (CT1 đạt 4,4 lá/tuần; CT3 đạt 3,6 lá/tuần; CT2 đạt 3,3 lá/tuần).
| Chỉ tiêu sinh trưởng (ngày sau trồng) |
CT1 (Đ/C Savior) |
CT2 (Đại Minh Châu/cà pháo) |
CT3 (Năm Tốt/cà pháo) |
CV (%) |
LSD₀,₀₅ |
| Chiều cao cây ngày 7 (cm) |
12,4 |
10,8 |
8,9* |
9,8 |
2,32 |
| Chiều cao cây ngày 28 (cm) |
38,8 |
36,6 |
33,2* |
5,0 |
4,07 |
| Chiều cao cây ngày 56 (cm) |
76,1 |
70,5* |
68,8* |
2,9 |
4,76 |
| Số lá thân chính ngày 7 (lá) |
5,3 |
4,1* |
4,0* |
5,4 |
0,54 |
| Số lá thân chính ngày 28 (lá) |
14,1 |
12,2 |
11,4* |
7,4 |
2,11 |
| Số lá thân chính ngày 56 (lá) |
24,1 |
21,3* |
21,6* |
2,0 |
0,99 |
Ghi chú: (*) Sai khác so với đối chứng có ý nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95%.
4. Tình hình phát sinh sâu bệnh hại
- Sâu hại: Sâu ăn lá xuất hiện với tỷ lệ hại từ 15,2% đến 19,7% (mật độ 0,2 - 0,4 con/cây), trong đó CT2 bị hại thấp nhất (15,2%). Sâu đục quả gây hại với tỷ lệ từ 18,2% đến 24,2% (mật độ 0,4 - 0,7 con/cây), CT1 (đối chứng) có tỷ lệ hại cao nhất (24,2%), CT3 bị hại thấp nhất (18,2%).
- Bệnh xoăn lá (TYLCV do bọ phấn trắng truyền): CT1 bị nhiễm nặng nhất với tỷ lệ bệnh 45,5%; các công thức ghép thể hiện khả năng chống chịu tốt hơn rõ rệt (CT2 đạt 27,3% và CT3 đạt 30,3%).
- Bệnh héo rũ vi khuẩn (Ralstonia solanacearum): CT1 (không ghép) bị nhiễm nặng nhất với tỷ lệ 15,2%; trong khi các công thức ghép trên gốc cà pháo thể hiện tính kháng vượt trội: CT2 chỉ nhiễm 1,5% và CT3 nhiễm 4,5%.
| Công thức thí nghiệm |
Sâu ăn lá (TLH % / Mật độ) |
Sâu đục quả (TLH % / Mật độ) |
Bệnh xoăn lá (TLB %) |
Bệnh héo rũ (TLB %) |
| CT1 (Đ/C Savior) |
18,2% / 0,3 con/cây |
24,2% / 0,7 con/cây |
45,5% |
15,2% |
| CT2 (Đại Minh Châu/cà pháo) |
15,2% / 0,2 con/cây |
21,2% / 0,5 con/cây |
27,3% |
1,5% |
| CT3 (Năm Tốt/cà pháo) |
19,7% / 0,4 con/cây |
18,2% / 0,4 con/cây |
30,3% |
4,5% |
5. Khả năng ra hoa và tỷ lệ đậu quả
Tổ hợp ghép ảnh hưởng tích cực đến số lượng hoa và tỷ lệ đậu quả trong điều kiện nhiệt độ cao vụ xuân hè:
- Trên thân chính: CT2 đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất (54,4%), tiếp đến là CT3 (52,6%) và CT1 (49,1%).
- Trên cành cấp 1: CT2 đạt tỷ lệ đậu quả 42,7% (6,7 quả/15,6 hoa); CT3 đạt 40,8% (5,5 quả/13,4 hoa); CT1 chỉ đạt 34,5% (4,5 quả/12,9 hoa).
- Tính trên toàn cây: CT2 đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất là 50,2% (đậu 21,9 quả/43,7 hoa), vượt trội so với CT3 đạt 48,5% (18,8 quả/38,7 hoa) và CT1 đối chứng đạt 44,3% (17,3 quả/39,1 hoa).
| Vị trí theo dõi |
Chỉ tiêu |
CT1 (Đ/C Savior) |
CT2 (Đại Minh Châu/cà pháo) |
CT3 (Năm Tốt/cà pháo) |
CV (%) |
LSD₀,₀₅ |
| Thân chính |
Số hoa (hoa) |
26,2 |
28,1* |
25,4* |
2,5 |
1,47 |
|
Số quả (quả) |
12,9 |
15,3* |
13,3 |
5,3 |
1,65 |
|
Tỷ lệ đậu quả (%) |
49,1 |
54,4 |
52,6 |
- |
- |
| Cành cấp 1 |
Số hoa (hoa) |
12,9 |
15,6* |
13,4 |
3,4 |
1,08 |
|
Số quả (quả) |
4,5 |
6,7* |
5,5* |
5,5 |
0,69 |
|
Tỷ lệ đậu quả (%) |
34,5 |
42,7 |
40,8 |
- |
- |
| Toàn cây |
Số hoa (hoa) |
39,1 |
43,7 |
38,7 |
- |
- |
|
Số quả (quả) |
17,3 |
21,9 |
18,8 |
- |
- |
|
Tỷ lệ đậu quả (%) |
44,3 |
50,2 |
48,5 |
- |
- |
Ghi chú: (*) Sai khác so với đối chứng có ý nghĩa thống kê ở mức P < 0,05.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Khẳng định tính tương thích ghép: Giống cà chua Đại Minh Châu và Năm Tốt có độ tương hợp sinh lý cao khi ghép trên gốc cà pháo địa phương, tỷ lệ liền vết ghép đạt tiêu chuẩn xuất vườn trong khoảng 33 - 35 ngày sau ghép.
- Nâng cao khả năng kháng bệnh héo rũ và xoăn lá: Biện pháp ghép ngọn cà chua trên gốc cà pháo đã kiểm soát vượt trội bệnh héo rũ vi khuẩn (Ralstonia solanacearum), làm giảm tỷ lệ bệnh từ 15,2% ở cây không ghép xuống 1,5% (ở CT2) và 4,5% (ở CT3). Đồng thời giảm tỷ lệ nhiễm bệnh xoăn lá (TYLCV) từ 45,5% xuống còn 27,3% - 30,3%.
- Cải thiện khả năng đậu quả vụ trái: Cây ghép phát triển bộ khung tán vững chắc, tăng số hoa hữu hiệu và tăng tỷ lệ đậu quả toàn cây (CT2 đạt 50,2% và CT3 đạt 48,5% so với mức 44,3% của đối chứng không ghép).
- Kéo dài chu kỳ khai thác: Cây cà chua ghép có tổng thời gian sinh trưởng đạt 114 - 116 ngày (dài hơn cây đối chứng 6 - 8 ngày), giúp kéo dài thời gian cho thu hoạch quả thương phẩm.
Đóng góp thực tiễn và kỹ thuật
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm về tính khả thi của kỹ thuật ghép giống cà chua nhập nội trên gốc cà pháo trong điều kiện sinh thái vụ xuân hè tại Thái Nguyên.
- Xác định tổ hợp ghép triển vọng nhất là Đại Minh Châu trên gốc cà pháo (CT2), thể hiện ưu thế vượt trội về sinh trưởng, khả năng kháng bệnh héo rũ vi khuẩn và tỷ lệ đậu quả.
- Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật gieo ươm lệch pha (gieo gốc ghép trước ngọn ghép 10 - 11 ngày) và thao tác ghép góc vát 30° bằng ống cao su đàn hồi phù hợp cho điều kiện nông hộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Thí nghiệm mới được triển khai trong phạm vi 01 vụ sản xuất (vụ Xuân Hè 2014) trên quy mô diện tích thực nghiệm 90 m² tại khu nhà lưới Khoa Nông học, chưa đánh giá được biến động qua nhiều chu kỳ thời tiết khác nhau.
- Nghiên cứu tập trung đánh giá 2 tổ hợp giống nhập nội (Đại Minh Châu, Năm Tốt) trên 01 loại gốc ghép cà pháo, chưa mở rộng đối chứng với các loại gốc ghép tiềm năng khác (như cà tím, các dòng cà dại).
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục mở rộng khảo nghiệm các tổ hợp ghép trên nhiều chân đất và tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Thái Nguyên và vùng Trung du Bắc Bộ.
- Nghiên cứu hoàn thiện quy trình thâm canh, mật độ và liều lượng phân bón chuyên biệt cho từng tổ hợp cà chua ghép nhằm tối ưu hóa năng suất thực thu và chất lượng quả thương phẩm.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Bảo vệ thực vật và cán bộ khuyến nông tại các địa phương có nhu cầu phát triển rau ăn quả trái vụ.
- Nội dung giá trị nhất:
- Quy trình chi tiết kỹ thuật gieo ươm, xử lý hạt giống, kỹ thuật ghép vát 30° và các bước tôi luyện cây giống trong nhà phục hồi (từ Phần 3).
- Phương pháp luận bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) và phương pháp điều tra dịch hại chuẩn hóa theo QCVN 01-38:2010/BNN&PTNT kết hợp xử lý số liệu bằng phần mềm IRISTAT.
- Các bộ số liệu đối chứng chi tiết về khả năng kháng bệnh héo rũ vi khuẩn và tỷ lệ đậu quả của cây ghép phục vụ so sánh trong các nghiên cứu nông học tương tự.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao hạt giống cà pháo làm gốc ghép phải được gieo trước hạt giống cà chua ngọn ghép từ 10 đến 11 ngày?
Theo dữ liệu theo dõi vườn ươm, cây cà pháo có tốc độ sinh trưởng ban đầu chậm hơn cây cà chua. Cà pháo cần 36 ngày sau gieo mới đạt tiêu chuẩn ghép (xuất hiện 4 lá thật, đường kính thân đạt yêu cầu), trong khi giống cà chua nhập nội chỉ cần 26 - 27 ngày sau gieo. Do đó, việc gieo hạt cà pháo vào ngày 28/01/2014 và gieo hạt cà chua vào ngày 08/02/2014 bảo đảm độ đồng đều về đường kính thân khi thao tác cắt ghép và luồn ống cao su.
2. Kỹ thuật ghép ngọn cà chua trên gốc cà pháo trong đề tài được tiến hành theo các bước nào?
Kỹ thuật ghép được tiến hành bằng cách dùng dao lam mỏng cắt vát một góc 30° trên thân cây cà pháo và thân cây cà chua tại vị trí phía trên 2 lá mầm và phía dưới 2 lá thật. Sau đó dùng một đoạn ống cao su đường kính 2 - 3 mm để luồn giữ, áp khít hai mặt cắt vát của gốc ghép và ngọn ghép lại với nhau, phun sương giữ ẩm và đưa vào nhà phục hồi che sáng hoàn toàn trong 2 - 3 ngày đầu.
3. Hiệu quả kháng bệnh héo rũ vi khuẩn (Ralstonia solanacearum) của cây cà chua ghép thể hiện như thế nào so với cây không ghép?
Số liệu thực nghiệm cho thấy giống đối chứng Savior (không ghép) bị nhiễm bệnh héo rũ vi khuẩn với tỷ lệ 15,2%. Trong khi đó, các giống cà chua được ghép trên gốc cà pháo có tỷ lệ nhiễm bệnh giảm rõ rệt: tổ hợp CT2 (Đại Minh Châu/cà pháo) chỉ bị nhiễm 1,5% (giảm hơn 10 lần) và tổ hợp CT3 (Năm Tốt/cà pháo) bị nhiễm 4,5%.
4. Trong các công thức thí nghiệm, tổ hợp ghép nào đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất trong vụ Xuân Hè 2014?
Tổ hợp ghép đạt tỷ lệ đậu quả cao nhất là CT2 (giống Đại Minh Châu ghép trên gốc cà pháo) với tỷ lệ đậu quả toàn cây đạt 50,2% (đạt 21,9 quả/43,7 hoa). Tỷ lệ này vượt trội so với giống Năm Tốt ghép cà pháo (đạt 48,5%) và giống đối chứng Savior không ghép (đạt 44,3%).
5. Nền phân bón được tính toán áp dụng cho 1 ha trong thí nghiệm gồm những loại nào và bón theo quy trình ra sao?
Nền phân bón tính cho 1 ha gồm: 25 tấn phân chuồng hoai mục + 500 kg vôi bột + 120 kg N + 100 kg P₂O₅ + 150 kg K₂O. Toàn bộ phân chuồng, vôi bột, phân lân cùng với 20% đạm và 30% kali được dùng để bón lót khi làm đất; lượng phân còn lại được chia đều bón thúc qua 4 đợt: đợt 1 khi cây hồi xanh (10% đạm), đợt 2 khi cây ra nụ (20% đạm, 20% kali), đợt 3 khi ra quả rộ (30% đạm, 30% kali) và đợt 4 bón lượng còn lại sau thu hoạch đợt 1.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Vũ Văn Cường đã hoàn thành việc đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và tính chống chịu sâu bệnh của các giống cà chua nhập nội ghép trên gốc cà pháo trong vụ Xuân Hè 2014 tại Thái Nguyên. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc ghép giống cà chua Đại Minh Châu trên gốc cà pháo đem lại hiệu quả sinh học vượt trội, giúp giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh héo rũ vi khuẩn xuống còn 1,5% và nâng cao tỷ lệ đậu quả toàn cây lên 50,2% trong điều kiện thời tiết nóng ẩm bất thuận. Công trình cung cấp hệ thống dẫn liệu thực nghiệm có giá trị khoa học và quy trình kỹ thuật ghép rau họ Cà hoàn chỉnh, đóng góp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật trồng cà chua trái vụ tại các tỉnh miền Bắc.