Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng năng suất chất lượng và tiêu hóa invitro của một số giống cao lương ngọt trên bò thịt compressed

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng và tiêu hóa in vitro của giống cao lương ngọt trên bò thịt.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

70
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về giống cao lương ngọt

Giống cao lương ngọt (Sorghum bicolor) là một trong những loại cây trồng quan trọng trong nông nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực chăn nuôi. Cây có khả năng sinh trưởng mạnh mẽ và cho năng suất cao, đặc biệt trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Thời gian sinh trưởng của giống này thường từ 3,5 đến 4 tháng, cho phép thu hoạch nhiều lần trong một vụ. Đặc điểm nổi bật của cao lương ngọt là khả năng chịu hạn tốt, không kén đất, có thể phát triển trên những vùng đất khô cằn. Theo nghiên cứu của ICRISAT, cây có thể thay thế một phần diện tích trồng ngô tại nhiều khu vực trên thế giới. Việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng và năng suất của giống cao lương ngọt không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững trong chăn nuôi bò thịt.

1.1. Đặc điểm sinh trưởng của giống cao lương ngọt

Giống cao lương ngọt có khả năng sinh trưởng tốt trong nhiều điều kiện khác nhau. Cây có chiều cao từ 0,6 đến 5m, với đường kính thân từ 5 đến 30mm. Số lượng lá trên cây tương quan với thời gian sinh trưởng, thường từ 7 đến 18 lá. Cây có khả năng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, với khả năng chịu hạn và úng tốt. Đặc biệt, cây có thể sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa thấp, từ 400 đến 600mm mỗi năm. Điều này cho thấy cao lương ngọt là một lựa chọn lý tưởng cho các vùng đất khó khăn, giúp tăng cường an ninh lương thực và phát triển chăn nuôi bền vững.

II. Năng suất và chất lượng của giống cao lương ngọt

Năng suất của giống cao lương ngọt được đánh giá cao, với khả năng đạt trên 100 tấn/ha/vụ. Nghiên cứu cho thấy, giống này không chỉ có năng suất cao mà còn có giá trị dinh dưỡng tốt cho bò thịt. Thành phần dinh dưỡng của cây bao gồm protein, chất béo và chất xơ, với hàm lượng protein thô từ 11 đến 12%. Điều này cho thấy cao lương ngọt có thể được sử dụng làm thức ăn chính cho bò thịt, giúp cải thiện hiệu quả chăn nuôi. Việc sử dụng cao lương ngọt làm thức ăn cho gia súc không chỉ giúp giảm chi phí thức ăn mà còn nâng cao sức khỏe và năng suất của động vật.

2.1. Đánh giá năng suất và tiêu hóa in vitro

Nghiên cứu về khả năng tiêu hóa in vitro của giống cao lương ngọt cho thấy tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi cao. Kết quả cho thấy, giống này có khả năng cung cấp năng lượng tốt cho bò thịt, giúp tăng cường hiệu quả chăn nuôi. Việc đánh giá thành phần hóa học của cây cũng cho thấy hàm lượng tannin và HCN thấp, điều này làm tăng tính an toàn khi sử dụng làm thức ăn cho gia súc. Các nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về giá trị dinh dưỡng của cao lương ngọt mà còn mở ra hướng đi mới trong việc sử dụng cây trồng này trong chăn nuôi.

III. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu về giống cao lương ngọt có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển bền vững ngành chăn nuôi tại Việt Nam. Việc sử dụng cao lương ngọt làm thức ăn cho bò thịt không chỉ giúp giảm chi phí sản xuất mà còn nâng cao năng suất và chất lượng thịt. Hơn nữa, giống cây này có khả năng thích ứng tốt với điều kiện khí hậu khắc nghiệt, giúp tăng cường an ninh lương thực trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các kết quả nghiên cứu cũng có thể được áp dụng trong việc phát triển các mô hình chăn nuôi hiệu quả, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp.

3.1. Tác động đến ngành chăn nuôi

Việc áp dụng giống cao lương ngọt trong chăn nuôi có thể tạo ra những thay đổi tích cực trong ngành nông nghiệp. Cây không chỉ cung cấp nguồn thức ăn dồi dào mà còn giúp cải thiện sức khỏe của bò thịt. Nghiên cứu cho thấy, việc sử dụng cao lương ngọt có thể làm giảm tỷ lệ bệnh tật ở gia súc, từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất. Điều này không chỉ có lợi cho người chăn nuôi mà còn góp phần vào việc phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

01/03/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng năng suất chất lượng và tiêu hóa invitro của một số giống cao lương ngọt trên bò thịt compressed

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Đặc điểm một số giống cây Cao Lương hiện nay Cao lương ngọt (sweet sorghum) là một loại cây thuộc họ hòa thảo đứng thứ 4 trên thế giới về sản lượng và đứng thứ 5 về diện tích (Rao và cs, 2009) [37] chiều cao từ 0,6 - 5m, đường kính thân 5 - 30mm tùy thuộc vào giống, điều kiện canh tác và môi trường. Đặc điểm thực vật học cũng như thời gian sinh trưởng của cây cao lương tương tự như cây ngô và các cây ngũ cốc khác.

Số lượng lá trên cây tương quan với thời gian sinh trưởng, thông thường trên thân có từ 7 - 18 lá hoặc hơn. Lá ngắn và rộng hơn lá ngô. Mỗi lá được sinh ra từ một đốt, số lá ở thời kỳ trưởng thành tương đương với số đốt trên thân. Thân gồm các lóng và đốt, lá mọc ra từ đốt, chồi có thể mọc ra từ các đốt thân.

Thời gian đẻ nhánh sớm hay muộn tùy thuộc vào giống, thời vụ và kỹ thuật canh tác, sau khi thu hoạch có thể cắt bỏ các nhánh tạo điều kiện cho cây đẻ nhánh vào vụ sau mà không cần phải trồng lại. Những giống có hàm lượng nước trong thân cao thường có thân màu xanh xám, gân lá màu tối. Hoa mọc thành chùm, chùm hoa có cả hoa đực và hoa cái, mỗi chùm gồm khoảng 6. Hạt cao lương nhỏ hơn hạt ngô và có một lớp vỏ ngoài.

Một kg hạt giống chứa 25. Hạt có nhiều màu sắc khác nhau từ màu vàng nhạt, màu nâu đỏ nhạt đến màu nâu sẫm tùy thuộc vào từng giống cây. Hạt càng sậm màu càng chứa nhiều tananh làm cho hạt có vị đắng. Là một loại cây trồng nhiệt đới, cao lương cùng họ với lúa.

Nhưng cao lương quang hợp theo chu trình C4 đây chính là một ưu điểm lớn của cao lương. Nhờ quang hợp theo đường hướng này mà cao lương ngọt có thể tổng hợp chất hữu cơ ở điều kiện nhiệt độ cao và không xảy ra hiện tượng quang hô hấp. Ngược lại, lúa là đại diện của các loại cỏ ôn đới, sử dụng chu trình C3. Cao lương ngọt là sự kết hợp các ưu điểm giữa lúa và cây trồng nhiệt đới với bộ gen lớn hơn nhiều và sự bổ xung các gen có lợi khác từ mía, đây là 5 một trong những cây trồng hiệu quả nhất trên thế giới trong việc sản xuất sinh khối cây trồng hiện nay.

Theo (James và cs, 2012) [35]: báo cáo từ các khu vực, đây là cây trồng chống chịu được với các loại đất từ chua đến kiềm, đất ngập nước hay khô hạn, nồng độ muối cao, các loại nấm bệnh cũng như cỏ dại. Cao lương có các đặc điểm về hình thái và sinh lý cho phép nó có thể sinh trưởng và tồn tại trong điều kiện hạn như bộ rễ ăn sâu và lan rộng, lớp phấn muội dày bao phủ thân, bề mặt lá và khả năng tự dừng sinh trưởng trong điều kiện hạn, phục hồi bình thường trở lại khi thuận lợi. Do vậy, nó có thể phát triển ở những vùng nhiệt đới và á nhiệt đới với lượng mưa hàng năm chỉ 400 - 600 mm, quá khô không trồng ngô được. Không chỉ có khả năng sinh trưởng trong vùng hạn, mà nó cũng có khả năng phát triển được cả với điều kiện thường xuyên ngập nước, do đó nó cũng có thể trồng ở những vùng có lượng nước lớn.

Cao lương sinh trưởng được từ cao độ 0 - 2300 m so với mực nước biển (ICRISAT, 1996) [trích theo 10]. Khoảng pH đất mà cao lương có thể sinh trưởng được rất rộng (5,0 - 8,5) (ICRISAT, 1996), nhưng theo James và cs, 2012 [35] thì cao lương cũng có thể trồng được ở những đất có pH xuống tới 4,3 hoặc lên tới 8,7. Khoảng nhiệt độ cao lương có thể thích ứng được là từ 2,0 - 410 C. Nhiệt độ hàng năm trung bình có thể từ 7,8 - 27,8 0C, thông thường khoảng 21 0C (James và cs, 2012) [35].

Như vậy cây cao lương có thể thích ứng tốt trong các điều kiện nóng và lạnh của các vùng thuộc khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới. Theo Akinfemi và cs (2010) [24] thì cao lương cũng có thể chịu đựng được độ mặn của đất lên đến 4,04 dS/m. Như vậy cao lương cho thấy khả năng chịu hạn, úng, nóng, lạnh và mặn hơn hẳn những cấy trồng khác. Đấy là ưu điểm lớn cho phép canh tác cao lương ở những vùng khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện khô hạn.

Những nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng của cây cao lương Ấn Độ, châu Phi, châu Mỹ La tinh… là các quốc gia dùng cao lương như 1 loại lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày, tuy nhiên chủ yếu được dùng 6 làm thức ăn cho gia súc dưới dạng lương thực hoặc làm si rô lúa miến hoặc còn gọi là “mật cao lương” (làm từ các giống có hàm lượng đường cao như ở mía), cỏ khô, cũng như để sản xuất một vài loại đồ uống có cồn Cao lương là một trong 5 loại hạt cốc (ngũ cốc) hàng đầu thế giới. Hạt cao lương có hàm lượng protein cao hơn ngô, song các thành phần dinh dưỡng khác thấp hơn ngô cụ thể như vitamin A (Mubi và cs, 2008) [33]. Cao lương có thể làm thức ăn gia súc dưới dạng hạt hay dạng thức ăn thô xanh (thân lá)… Qua phân tích hóa học cho thấy hạt cao lương có hàm lượng tannin và HCN ít hơn so với thân và lá; chúng có protein thô 11 - 12%, dầu 3,0 - 3,1%, xơ 3,1 - 3,2%, dẫn xuất không đạm 70 - 80%, năng lượng trao đổi 3000 Kcal/kg chất thô. Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương so với ngô như trong bảng 1.

Thành phần dinh dưỡng của hạt cao lương và ngô làm thức ăn chăn nuôi ME cho gia ME cho Protein Lysin dễ Lysin súc nhai lại gia cầm Thô tiêu Loại cây (%) (MJ/kg) (MJ/kg) (%) (%) Cao lương 12,4 13,7 11,0 0,27 0,19 Ngô 12,1 14,2 9,0 0,27 0,22 Một số tác giả phân tích chuyên sâu khác về thành phần dinh dưỡng trong hạt cao lương cho thấy: Cám của hạt cao lương rất ít protein và khoáng nhưng giàu chất xơ. Phôi cao lương giàu khoáng, protein, vitamin B - Complex và dầu nhưng ít tinh bột, trên 68% chất khoáng và 75% chất dầu của hạt nằm trong phôi. Nội nhũ là phần lớn nhất của hạt, nó nghèo dầu và khoáng nhưng lại có nhiều protein (80%), tinh bột (94%), vitamin B - Complex (50 - 75%) (Gran và cs, 1995) [29]. 7 Theo NRI (1988) đã khuyến cáo: Với thành phần dinh dưỡng như trên, để tăng tính ngon miệng cho gia súc và tăng hiệu quả sử dụng của thức ăn, giới hạn sử dụng hạt cao lương và ngô trong khẩu phần ăn được cân đối như sau: Cao lương (%) Ngô (%) Gia cầm 30 70 Lợn 30 30 Bò sữa 50 70 Bò thịt 70 70 1.

Những nghiên cứu về kỹ thuật canh tác cao lương * Mùa vu ̣: - Ở Mehico đa số cao lương đươ ̣c trồ ng từ tháng 7 đế n tháng 8, sinh trưởng tăng ở điề u kiê ̣n ngày dài và ẩ m, nhiệt sô ̣ thích hơ ̣p là từ 25 - 300C. - Ở bang Minesota của My,̃ cao lương đươ ̣c trồ ng từ giữa tháng 5 đế n đầ u tháng 6 khi nhiêṭ đô ̣ của đấ t đa ̣t 15,6 - 18,30C. Nế u trồ ng muô ̣n hơn thì năng suấ t cao lương sẽ giảm (Mubi và cs, 2008) [33]. * Mâ ̣t đô ̣: Thông thường có khoảng 16.000 ha ̣t giố ng cao lương/0,454 kg.

Phần lớn ha ̣t cao lương lai có tỷ lê ̣ nảy mầ m trung bình là 75%. Nế u đấ t tốt và đô ̣ ẩm thích hợp thì gieo hàng cách hàng là 0,76 - 1,02 m, khoảng cách hạt trung bình là 1,5 cm, và gieo ha ̣t ở đô ̣ sâu 50 - 70 mm. Như vâ ̣y thì có khoảng 247. Nếu đất kém màu mỡ và khô cứng thì tỷ lê ̣ ha ̣t giống đươ ̣c gieo thấ p hơn.

Mật độ trồng cao lương phụ thuô ̣c vào giố ng, cu ̣ thể là kích thước và tro ̣ng lươ ̣ng của ha ̣t giống. Kích thước hàng: Đố i với cao lương lấ y ha ̣t trong điề u kiện có phân bón và nước tưới, gieo từ 8 - 12 kg/ha (Mubi và cs, 2008) [33]. Theo Mortvedt và cs (1996) ở phía Đông Mehico năng suấ t cao lương cao khi trồ ng với mâ ̣t đô ̣ 7,8 kg/ha, khoảng cách hàng hep̣ (15,2 - 50,8 cm). Kích thước hàng phu ̣ thuô ̣c vào các thiế t bi ̣chuyên dùng để thực hiêṇ viêc̣ gieo ha ̣t.

Trong nhiề u năm gầ n đây viê ̣c trồ ng cây theo luố ng hàng để tăng năng suấ t đươ ̣c chú tro ̣ng đă ̣c biêt.̣ 8 Khi đó khoảng cách giữa các cây trên luố ng phải đươ ̣c bố trí sao cho phù hơ ̣p với số lươ ̣ng cây trên ha. Ưu điể m của phương pháp này là tâ ̣n du ̣ng đươ ̣c đô ̣ ẩ m, sự màu mỡ của đấ t cũng như ánh sáng mă ̣t trời. Kế t quả nghiên cứu từ minesota cho thấ y luố ng có đô ̣ rô ̣ng 0,25 m cho năng suấ t cao hơn từ 10 - 15% so với luố ng có đô ̣ rô ̣ng 1,02 m. Tuy nhiên phương pháp này có nhươ ̣c điể m là khó chăm sóc và viê ̣c kiể m soát cỏ da ̣i phu ̣ thuô ̣c hoàn toàn vào thuố c diêṭ cỏ.

*Phân bón: Nhu cầ u dinh dưỡng của cây cao lương rấ t giố ng với cây ngô nhưng cao lương cần một lượng lớn đa ̣m, mô ̣t lươ ̣ng vừa phải phốt pho và kali. Trong điều kiê ̣n khô ha ̣n bón 80 - 100 kg N/ha trước khi trồ ng. Với điề u kiêṇ có tưới bón 100 kg N/ha trước khi trồ ng + 50 kg N/ha sau mỗi lầ n cắ t (Mubi và cs, 2008) [33]. Lượng đạm yêu cầu phu ̣ thuô ̣c vào năng suấ t mong muố n và giống.

Lượng đạm khoảng 224,2 kg N/ha với điề u kiêṇ có tưới và 16,8 kg N/ha trong điề u kiêṇ khô hạn bởi vì ở điề u kiện này mật đô ̣ và năng suấ t sẽ thấ p hơn. Lượng đạm cần bón có liên quan đế n cây trồ ng trước, ví dụ cây ho ̣ đâ ̣u, lươ ̣ng phân chuồng là những yế u tố cầ n tính đế n để áp du ̣ng mức phân cầ n bón. Nế u bón đạm ở mức nhiề u cầ n chia ra nhiều lần bón đề u nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu sinh trưởng, năng suất và tiêu hóa in vitro của giống cao lương ngọt trên bò thịt" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng sinh trưởng và năng suất của giống cao lương ngọt, một loại thức ăn quan trọng cho bò thịt. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của giống cây này mà còn đánh giá khả năng tiêu hóa in vitro, từ đó giúp người chăn nuôi tối ưu hóa chế độ dinh dưỡng cho đàn bò. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà nghiên cứu, nông dân và những ai quan tâm đến ngành chăn nuôi, giúp họ nâng cao hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các giống cây trồng khác và ứng dụng của chúng trong nông nghiệp, hãy tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ khảo nghiệm một số giống keo trên đất sau khai thác khoáng sản tại thị trấn trại cau huyện đồng hỷ tỉnh thái nguyên, nơi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của giống keo trong điều kiện đất sau khai thác. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng tái sinh in vitro của một số giống đậu dải cowpea vigna unguiculata l phục vụ cho tạo giống mới cũng sẽ cung cấp thông tin bổ ích về công nghệ tái sinh cây trồng, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp tạo giống mới. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống cao su nhập nội từ trung quốc tại vùng trung du và miền núi phía bắc sẽ giúp bạn khám phá khả năng thích ứng của các giống cây trồng trong điều kiện khí hậu khác nhau. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về nông nghiệp và phát triển cây trồng.