Đặt vấn đề: Ngày nay, đời sống con người ngày một nâng cao về cả vật chất và tinh thần. Trong đó, hoa hay cây cảnh đã đi vào cuộc sống như một nét đẹp, giúp con người cân bằng cuộc sống và thư giãn tinh thần. Nhu cầu người dùng lớn, đòi hỏi sự độc đáo, đa dạng và mới lạ, nên việc nghiên cứu và chọn tạo những giống hoa mới luôn đặt lên hàng đầu. Cây hoa Lan huệ thuộc chi Hippeastrum, thuộc họ Amaryllidaceae (Traub, 1949; Merrow, 1988; Rees, 1992; Banerji at al.
Tại Việt Nam Hoa Lan huệ thường được gọi với các tên khác như hoa loa kèn đỏ và hoa tứ diện. Ngày nay lan huệ được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới. Đây là loại cây có khả năng chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến tại các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Cây lan huệ có hoa đẹp, đa dạng về màu sắc, kích thước, tùy vào người chơi hoa có thể trồng chậu, trồng viền, trồng thảm hoặc dùng hoa cắt cành.
Trên thế giới, người dân thường chơi hoa trồng chậu trong dịp giáng sinh và năm mới, vì vậy hoa lan huệ thường được xử lý ra hoa sớm. Ở Việt Nam, nếu xử lý ra hoa sớm sẽ nở đúng trong dịp Tết Nguyên Đán, hoa không xử lý sẽ nở vào tháng 3 đến tháng 4 hàng năm. Hiện nay, nhu cầu chơi hoa Lan huệ ngày càng tăng. Nhiều giống hoa mới được nhập nội có nhiểu đặc điểm vượt trội như hoa có nhiều hình dáng (cánh đơn, kép, bán kép), kích thước hoa đa dạng (từ nhỏ, trung bình đến lớn), màu sắc hoa đa dạng (hồng phấn, đỏ cam, đỏ trắng, cam, vàng,…).
Lan huệ có thể được trồng trong chậu, trồng thảm hay được trồng làm hoa cắt. Ngoài ra còn được chọn làm cây trồng thảm, trồng viền. Để lựa chọn được các dòng lai mới phù hợp với mục đích làm hoa cắt hay trồng chậu thì công tác đánh giá giống cần phải được thực hiện thường xuyên. Hiện nay, các giống hoa bản địa (truyền thống) bị hạn chế về màu sắc, mùi 1 hương,.Để đáp ứng được nhu cầu chơi hoa ngày càng cao và để phát huy hết giá trị của hoa lan huệ, công tác lai giống đã được thực hiện để tạo ra những giống hoa có màu sắc đa dạng, chất lượng hoa tốt.
Các dòng hoa lan huệ lai mới được lựa chọn thì có hệ số nhân giống thấp, nên việc nhân giống cần được thực hiện. Có nhiều phương pháp nhân giống cho lan huệ và một trong số đó là nhân giống bằng phương pháp chẻ củ rất phổ biến, có thể áp dụng trong thực tế tại Việt Nam do giá thành rẻ, đơn giản, hệ số nhân giống cao. Vậy nên việc áp dụng các kĩ thuật mới nhân giống nhằm rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây con là rất cần thiết. Xuất phát từ những phân tích trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, phát triển và nhân giống một số dòng lan huệ lai bằng phương pháp chẻ củ tại Gia Lâm, Hà Nội”.Mục đích và yêu cầu: 1.
Mục đích: Dựa trên kết quả nghiên cứu, lựa chọn những dòng lai có đặc tính tốt về các đặc điểm hoa (kích thước, màu sắc, hình dáng.) để phục vụ cho sản xuất hoa cắt cành, hoa trồng chậu và nhân giống một số dòng lan huệ lai có triển vọng ở Việt Nam. Yêu cầu: - Theo dõi một số đặc điểm sinh trưởng, phát triển và tình hình sâu bệnh hại của tập đoàn hoa lan huệ. - Lựa chọn được dòng hoa có triển vọng cho công tác giống. - Nhân giống 17 dòng lai lan huệ bằng phương pháp chẻ củ.
2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Giới thiệu về chi Hippeastrum: 1. Vị trí và phân loại: Cây hoa Lan Huệ (Hippeastrum L.) thuộc chi Hippeastrum, họ Hành Liliaceae, bộ Hành (Liliales), phân lớp Hành (Liliidae), lớp thực vật một lá mầm (Liliopsida) (Đinh Thị Thu Trang, 2015). Hiện nay, trên toàn thế giới Lan Huệ có khoảng 91 loài và hơn 600 giống lai được biết đến với sự đa dạng về màu sắc cánh hoa. Nguồn gốc và phân bố: Lan Huệ có nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới châu Mỹ.
Eduard Frederick Poepping đã tìm thấy hoa lan huệ đầu tiên vào năm 1828 trong quá trình tìm kiếm ở Chile (Kathie Carter, 2007). Chúng phân bố rộng từ đông Brazil đến miền Nam dãy Andes thuộc Peru, Argentina và Bolivia. Lan huệ là loài cây chịu nhiệt tốt nên được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Phạm Thị Minh Phượng, 2014). Có hai trung tâm sản xuất Lan Huệ trên thế giới là Hà Lan và Nam Phi.
Ở Việt Nam, loại hoa này được trồng ở nhiều nơi, có khả năng thích nghi cao, cho hoa đẹp, thường nở vào vụ xuân hè (Nguyễn Hạnh Hoa, 2014). Nước ta có 2 loài Lan Huệ phổ biến là lan huệ (Hippeastrum quester Herb) ở Việt Nam được gọi là Loa Kèn Đỏ, có nguồn gốc từ Nam Mỹ (Nguyễn Thị Đỏ, 2007) và lan huệ mạng (Hippeastrum reculatum Herb) được trồng nhiều ở Đà Lạt nước ta, có nguốc Brazil (Phạm Hoàng Hộ, 2000). Ngoài ra, theo Phạm Thị Minh Phượng, (2016) còn có một số dưới loài và nhiều giống lai được nhập nội và trồng từ lâu. Đặc điểm thực vật học: Thân: Cây Lan Huệ là loài thực vật có thân giả (giống như củ hành tây).
Đế củ chính là thân chính của cây hoa Lan Huệ, phần phình ra để dự trữ nước và 3 các chất dinh dưỡng là do bẹ lá tạo thành (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Thân cây dạng hình cầu hoặc cầu dẹt. Các lớp trong có màu xanh non hay trắng ngà, giòn và chứa nước, lớp ngoài cùng có màu nâu còn gọi là lớp áo (Vũ Thị Hoa, 2016). Theo Nguyễn Thị Đỏ, 2007.
Thân củ lan huệ (Nguồn: internet) Lá: tập trung ở gốc, mọc đối nhau , lá dày rộng từ 2-5cm, phiến lá hình dải, hình kiếm, hoặc hình mũi mác, hơi khum thành lòng máng, dài, cứng, có nhiều gân song song, gân chính giữa to. Kích thước lá to, nhỏ, dài, ngắn phụ thuộc vào từng giống và điều kiện chăm sóc (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Ở miền Bắc Việt Nam, vào mùa đông lá Lan Huệ có hiện tượng ngủ đông để tập trung dinh dưỡng cho ngồng hoa vào vụ kế tiếp. Lá lan huệ 4 Rễ: lan huệ thuộc bộ hành Lilliales nên có dạng rễ chùm gồm nhiều rễ phụ tương đối đồng đều về kích thước, rễ có màu trắng đến trắng ngà hoặc vàng, rễ mọc ra từ phần đế củ (thân rễ), phân nhánh mạnh, ăn nông 5-10cm.
Rễ lan huệ (Nguồn: internet) Hoa: hoa lan huệ mọc ra từ một cuống tròn to, cuống mọc lên từ nách lá (cao 20 -30 cm). Mỗi cành thường có 4 nụ hoa nên còn gọi là huệ tứ diện. Trục hoa hay ngồng hoa có hình trụ, thẳng đứng, rỗng trong , dài từ 25-70 cm, đường kính từ 1,5-4,0 cm. Hoa to, đều, lưỡng tính, màu sắc sặc sỡ, có cuống, bao hoa hình phiễu, nằm ngang, dạng tràng, có hai dạng hoa là lan huệ đơn và lan huệ bán kép hoặc lan huệ kép.
Hoa lan huệ đơn với 6 cánh hoa xếp thành hai lớp so le nhau, mỗi lớp 3 cánh xếp hình tam giác. Hoa lan huệ kép có nhiều cánh hoa xếp từ 3 lớp cánh trở lên (Nguyễn Thị Đỏ, 2007). Hoa cánh đơn thường có 6 nhị. Hoa cánh kép, bán kép là hoa lưỡng tính, có thể có nhị hoặc không, nhị, nhụy có xu hướng biến đổi thành cánh (hoàn toàn hoặc không hoàn toàn).
5 Hoa đơn Hoa kép Hình 2. Hoa lan huệ Quả và hạt: quả nang, hình cầu hoặc hình thuôn, mở ở khe lưng ô thành 3 mảnh. Nhiều hạt, hạt hình dẹt, màu đen, nội nhũ hạt bao lấy phôi nhỏ,xung quanh hạt có lớp cánh mỏng (Nguyễn Thị Đỏ,2007). Các giống khác nhau thì kích thước hạt cũng khác nhau.
Quả Hạt Hình 2. Qủa và hạt lan huệ (Nguồn: internet) Màu sắc hoa: rất phong phú và đa dạng gồm các màu cơ bản: đỏ, hồng, trắng, cánh sen, cam, vàng, xanh,…kèm theo đó trên mỗi cánh hoa có sự xuất hiện của gân hoặc chấm tạo điểm nhấn, đặc điểm riêng biệt của từng bông. Tùy vào từng giống hoa lan huệ có mùi thơm, thơm nhẹ hoặc không mùi. Đặc điểm sinh trưởng của lan huệ: Lan huệ ra hoa khi thời tiết mát mẻ.
Cây ra hoa trong khoảng từ đầu tháng 6 2 đến hết tháng 5, giai đoạn nở rộ từ tháng 3 đến tháng 4 (Vũ Thị Hoa, 2016). Lan huệ có 2 cách trồng từ hạt và từ củ. Đối với cây được trồng từ củ, tùy thuộc vào giống, kích thước củ, số lá trên cây và chế độ chăm sóc thì thời gian ra hoa và số ngồng không giống nhau. Điều kiện để cây có 1 ngồng từ lúc trồng củ con thì cây phải xuất hiện 4 lá to, khỏe vào năm trước.
Đối với lan huệ gieo từ hạt, thời gian từ lúc gieo trồng đến lúc ra hoa nằm trong khoảng 32 tháng, ngoài ra nhìn vào kích thước củ cũng cho biết khả năng ra hoa của củ ( Vũ Thị Hoa, 2016). Yêu cầu ngoại cảnh: Lan huệ là loài cây dễ trồng, dễ chăm sóc. Chúng có thể chịu được điều kiện khắc nghiệt về ánh sáng, dinh dưỡng cũng như khả năng chịu hạn. Tuy nhiên khả năng chịu úng kém.
Ánh sáng: lan huệ thích nghi khá tốt với điều kiện ánh sáng ngay cả khi có nắng hoặc bóng râm. Vị trí lí tưởng để trồng lan huệ cần thời gian chiếu sáng khoảng 6-8 giờ/ngày. Lan huệ trồng trong điều kiện đầy đủ ánh sáng cây sẽ sinh trưởng tốt về thân lá, ngồng hoa cứng cáp, phát triển nhanh và cho hoa sớm hơn so với trong điều kiện ánh sáng yếu (Trịnh Thị Hằng, 2012). Nơi có ánh sáng yếu ngồng hoa dễ bị cong, lá xanh và dài hơn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoa.
Nhiệt độ: lan huệ có thể chịu được nhiệt độ cao, nhiệt độ thích hợp để lan huệ sinh trưởng, phát triển tốt là 21 - 24 °C. Nhiệt độ thấp hơn 5˚C hoặc cao hơn 30˚C, cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù (Phạm Đức Trọng, 2014). Ngoài ra nhiệt độ cũng làm thay đổi màu sắc của lá và hoa (Phùng Thị Bích, 2014). Nếu nhiệt độ trên 35˚C trong thời gian dài có thể gây ra hiện tượng cháy lá và hoa bị nhạt màu.
Đất và dinh dưỡng: Loại đất phù hợp trồng lan huệ nhất có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, thoát nước tốt, không chứa mầm bệnh, độ pH 6,0 - 7,8, pH tối thích từ 6,0 - 6,8 (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014). Khi nồng độ muối trong đất cao, lan huệ không hút được nước, ảnh hưởng 7 tới sinh trưởng và ra hoa. Hàm lượng muối trong đất không vượt quá 1,5mg/cm2, lượng hợp chất Clo không quá 1,5mmol/l (Nguyễn Thị Thu Thủy, 2014).