Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống cao su nhập nội từ trung quốc tại vùng trung du và miền núi phía bắc

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu khả năng thích ứng của một số giống cao su nhập nội từ trung quốc tại vùng trung du và, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp

2012

109
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giống cao su Trung Quốc và khả năng thích ứng

Nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá khả năng thích ứng của các giống cao su nhập nội từ Trung Quốc tại vùng miền núi phía Bắc. Các giống này được chọn lọc dựa trên khả năng chịu lạnh và thích nghi với điều kiện khí hậu đặc thù của vùng. Kết quả cho thấy, một số giống như IAN 873 và GT1 có khả năng sinh trưởng tốt trong điều kiện nhiệt độ thấp, đặc biệt là vào mùa đông. Điều này mở ra tiềm năng lớn cho việc phát triển nông nghiệp bền vững tại khu vực này.

1.1. Đặc điểm sinh học của giống cao su

Các giống cao su nhập nội từ Trung Quốcđặc điểm sinh học nổi bật như khả năng chịu lạnh và phục hồi nhanh sau các đợt rét đậm. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các giống này có hệ thống rễ phát triển mạnh, giúp cây hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn trong điều kiện đất đai kém màu mỡ. Đây là yếu tố quan trọng giúp cây duy trì năng suất caochất lượng cao su ổn định.

1.2. Kỹ thuật trồng và quản lý giống

Việc áp dụng kỹ thuật trồng phù hợp đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao hiệu quả canh tác. Các biện pháp như chọn địa điểm trồng có độ cao phù hợp, bón phân cân đối và tưới tiêu hợp lý đã được nghiên cứu và khuyến cáo. Bên cạnh đó, quản lý giống chặt chẽ giúp giảm thiểu rủi ro do sâu bệnh và biến động thời tiết, đảm bảo sản xuất cao su ổn định.

II. Tác động của biến đổi khí hậu đến giống cao su

Biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với việc phát triển giống cao su tại miền núi phía Bắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các đợt rét đậm kéo dài và sự thay đổi thất thường của nhiệt độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh trưởng và năng suất của cây cao su. Tuy nhiên, các giống cao su nhập nội từ Trung Quốc đã thể hiện khả năng thích nghi tốt, đặc biệt là trong việc chịu lạnh và phục hồi sau thiệt hại.

2.1. Đánh giá thiệt hại do rét đậm

Nghiên cứu đã tiến hành đánh giá giống sau các đợt rét đậm vào đầu năm 2011. Kết quả cho thấy, các giống như GT1 và IAN 873 có tỷ lệ thiệt hại thấp hơn so với các giống địa phương. Điều này khẳng định khả năng chịu lạnh vượt trội của các giống nhập nội, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc chọn tạo giống chịu lạnh.

2.2. Phục hồi sau thiệt hại

Khả năng phục hồi của các giống cao su sau thiệt hại do rét đậm cũng được đánh giá chi tiết. Các giống nhập nội từ Trung Quốc có tốc độ phục hồi nhanh, đặc biệt là trong việc tái tạo lá và thân cây. Đây là yếu tố quan trọng giúp duy trì năng suất cao và đảm bảo chất lượng cao su trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

III. Phát triển bền vững và thị trường cao su

Nghiên cứu không chỉ tập trung vào khả năng thích ứng của giống cao su mà còn hướng đến phát triển bền vững và mở rộng thị trường cao su. Việc phát triển các giống cao su chịu lạnh tại miền núi phía Bắc không chỉ giúp cải thiện đời sống kinh tế của người dân mà còn góp phần đa dạng hóa nguồn cung cao su trong nước.

3.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế

Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc trồng các giống cao su nhập nội từ Trung Quốc mang lại hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt là trong điều kiện khí hậu lạnh. Các giống này không chỉ đảm bảo năng suất cao mà còn giúp giảm thiểu chi phí đầu tư và rủi ro trong quá trình sản xuất.

3.2. Tiềm năng mở rộng thị trường

Với chất lượng cao su ổn định và khả năng thích nghi tốt, các giống cao su nhập nội từ Trung Quốc có tiềm năng lớn trong việc mở rộng thị trường cao su tại các vùng khí hậu lạnh. Điều này không chỉ giúp tăng cường nguồn cung trong nước mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu sang các thị trường quốc tế.

09/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về cây cao su 1. Nguồn gốc xuất sứ và quá trình di nhập Cao su (Hevea brasiliensis) vốn là cây mọc hoang dại trong lưu vực sông Amazone - Brazil và các vùng kế cận. Chi Hevea phân bố từ vĩ tuyến 150 Nam đến vĩ tuyến 60 Bắc và kinh tuyến 460 - 770 Tây ở rừng Amazone, Nam Mỹ bao gồm các nước Brazil Bolivia, Clombia, Peru, Ecuado, Venezuela, French Guiana, Surinam và Guyana.

Vùng sinh thái tư nhiên của cây cao su có hai dạng tiểu vùng khí hậu. Vùng đất thấp ở phía Bắc lưu vực sông Amazone, thuộc khí hậu nhiệt đới ẩm với lượng mưa trung bình trên 2000 mm/năm, không có mùa khô hoặc mùa khô rất ngắn, nhiệt độ trung bình 280C. Vùng chân đồi của lưu vực sông Amazone hướng về phía Tây dãy núi Andes và phía Nam Mato Grosso có mùa khô 3 - 5 tháng, mưa ít hơn 1500 mm/năm. Giữa hai vùng này là kiểu khí hậu trung gian với mùa khô 1 - 3 tháng.

Vùng Acre có lượng mưa từ 1.264 mm/năm với 0 - 4 tháng mùa khô.1: Phân bố tự nhiên cây cao su (Viện nghiên cứu cao su Việt Nam) n 5 Nhà thám hiểm Christopher Columbus và các thuỷ thủ khi đi khám phá các vùng đất châu Mỹ vào các năm 1493 - 1496 đã phát hiện ra chất cao su từ những quả bóng làm từ nhựa cây của thổ dân đảo Haiti. Đến đầu thế kỷ 19, Brazil là nước duy nhất xuất khẩu cao su cho công nghiệp thế giới. Bằng nhiều con đường, cao su đã được di nhập đến các vùng trồng khác nhau. Năm 1873, Colin và Markham thu được 2.000 hạt cao su tại Cametta gần cảng Para và đem trồng trong vườn Bách Thảo Kew (Luân Đôn) nhưng chỉ có 12 cây sống được đem trồng trong vườn Bách Thảo ở Calcutta - Ấn Độ, sau đó không còn cây nào sống.

Năm 1876, Henry Wickham mang 70.000 hạt cao su từ vùng Rio Tapajoz ở vùng thượng lưu sông Amazone về vườn thực vật Kew và có 2.700 hạt nẩy mầm và phát triển thành cây được. Cùng thời gian ấy Cross thu được 10.000 cây từ vùng bán đảo Para Marajo (hạ lưu sông Amazone ) cũng gửi về Kew để trồng. Sau đó vào tháng 9 năm 1876 các cây cao su từ vườn thực vật Kew được đưa về vườn thực vật Cylon (Srilanka), một số ít được đưa sang vườn thảo mộc Singapore nhưng kết quả là không còn cây nào sống. Năm 1883: 22 cây cao su sống tại vườn thực vật Ceylon được phân phối để trồng trên Thế giới.

Năm 1892, sản lượng cao su thu được từ những cây nhân trồng tại Ceylon có chất lượng tốt và tiếp theo đó là 120 ha cây cao su đầu tiên được nhân trồng ở Malaysia [20]. Hiện nay có 24 Quốc gia trồng cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tinh. Tổng diện tích toàn Thế giới khoảng 9,4 triệu ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5% và Mỹ La Tinh, quê hương của cây cao su chưa đến 2% diện tích cao su Thế giới. Việc mở rộng diện tích cao su vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB).

Indonesia có diện tích cao su lớn nhất Thế giới, tiếp theo là Thái Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam. Hầu hết diện tích cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống. Những nước trồng và xuất khẩu cao su nhiều nhất là Indonesia, Thái Lan, Malaysia, Việt Nam, Ấn Độ, Trung Quốc, SriLanka, Liberia và Coted’Ivoire [23]. Tỷ trọng diện tích trồng cao su và sản lượng của những nước trồng cao su hàng đầu Thế giới được thể hiện ở hình 1.

n 6 Tỷ trọng diện tích trồng cao su các nước trên thế giới năm 2010 Các nước khác; 18% Indonesia; 29% Ấn Độ; 6% Việt Nam; 6% Trung Quốc; 8% Malaysia; 9% Thái Lan; 24% Hình 1.2: Tỷ trọng diện tích trồng cao su các nước trên Thế giới năm 2010 Các nước khác; 11% Ấn Độ; 8% Indonesia; 27% Việt Nam; 7% Trung Quốc; 6% Malaysia; 9% Thái Lan; 32% Hình 1.3: Tỷ trọng sản lượng của các nước trên Thế giới năm 2010 “ Nguồn: MO YEYONG, 2011” n 7 1. Đặc điểm thực vật học Cây cao su khi ở tình trạng hoang dại tại vùng nguyên quán Amazone với mật độ cây thưa thớt (1 cây cho một hay vài ha) và với chu kỳ sống trên 100 năm, nên có dạng cây rừng lớn (đại mộc). Trong điều kiện kinh doanh, do phải thích nghi với điều kiện sống, nên kích thước và hình dáng cây cao su nhỏ bé hơn: cây trưởng thành cao tối đa từ 25 - 30m và đạt vanh thân tối đa là 1m khi vào cuối chu kỳ kinh doanh. Một đặc điểm cần lưu ý khác với cao su trong điều kiện hoang dại: ở dạng cây thực sinh (cây phát triển từ hạt) có thân cây hình nón với vanh thân giảm dần từ thấp lên cao; các cây cao su nhân trồng ở dạng cây ghép có thân cây hình trụ có một mối ghép (chân voi) phình to ra ở vị trí ngay phía trên mặt đất và sự khác biệt về kích thước của thân cây ở phần thấp và cao không đáng kể [9], [20].

Rễ Cao su cũng giống như những cây gỗ khác có hai loại rễ là rễ cọc và rễ bàng (rễ hấp thụ). Rễ cọc đảm bảo cho cây cắm sâu vào đất, giúp cây chống đổ ngã và đồng thời hút nước và muối khoáng từ các lớp đất sâu. Rễ cọc cây cao su phát triển sâu khi gặp đất có cấu trúc tốt. Hệ thống rễ bàng cao su phát triển rất rộng, phần lớn rễ bàng cây cao su nằm trong lớp đất mặt: 50% rễ tập trung ở lớp đất sâu 0 - 75cm.

Trên đất cát, thoáng khí trọng lượng rễ cao su cao hơn trên đất sét. Lúc cây trưởng thành, trọng lượng toàn bộ hệ thống rễ cao su chiếm 15% trọng lượng toàn cây. Lá Cao su là dạng lá kép 3 lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách. Khi trưởng thành, lá có màu xanh đậm ở mặt trên và màu nhạt hơn ở mặt dưới.

Lá gắn với cuống thành một góc gần 1800. Cuống lá dài khoảng 15cm, mảnh khảnh. Các lá chét có hình bầu dục, hơi dài hoặc hơi tròn. Phần cuối phiến lá chét nơi gắn vào cuống bằng một cọng lá ngắn có tuyến mật, tuyến mật chỉ chứa mật trong giai đoạn lá non, vừa ổn định.

Số lượng khí khổng ở mặt dưới lá cũng thay đổi từ 22.000 cái/cm2 tùy theo giống. Khối lượng lá trên cây cao su kiến thiết cơ bản tăng dần theo tuổi. Lá cao su mọc tập trung lại thành từng tầng. Để hình thành một tầng lá, trong điều kiện khí hậu Việt Nam vào mùa mưa cần từ 25 - 35 ngày; vào mùa nắng 40 - 50 ngày.

Trên cây cao su non 1 - 2 tuổi, khi chồi ngọn phát triển lên các n 8 tầng lá mới thì các lá già ở tầng dưới tự hoại. Cây cao su từ tuổi 3 trở lên có đặc điểm là hàng năm vào một thời điểm tương đối cố định, toàn bộ tán lá vàng và rụng trụi, sau đó cây tạo lại tán lá non đó là giai đoạn rụng lá sinh lý còn gọi là rụng lá qua Đông. Thời gian rụng lá kéo dài khoảng 1 tháng tùy thuộc vào giống [20]. Hoa Cây cao su từ 5 - 6 tuổi trở lên bắt đầu ra hoa.

Thường cao su ra hoa vào thời điểm cây ra lá non tương đối ổn định (tháng 2 - tháng 3 dương lịch). Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu. Hoa đực và hoa cái mọc riêng nhưng mọc trên cùng một cây. Trên một chùm hoa, hoa đực thường tụ họp thành một nhóm từ 3 - 7 hoa mọc ở đoạn dưới các nhánh thứ cấp.

Hoa đực nhỏ hơn hoa cái. Hoa cái mọc riêng lẻ từng cái ở đầu cành, hoa cái to hơn hoa đực, có kích thước bình quân là 8mm dài. Ở cây cao su, hoa đực và hoa cái không chín cùng một lúc mà thường hoa đực chín trước một ngày sau thì tàn. Quả và hạt Quả cao su hình tròn hơi dẹp có đường kính từ 3 - 5cm, quả nang gồm 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 1 hạt.

Vỏ quả được cấu tạo bằng nhiều lớp tế bào trong đó có 3 lớp tế bào lignin cơ học, lúc quả chín các lớp lignin cơ học này hoạt động khiến vỏ quả vỡ và phóng hạt đi xa. Sau 19 - 20 tuần thì quả chín. Hạt cao su hình hơi dài hoặc hình bầu dục có kích thước thay đổi từ 2,0 - 3,5cm dài. Lớp vỏ ngoài hạt láng, màu nâu đậm hay nhạt hoặc vàng đậm trên có các vân màu đậm hơn.

Khi mới rụng, hạt có ẩm độ khoảng 36 - 38%. Khi tồn trữ ẩm độ hạt sụt dần đến khi còn dưới 15% thì hạt không còn khả năng nẩy mầm. Vỏ và hệ thống ống mủ Cắt ngang qua thân cây, có thể phân biệt được 3 phần rõ rệt: Phần trong cùng là gỗ kế đến là lớp tượng tầng và ngoài cùng là lớp vỏ. Vỏ: Vỏ cao su cấu tạo gồm 3 lớp: tầng mộc thiêm, lớp trung bì và lớp nội bì.

Lớp nội bì chứa nhiều ống mủ và các ống mủ sắp xếp khít nhau thành từng hàng, càng sát tượng tầng số lượng ống mủ càng nhiều. Tượng tầng (cabumin): là tầng phát sinh lipe mộc, là cơ quan sản xuất ra các tế bào non của thân cây. Tượng tầng trong vỏ cây cao su hoạt động rất mạnh và liên n 9 tục. Tượng tầng có vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và sản lượng của cây.

Khi cạo mủ, tránh chạm và lấy đi tượng tầng gọi là cạo phạm. Ống mủ: Ống mủ được tạo nên từ một phần của tế bào lipe chuyển hóa thành. Ống mủ có cấu tạo là một ống rỗng có kích thước 20 - 50µm do nhiều tế bào không có vách ngăn xếp nối tiếp nhau ở vị trí trong nội bì. Các ống mủ xếp đứng, hơi nghiêng từ phải trên cao xuống trái dưới thấp tạo thành một góc 201 đến 701 so với đường thẳng đứng.

Càng gần phía gốc số lượng ống mủ càng tăng. Các ống mủ được xếp thành vòng tròn đồng tâm, bình quân mỗi năm cây tạo được 1,5 - 2,5 vòng ống mủ. Số lượng ống mủ tăng từ ngoài vào trong. Số lượng vòng ống mủ của cây ghép nhiều hơn cây thực sinh.Yêu cầu sinh thái 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu khả năng thích ứng của giống cao su Trung Quốc tại miền núi phía Bắc" cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng sinh trưởng và phát triển của giống cao su Trung Quốc trong điều kiện khí hậu miền núi phía Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự thích ứng của giống cây này mà còn đưa ra những khuyến nghị hữu ích cho nông dân và các nhà quản lý trong việc lựa chọn giống cây trồng phù hợp, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến nông nghiệp và khí hậu, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ đánh giá khả năng dự báo hạn mùa của một số mô hình khí hậu khu vực cho Việt Nam, nơi cung cấp thông tin về các mô hình khí hậu có thể ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật tài nguyên nước đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu tiêu nước sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về tác động của biến đổi khí hậu đến nguồn nước và nhu cầu nông nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển năng suất của một số giống lúa cạn có triển vọng tại Thái Nguyên sẽ cung cấp thêm thông tin về các giống cây trồng khác có khả năng thích ứng tốt trong điều kiện khí hậu tương tự. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nông nghiệp và khí hậu tại Việt Nam.