MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đậu tương hay đỗ tương, đậu nành (Glycine max (L) merrill) là loại cây họ Đậu (Fabaceae) giàu hàm lượng chất đạm, protein, được trồng để làm thực phẩm cho người và thức ăn cho gia súc. Trong hạt đậu tương có các thành phần hoá học sau Protein (40%), lipid (12 - 25%), glucid (10 - 15%); có các muối khoáng Ca, Fe, Mg, P, K, Na, S; các vitamin A, B1, B2, D, E, F; các enzyme, sáp, nhựa, cellulose. Trong đậu tương có đủ các acid amin cơ bản isoleucin, leucin, lysin, metionin, phenylalanin, tryptophan, valin.
Ngoài ra, đậu tương được coi là một nguồn cung cấp protein hoàn chỉnh vì chứa một lượng đáng kể các amino acid không thay thế cần thiết cho cơ thể. Cây đậu tương có tác dụng nhiều mặt và là cây trồng có giá trị kinh tế cao. Ngoài giá trị cung cấp thực phẩm cho con người, làm thức ăn gia súc, đậu tương còn làm nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp, cây làm tốt đất và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị (Ngô Thế Dân và cs, 1999[3]. Từ các giá trị trên của cây đậu tương, với ưu thế là cây ngắn ngày, dễ trồng nên rất thuận tiện để bố trí trong các công thức luân canh, nên thực tế nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới đậu tương được trồng khá phổ biến.
Tuy nhiên, thực tế trồng đậu tương ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là năng suất vẫn còn rất thấp, sản lượng đậu tương chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng và chế biến. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước. Trong đó, vùng Trung du miền núi phía Bắc là nơi có diện tích gieo trồng đậu tương nhiều nhất trên 60000 ha chiếm trên 30% tổng diện tích đậu h 2 tương của cả nước và cũng là nơi có năng suất thấp nhất chỉ đạt trên 10 tạ/ha. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến năng suất đậu tương ở trung du miền núi thấp như chưa có bộ giống tốt phù hợp, mức đầu tư thấp, các biện pháp kỹ thuật canh tác chưa hợp lý.
Trong các yếu tố hạn chế trên thì giống và biện pháp kỹ thuật là yếu tố cản trở chính đến năng suất đậu tương. Năm 2016 Thái Nguyên có tổng diện tích trồng đậu tương là 117,8 ha, sản lượng là 168,3 tấn, năng suất chỉ đạt 14,3 tạ/ha (Chi Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên), trong khi năng suất bình quân của nước ta đạt xấp xỉ 15,0 tạ/ha. Một trong những nguyên nhân làm cho năng suất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên chưa cao là chưa có bộ giống tốt. Mặc dù hiện nay sản xuất đậu tương của tỉnh đã có 1 số giống mới xong chủ yếu vẫn dùng giống DT84 nên hiệu quả sản xuất chưa cao.
Do vậy, cần phải đi tìm một giống mới để đáp ứng nhu cầu của sản xuất. Trước thực trạng đó, năm 2016 trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết hợp tác với phía Hàn Quốc nhập nội 300 dòng đậu tương mới về khảo sát. Kết quả cho thấy có một số dòng tỏ ra có triển vọng tốt. Để đánh giá được chính xác khả sinh trưởng, phát triển của các dòng có triển vọng làm cơ sở cho việc chọn giống đậu tương thích hợp cho tỉnh Thái Nguyên phục vụ sản xuất, chúng tôi tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu 2017 tại Thái Nguyên”.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc tại Thái Nguyên. Yêu cầu đề tài - Đánh giá khả năng sinh trưởng của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc được trồng tại Thái Nguyên. h 3 - Đánh giá tình hình sâu bệnh của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc được trồng tại Thái Nguyên. - Đánh giá khả năng cho năng suất của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc được trồng tại Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài là công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cá thể của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc. Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dữ liệu khoa học cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống đậu tương. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cá thể cao phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Phục vụ cho việc công nhận giống mới và phát triển đậu tương của vùng. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Giống là sản phẩm của sức lao động sáng tạo của con người và là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt trong nông nghiệp sản sinh ra nông phẩm.
Vì lý do đó giống giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. Việc chọn đúng các giống tốt, thích hợp với điều kiện tự nhiên và canh tác giúp cho người sản xuất thu được năng suất cao và ổn định với phẩm chất tốt và mức chi phí thấp. Mỗi một giống khác nhau thì có khả năng phản ứng với điều kiện sinh thái ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lý, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu, đất đai, kinh tế xã hội.
Để có những giống có năng suất, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Ngày nay nhờ có những thành tựu của công nghệ sinh học hiện đại và toàn cầu hóa thì công tác giống được hỗ trợ và thời gian tạo ra giống mới được rút ngắn rất nhiều. Các thành tựu khoa học được ứng dụng trong chọn giống như gây đột biến, chuyển gen, lai tạo, nhập nội giống… Các giống đậu tương tại Việt Nam hiện tại sử dụng chủ yếu theo lai tạo và nhập nội. Khi lai tạo hay nhập được giống mới thì việc khảo nghiệm tại các vùng tiểu khí hậu khác nhau để tìm ra giống tốt là rất quan trọng.
Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kỹ thuật khác nhau. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kỹ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp do đó việc khảo nghiệm giống là rất cần thiết. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất và chọn tạo giống đậu tương trên thế giới 2.
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh, dừa và cọ dầu. Đây là trồng mang tính chiến lược với những quốc gia có điều kiện phát triển vì có trao đổi rất cao trên thị trường do nhu cầu sử dụng protein, dầu thực vật, thực phẩm chức năng và nguyên liệu thức ăn chăn nuôi gia súc ngày càng gia tăng nên cây đậu tương được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, tập trung nhiều nhất ở các nước châu Mỹ chiếm tới 73%, tiếp đó là các nước thuộc khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ) chiếm 23,15%. Diện tích, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên qua các thời kỳ. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5 năm 2010-2014 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2012 105,365 22,928 241,580 2013 111,630 24,912 278,092 2014 117,718 26,201 308,436 2015 120,792 26,757 323,205 2016 121,532 27,556 333,894 (Nguồn: FAOSTAT, 2017)[22] Qua bảng số liệu 2.1 cho thấy: - Về diện tích: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới hàng năm không ngừng tăng.
Năm 2012 trên thế giới có diện tích trồng đậu tương là 105,365 triệu ha, đến năm 2016 diện tích trồng đã tăng lên đạt 121,532 triệu ha tăng khoảng 16 triệu ha (tăng gấp 1,15 lần). Năm 2016 diện tích trồng đậu tương là lớn nhất đạt 121,532 triệu ha. h 6 - Về năng suất: Từ năm 2012-2016 năng suất đậu tương tương đối ổn định dao động từ 22,928-27,556 tạ/ha. Năm 2012 năng suất đậu tương là thấp nhất đạt 22,928 tạ/ha.
Đến năm 2016 năng suất đậu tương trên thế giới là 27,556 tạ/ha - Về sản lượng: Do diện tích và năng suất tăng lên nên sản lượng đậu tương trên thế giới cũng liên tục tăng. Năm 2012 sản lượng đậu tương trên thế giới đạt 241,580 triệu tấn, đến năm 2016 đạt 334,894 triệu tấn. Tính riêng từng nước trên thế giới thì hiện nay Mỹ vẫn là nước sản suất đậu tương lớn nhất. Kết quả thống kê của FAO về diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng đậu tương chủ yếu được tổng hợp tại bảng 2.2: Diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của 4 nước trồng đậu tương chủ yếu trên thế giới Diên tích Năng suất Sản lượng Tên nước Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2012 30,81 26,87 82,79 2013 30,85 29,61 91,39 Mỹ 2014 33,42 31,97 106,87 2015 33,12 32,29 106,95 2016 33,48 35,006 117,21 2012 24,98 26,37 65,85 2013 27,91 29,29 81,72 Braxin 2014 30,27 28,66 86,76 2015 32,18 30,29 97,46 2016 33,15 29,05 96,30 2012 17,58 22,81 40,10 2013 19,42 25,39 49,31 Acgentina 2014 19,25 27,74 53,40 2015 19,33 31,75 61,37 2016 19,50 30,15 57,80 2012 7,17 18,14 13,01 2013 6,79 17,60 11,95 Trung Quốc 2014 6,80 17,87 12,15 2015 6,51 18,11 11,79 2016 6,64 18,02 11,96 (Nguồn: FAOSTAR, 2017[22]) h 7 Trong 5 năm gần đây diện tích, năng suất, sản lượng đậu tương của Mỹ không ngừng tăng lên.
Năm 2016 là năm Mỹ đạt đỉnh cao về cả diện tích, năng suất và sản lượng khẳng định vị trí số một trong sản xuất đậu tương. Có được thành công như vậy phải nói rằng nước Mỹ đã hết sức chú trọng đến việc phát triển đậu đỗ. Không những tăng về diện tích mà Mỹ còn quan tâm đến vấn đề nghiên cứu và tạo giống. Hiệp hội đậu tương Hoa Kỳ (ASA: American Soybean Association) được thành lập từ năm 1920 có 52 nghìn hội viên.