Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng phát triển và nhân giống một số dòng lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ tại gia lâm hà nội năm 2022 khoán luận tốt nghiệp

Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nhân giống các dòng lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022.

Chuyên ngành

Nông học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

103
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Giới thiệu về chi Hippeastrum

2.1.1. Vị trí và phân loại

2.1.2. Nguồn gốc và phân bố

2.1.3. Đặc điểm thực vật học

2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng của lan huệ

2.1.5. Yêu cầu ngoại cảnh

2.1.6. Sâu bệnh hại

2.1.7. Giá trị sử dụng

2.2. Tình hình sản xuất, tiêu thụ hoa có củ trên thế giới và Việt Nam

2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa có củ trên thế giới

2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa có củ ở Việt Nam

2.3. Tình hình nghiên cứu chọn tạo và nhân giống lan huệ trên thế giới và Việt Nam

2.3.1. Tình hình nghiên cứu chọn tạo và nhân giống lan huệ trên thế giới

2.3.2. Tình hình nghiên cứu chọn tạo và nhân giống lan huệ tại Việt Nam

3. PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.1.1. đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Vật liệu nghiên cứu

3.1.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2. Nội dung nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Bố trí thí nghiệm

3.3.2. Các biện pháp kĩ thuật áp dụng

3.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi

3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các dòng lan huệ lai

4.2. Một số đặc điểm sinh trưởng và phát triển của dòng lan huệ lai

4.3. Đặc điểm ngồng và hoa của một số dòng Lan Huệ lai. Nhân giống một số dòng lan huệ lai có triển vọng bằng phương pháp chẻ củ

4.3.1. Thời gian từ khi chẻ củ đến khi xuất hiện chồi, lá đầu tiên và lá thứ 2 của một số dòng Lan Huệ lai

4.3.2. Một số đặc điểm sinh trưởng của củ con sau 3 tháng nhân giống và hệ số nhân giống

5. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Nghiên cứu sinh trưởng và phát triển lan huệ lai

Nghiên cứu tập trung vào đánh giá sinh trưởngphát triển của 133 dòng lan huệ lai 5 tuổi tại Gia Lâm, Hà Nội năm 2022. Các chỉ tiêu được theo dõi bao gồm chu vi củ, chiều cao cây, số lá/thân, và đặc điểm hoa. Kết quả cho thấy chu vi củ dao động từ 8cm đến 40,5cm, chiều cao cây từ 24,1cm đến 98,2cm, và số lá/thân từ 3 đến 11 lá. Màu sắc hoa đa dạng, tập trung vào các nhóm màu chính như đỏ, cam, trắng, hồng. Nghiên cứu đã lựa chọn 77 dòng cánh đơn và 56 dòng bán kép, kép có sinh trưởng tốt, phù hợp cho sản xuất hoa cắt cành và trồng chậu.

1.1. Đặc điểm sinh trưởng

Các dòng lan huệ lai được đánh giá dựa trên chu vi củ, chiều cao cây, và số lá/thân. Chu vi củ của dòng cánh đơn dao động từ 8cm đến 40,5cm, trong khi dòng bán kép và kép từ 17cm đến 37cm. Chiều cao cây từ 24,1cm đến 98,2cm, với số lá/thân từ 3 đến 11 lá. Các chỉ tiêu này giúp xác định dòng có sinh trưởng mạnh, phù hợp cho sản xuất.

1.2. Đặc điểm hoa

Màu sắc hoa của lan huệ lai đa dạng, tập trung vào các nhóm màu chính như đỏ, cam, trắng, hồng. Khoảng 71 dòng có mùi thơm từ nhẹ đến đậm, trong khi 62 dòng không thơm. Độ bền hoa và kích thước hoa cũng được đánh giá, giúp lựa chọn dòng phù hợp cho hoa cắt cành và trồng chậu.

II. Nhân giống lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ

Nghiên cứu áp dụng phương pháp chẻ củ để nhân giống 11 dòng lan huệ lai có triển vọng. Kết quả cho thấy thời gian từ khi chẻ củ đến khi xuất hiện chồi, lá đầu tiên và lá thứ hai dao động từ 15 đến 30 ngày. Hệ số nhân giống đạt từ 3 đến 7 lần, tùy thuộc vào dòng. Phương pháp này được đánh giá là hiệu quả, đơn giản, và phù hợp với điều kiện thực tế tại Gia Lâm, Hà Nội.

2.1. Kỹ thuật chẻ củ

Phương pháp chẻ củ được thực hiện bằng cách chia củ thành các phần nhỏ, mỗi phần có ít nhất một chồi. Các củ con được trồng trong điều kiện đất tơi xốp, thoát nước tốt. Kết quả cho thấy thời gian xuất hiện chồi và lá đầu tiên dao động từ 15 đến 30 ngày, tùy thuộc vào dòng.

2.2. Hệ số nhân giống

Hệ số nhân giống của các dòng lan huệ lai đạt từ 3 đến 7 lần, với dòng THP 30-2-21 và THP 15-22-21 đạt hệ số cao nhất. Phương pháp này giúp tăng nhanh số lượng cây giống, phục vụ cho sản xuất và nghiên cứu.

III. Ứng dụng và giá trị thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp nguồn vật liệu có giá trị cho sản xuất hoa cắt cành, trồng chậu, và trang trí cảnh quan. Các dòng lan huệ lai được lựa chọn có đặc điểm sinh trưởng tốt, màu sắc hoa đa dạng, và độ bền hoa cao. Phương pháp chẻ củ giúp tăng hiệu quả nhân giống, đáp ứng nhu cầu thị trường và phát triển ngành hoa tại Việt Nam.

3.1. Giá trị kinh tế

Các dòng lan huệ lai được lựa chọn có tiềm năng cao trong sản xuất hoa cắt cành và trồng chậu, mang lại giá trị kinh tế lớn. Màu sắc hoa đa dạng và độ bền hoa cao giúp tăng giá trị thương mại.

3.2. Ứng dụng trong cảnh quan

Lan huệ lai được sử dụng rộng rãi trong trang trí cảnh quan, trồng thảm, và trồng viền. Các dòng có màu sắc đẹp và sinh trưởng mạnh phù hợp cho mục đích trang trí, tạo điểm nhấn cho không gian xanh.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề: Ngày nay, đời sống con người ngày một nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Trong đó, hoa hay cây cảnh đã đi vào cuộc sống như một nét đẹp, giúp con người cân bằng cuộc sống và thư giãn tinh thần. Nhu cầu người dùng lớn, đòi hỏi sự độc đáo, đa dạng và mới lạ, nên việc nghiên cứu và chọn tạo những giống hoa mới luôn đặt lên hàng đầu. Cây hoa Lan huệ thuộc chi Hippeastrum, thuộc họ Amaryllidaceae (Traub, 1949; Merrow, 1988; Rees, 1992; Banerji at al.

Tại Việt Nam Hoa Lan huệ thường được gọi với các tên khác như hoa loa kèn đỏ và hoa tứ diện. Ngày nay lan huệ được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đây là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây lan huệ có hoa đẹp, đa dạng về màu sắc, kích thước, tùy vào người chơi hoa có thể trồng chậu, trồng viền, trồng thảm hoặc dùng hoa cắt cành.

Trên thế giới, người dân thường chơi hoa trồng chậu trong dịp giáng sinh và năm mới, vì vậy hoa lan huệ thường được xử lý ra hoa sớm. Ở Việt Nam, nếu xử lý ra hoa sớm sẽ nở đúng trong dịp Tết Nguyên Đán, hoa không xử lý sẽ nở vào tháng 3 đến tháng 4 hàng năm. Hiện nay, nhu cầu chơi hoa Lan huệ ngày càng tăng. Nhiều giống hoa mới được nhập nội có nhiểu đặc điểm vượt trội như hoa có nhiều hình dáng (cánh đơn, kép, bán kép), kích thước hoa đa dạng (từ nhỏ, trung bình đến lớn), màu sắc hoa đa dạng (hồng phấn, đỏ cam, đỏ trắng, cam, vàng,…).

Lan huệ có thể được trồng trong chậu, trồng thảm hay được trồng làm hoa cắt. Ngoài ra còn được chọn làm cây trồng thảm, trồng viền. Để lựa chọn được các dòng lai mới phù hợp với mục đích làm hoa cắt hay trồng chậu thì công tác đánh giá giống cần phải được thực hiện thường xuyên. Hiện nay, các giống hoa bản địa (truyền thống) bị hạn chế về màu sắc, mùi 1 hương,.Để đáp ứng được nhu cầu chơi hoa ngày càng cao và để phát huy hết giá trị của hoa lan huệ, công tác lai giống đã được thực hiện để tạo ra những giống hoa có màu sắc đa dạng, chất lượng hoa tốt.

Các dòng hoa lan huệ lai mới được lựa chọn thì có hệ số nhân giống thấp, nên việc nhân giống cần được thực hiện. Có nhiều phương pháp nhân giống cho lan huệ và một trong số đó là nhân giống bằng phương pháp chẻ củ rất phổ biến, có thể áp dụng trong thực tế tại Việt Nam do giá thành rẻ, đơn giản, hệ số nhân giống cao. Vậy nên việc áp dụng các kĩ thuật mới nhân giống nhằm rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây con là rất cần thiết. Xuất phát từ những phân tích trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nhân giống một số dòng lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ tại Gia Lâm, Hà Nội”.Mục đích và yêu cầu: 1.

Mục đích: Dựa trên kết quả nghiên cứu, lựa chọn những dòng lai có đặc tính tốt về các đặc điểm hoa (kích thước, màu sắc, hình dáng.) để phục vụ cho sản xuất hoa cắt cành, hoa trồng chậu và nhân giống một số dòng lan huệ lai có triển vọng ở Việt Nam. Yêu cầu: - Theo dõi một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh hại của tập đoàn hoa lan huệ. - Lựa chọn được dòng hoa có triển vọng cho công tác giống. - Nhân giống 17 dòng lai lan huệ bằng phương pháp chẻ củ.

2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Giới thiệu về chi Hippeastrum: 1. Vị trí và phân loại: Cây hoa Lan Huệ (Hippeastrum L.) thuộc chi Hippeastrum, họ Hành Liliaceae, bộ Hành (Liliales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) (Đinh Thị Thu Trang, 2015). Hiện nay, trên toàn thế giới Lan Huệ có khoảng 91 loài và hơn 600 giống lai được biết đến với sự đa dạng về màu sắc cánh hoa. Nguồn gốc và phân bố: Lan Huệ có nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới châu Mỹ.

Eduard Frederick Poepping đã tìm thấy hoa lan huệ đầu tiên vào năm 1828 trong quá trình tìm kiếm ở Chile (Kathie Carter, 2007). Chúng phân bố rộng từ đông Brazil đến miền Nam dãy Andes thuộc Peru, Argentina và Bolivia. Lan huệ là loài cây chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Phạm Thị Minh Phượng, 2014). Có hai trung tâm sản xuất Lan Huệ trên thế giới là Hà Lan và Nam Phi.

Ở Việt Nam, loại hoa này được trồng ở nhiều nơi, có khả năng thích nghi cao, cho hoa đẹp, thường nở vào vụ xuân hè (Nguyễn Hạnh Hoa, 2014). Nước ta có 2 loài Lan Huệ phổ biến là lan huệ (Hippeastrum quester Herb) ở Việt Nam được gọi là Loa Kèn Đỏ, có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) và lan huệ mạng (Hippeastrum reculatum Herb) được trồng nhiều ở Đà Lạt nước ta, có nguốc Brazil (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Ngoài ra, theo Phạm Thị Minh Phượng, (2016) còn có một số dưới loài và nhiều giống lai được nhập nội và trồng từ lâu. Đặc điểm thực vật học: Thân: Cây Lan Huệ là loài thực vật có thân giả (giống như củ hành tây).

Đế củ chính là thân chính của cây hoa Lan Huệ, phần phình ra để dự trữ nước và 3 các chất dinh dưỡng là do bẹ lá tạo thành (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Thân cây dạng hình cầu hoặc cầu dẹt. Các lớp trong có màu xanh non hay trắng ngà, giòn và chứa nước, lớp ngoài cùng có màu nâu còn gọi là lớp áo (Vũ Thị Hoa, 2016). Theo Nguyễn Thị Đỏ, 2007.

Thân củ lan huệ (Nguồn: internet) Lá: tập trung ở gốc, mọc đối nhau , lá dày rộng từ 2-5cm, phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân song song, gân chính giữa to. Kích thước lá to, nhỏ, dài, ngắn phụ thuộc vào từng giống và điều kiện chăm sóc (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Ở miền Bắc Việt Nam, vào mùa đông lá Lan Huệ có hiện tượng ngủ đông để tập trung dinh dưỡng cho ngồng hoa vào vụ kế tiếp. Lá lan huệ 4 Rễ: lan huệ thuộc bộ hành Lilliales nên có dạng rễ chùm gồm nhiều rễ phụ tương đối đồng đều về kích thước, rễ có màu trắng đến trắng ngà hoặc vàng, rễ mọc ra từ phần đế củ (thân rễ), phân nhánh mạnh, ăn nông 5-10cm.

Rễ lan huệ (Nguồn: internet) Hoa: hoa lan huệ mọc ra từ một cuống tròn to, cuống mọc lên từ nách lá (cao 20 -30 cm). Mỗi cành thường có 4 nụ hoa nên còn gọi là huệ tứ diện. Trục hoa hay ngồng hoa có hình trụ, thẳng đứng, rỗng trong , dài từ 25-70 cm, đường kính từ 1,5-4,0 cm. Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống, bao hoa hình phiễu, nằm ngang, dạng tràng, có hai dạng hoa là lan huệ đơn và lan huệ bán kép hoặc lan huệ kép.

Hoa lan huệ đơn với 6 cánh hoa xếp thành hai lớp so le nhau, mỗi lớp 3 cánh xếp hình tam giác. Hoa lan huệ kép có nhiều cánh hoa xếp từ 3 lớp cánh trở lên (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Hoa cánh đơn thường có 6 nhị. Hoa cánh kép, bán kép là hoa lưỡng tính, có thể có nhị hoặc không, nhị, nhụy có xu hướng biến đổi thành cánh (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn).

5 Hoa đơn Hoa kép Hình 2. Hoa lan huệ Quả và hạt: quả nang, hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh. Nhiều hạt, hạt hình dẹt, màu đen, nội nhũ hạt bao lấy phôi nhỏ,xung quanh hạt có lớp cánh mỏng (Nguyễn Thị Đỏ,2007). Các giống khác nhau thì kích thước hạt cũng khác nhau.

Quả Hạt Hình 2. Qủa và hạt lan huệ (Nguồn: internet) Màu sắc hoa: rất phong phú và đa dạng gồm các màu cơ bản: đỏ, hồng, trắng, cánh sen, cam, vàng, xanh,…kèm theo đó trên mỗi cánh hoa có sự xuất hiện của gân hoặc chấm tạo điểm nhấn, đặc điểm riêng biệt của từng bông. Tùy vào từng giống hoa lan huệ có mùi thơm, thơm nhẹ hoặc không mùi. Đặc điểm sinh trưởng của lan huệ: Lan huệ ra hoa khi thời tiết mát mẻ.

Cây ra hoa trong khoảng từ đầu tháng 6 2 đến hết tháng 5, giai đoạn nở rộ từ tháng 3 đến tháng 4 (Vũ Thị Hoa, 2016). Lan huệ có 2 cách trồng từ hạt và từ củ. Đối với cây được trồng từ củ, tùy thuộc vào giống, kích thước củ, số lá trên cây và chế độ chăm sóc thì thời gian ra hoa và số ngồng không giống nhau. Điều kiện để cây có 1 ngồng từ lúc trồng củ con thì cây phải xuất hiện 4 lá to, khỏe vào năm trước.

Đối với lan huệ gieo từ hạt, thời gian từ lúc gieo trồng đến lúc ra hoa nằm trong khoảng 32 tháng, ngoài ra nhìn vào kích thước củ cũng cho biết khả năng ra hoa của củ ( Vũ Thị Hoa, 2016). Yêu cầu ngoại cảnh: Lan huệ là loài cây dễ trồng, dễ chăm sóc. Chúng có thể chịu được điều kiện khắc nghiệt về ánh sáng, dinh dưỡng cũng như khả năng chịu hạn. Tuy nhiên khả năng chịu úng kém.

Ánh sáng: lan huệ thích nghi khá tốt với điều kiện ánh sáng ngay cả khi có nắng hoặc bóng râm. Vị trí lí tưởng để trồng lan huệ cần thời gian chiếu sáng khoảng 6-8 giờ/ngày. Lan huệ trồng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng cây sẽ sinh trưởng tốt về thân lá, ngồng hoa cứng cáp, phát triển nhanh và cho hoa sớm hơn so với trong điều kiện ánh sáng yếu (Trịnh Thị Hằng, 2012). Nơi có ánh sáng yếu ngồng hoa dễ bị cong, lá xanh và dài hơn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoa.

Nhiệt độ: lan huệ có thể chịu được nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp để lan huệ sinh trưởng, phát triển tốt là 21 - 24 °C. Nhiệt độ thấp hơn 5˚C hoặc cao hơn 30˚C, cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù (Phạm Đức Trọng, 2014). Ngoài ra nhiệt độ cũng làm thay đổi màu sắc của lá và hoa (Phùng Thị Bích, 2014). Nếu nhiệt độ trên 35˚C trong thời gian dài có thể gây ra hiện tượng cháy lá và hoa bị nhạt màu.

Đất và dinh dưỡng: Loại đất phù hợp trồng lan huệ nhất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh, độ pH 6,0 - 7,8, pH tối thích từ 6,0 - 6,8 (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014). Khi nồng độ muối trong đất cao, lan huệ không hút được nước, ảnh hưởng 7 tới sinh trưởng và ra hoa. Hàm lượng muối trong đất không vượt quá 1,5mg/cm2, lượng hợp chất Clo không quá 1,5mmol/l (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sinh trưởng và nhân giống lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ tại Gia Lâm, Hà Nội 2022 là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình nhân giống lan huệ lai thông qua phương pháp chẻ củ. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp các kỹ thuật chi tiết để đảm bảo tỷ lệ sống cao và chất lượng cây giống mà còn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của lan huệ lai trong điều kiện cụ thể tại Gia Lâm, Hà Nội. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến lĩnh vực nhân giống thực vật, đặc biệt là các loài hoa có giá trị kinh tế cao.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp nhân giống thực vật, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật nhân giống cây sa nhân tím amomum longiligulare t l wu trong giai đoạn vườn ươm ở bình định, hoặc Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng đến khả năng nhân giống trà hoa vàng bằng phương pháp giâm cành tại yên bái. Nếu bạn quan tâm đến công nghệ nhân giống hiện đại, Ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào thực vật trong việc nhân giống in vitro cây chuối già lùn musa cavendish sp tạo giống chuối già lùn sạch bệnh sẽ là tài liệu hữu ích để khám phá.