Đặt vấn đề S dụng bột lá trong chăn nuôi, đ c biệt là chăn nuôi gà đã đƣợc nhiều nhà khoa học ở trong và ngoài nƣớc nghiên cứu. Ngoài cung cấp các chất dinh dƣỡng cho vật nuôi giống nhƣ các lo i thức ăn khác, bột lá có một thành phần đ c biệt mà các thức ăn thông thƣờng không có ho c có rất ít, đó là sắc tố. Tác động chính của sắc tố đến vật nuôi là: cải thiện khả năng miễn dịch, tăng sức đề kháng với virut, cải thiện khả năng sinh sản, giảm tỷ lệ thai chết lƣu, tăng tỷ lệ trứng có phôi, ấp nở, tăng tỷ lệ nuôi sống, cải thiện tốc độ sinh trƣởng, đ c biệt là tăng độ đậm màu của da gà và thịt gà…. Ở một số nƣớc, trồng và sản xuất bột lá đã trở thành một ngành sản xuất liên hợp công – nông nghiệp, nhƣ Philippin, Thái Lan, Ấn Độ; một số nƣớc châu Mỹ la tinh.
Ở nƣớc ta cũng có một số nghiên cứu về trồng và sản xuất bột lá từ các cây nhƣ sắn, keo giậu, cỏ stylo. Ba lo i cây thức ăn này có tốc độ sinh trƣởng, tái sinh và năng suất của ba lo i cậy thức ăn này có chênh lệch ở nhiều kết quả nghiên cứu khác nhau do các nghiên cứu đều khác nhau về địa điểm, thời gian, thời tiết, khí hậu… Nên để so sánh và đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất của ba lo i cây thức ăn này là chƣa có cơ sở. Để nâng cao hiệu quả kinh tế khi s dụng bột lá thực vật, ta cần tiến hành nghiên cứu cùng trồng ba lo i cây thức ăn này trong cùng một điều kiện nhƣ địa điểm, thời gian nghiên cứu để so sánh tốc độ sinh trƣởng, tốc độ tái sinh và năng suất, giá thành 1kg bột lá của 3 lo i cây thức ăn này, từ đó so sánh nh m đánh giá hiệu quả kinh tế từ đó định hƣớng sản xuất bột lá của ba lo i cây thức ăn phù hợp trong điều kiện chăn nuôi nông hộ. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản phẩm bột lá của sắn, keo giậu và cỏ stylo.
Mục tiêu của đề t - So sánh tốc độ sinh trƣởng và tốc độ tái sinh của cây sắn, keo giậu và cỏ Stylo nh m đánh giá khả năng sản suất bột lá của chúng. - So sánh sản lƣợng và giá thành sản xuất bột lá của sắn, keo giậu, cỏ stylo trong điều kiện nông hộ. Ý n ĩa của đề t * Ý nghĩa khoa học - Đề tài so sánh đƣợc khả năng sinh trƣởng, năng suất, thành phần hóa học và giá thành sản xuất bột lá sắn, keo giậu, cỏ stylo trong cùng một điều kiện sản xuất. Kết quả này s s dụng để nghiên cứu ứng dụng sản xuất bột lá trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu của đề tài s bổ sung thêm tài liệu tham khảo cho giảng viên, sinh viên, cán bộ kỹ thuật trong giảng d y, học tập, nghiên cứu khoa học.
* Ý nghĩa thực tiễn Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài, cây thức ăn nào có năng suất cao, giá thành sản xuất bột lá thấp s đƣợc khuyến cáo ƣu tiên trong sản xuất. Đ ểm mớ của đề t Trong các nghiên cứu trƣớc đây thì đã có rất nhiều nghiên cứu của ba lo i cây này trong sản xuất thức ăn. Tuy nhiên, việc trồng 3 lo i cây thức ăn trong cùng một điều kiện địa điểm, thời gian…. để biết đƣợc cây nào có ƣu điểm hơn về sản lƣợng, giá thành sản phẩm thì chƣa nào nghiên cứu nào.
Vì vậy, mục tiêu chính là so sánh hiệu quả kinh tế để khuyến cao ứng dụng sản xuất bột lá trong chăn nuôi có hiệu quả nhất. 3 C ƣơn 1 TỔNG QU N T I LIỆU 1. G ớ t ệu về ây sắn 1. Tên ọ n u n ố p ân ố v đặ đ ểm s n v t ủa ây sắn * n gọi Cây sắn có tên khoa học là Manihot Esculenta Crantz, thuộc giới Plantae, bộ malpighiales, họ cây thầu dầu Euphorbiaceae, phân họ Crtonoideae, chi Malihot, loài M.
Ở một số nƣớc, cây sắn còn có tên gọi khác là Casava, Manioc, Tapioca Plant, Maniva Casava, Manlioke, Yeueca Brava,. Ở Việt Nam cây sắn là cây lƣơng thực đứng thứ 3 sau cây lúa và ngô. Năm 2009, diện tích trồng sắn của cả nƣớc là 496.000 ha đã đƣa nƣớc ta trở thành nƣớc đứng thứ 2 về xuất khẩu sắn sau Thái Lan. * N u n ố p ân ố Cây sắn có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới thấp.
Theo Jalaludin, 1977 [66] cây sắn đƣợc bắt nguồn từ 4 trung tâm lớn, đó là: 1 Guatemala, 2 Mexico, 3 Đông Brazil và Bolivia, 4 Tây Bắc Argentina và dọc theo bờ biển vùng Sarana của miền Tây Bắc thuộc Nam Mỹ. Dựa trên nghiên cứu tài liệu khảo cổ học của Colombia, Venezuala, ngƣời ta chứng minh r ng cây sắn đã đƣợc trồng cách đây khoảng 3000 - 7000 năm. Ngày nay sắn đƣợc trồng hầu hết ở các nƣớc có vĩ độ từ 30 0N đến 300S và tập trung chủ yếu ở 106 nƣớc thuộc châu Mỹ, châu Phi và châu Á Thái Bình Dƣơng Trần Ngọc Ngo n, 2007 [27]). Cây sắn đƣợc du nhập vào Việt Nam khoảng giữa thế kỷ 18.
Hiện chƣa có tài liệu chắc chắn về nơi trồng và năm trồng đầu tiên. Sắn là một cây hoa 4 màu truyền thống và quan trọng của nhân dân ta, nhất là khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Quá trình trồng thích nghi và chọn lọc tự nhiên đã hình thành lên nhiều giống sắn địa phƣơng có đ c điểm hình thái, năng suất và chất lƣợng khác nhau, phù hợp với từng vùng khí hậu, sinh thái khác nhau trong cả nƣớc. Do đó, các giống sắn của nƣớc ta rất đa d ng và phong phú, gồm trên 30 giống sắn đang đƣợc trồng phổ biến ở các vùng khác nhau trong cả nƣớc Howeler, 1992 [65]; Đinh Văn Lữ, 1972 [18]).
* Đặc điểm sinh vật của cây sắn Rễ sắn: đƣợc chia thành 2 lo i: Rễ con làm nhiệm vụ hút các chất dinh dƣỡng và giữ cho cây vững chắc và rễ củ làm nhiệm vụ dự trữ. Thân sắn: Là thân gỗ, hình trụ, chia đốt và có lóng. Chiều cao cây tùy thuộc vào từng giống, điều kiện chiếu sáng, mức độ thâm canh, mật độ và thời vụ trồng. Lá sắn: Là lo i lá đơn mọc xen k , thẳng hàng trên thân cây.
Lá gồm 2 phần: Cuống và phiến lá. Lá có thùy sâu, d ng chân vịt, thùy thƣờng có cấu t o số lẻ từ 3 - 9 thùy cá biệt có 11 thùy. Hoa sắn: Hoa thuộc lo i hoa chùm, đơn tính có cuống dài mọc ra từ chỗ phân cành, ngọn thân. Những cụm hoa gồm một trục dài 2 - 10 cm và nhiều trục bên hợp thành nên gọi là chùy.
Quả sắn: Có kích thƣớc từ 1 - 1,5 cm, 1 quả thƣờng có 3 h t. Mầu quả đa d ng phụ thuộc vào giống. H t sắn hình trứng tiết diện hơi giống hình tam giác. H t sắn n ng từ 95 – 136 mg, màu nâu đen, trơn nhẵn, có đƣờng gân mầu nâu.
* Giới thiệu vài nét về giống sắn KM 94 Tên gốc là KU 50 ho c Kasetsart 50 đƣợc nhập nội từ CIAT Thái Lan trong bộ giống khảo nghiệm Liên Á năm 1990. Giống do Viện Khoa 5 học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, trƣờng Đ i học Nông Lâm Thái Nguyên nhập nội, tuyển chọn và giới thiệu, đến năm 1995 đã đƣợc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống quốc gia trên toàn quốc Hoàng Kim, 2010 [99]. Hiện nay, giống sắn KM 94 là giống chủ lực của nƣớc ta với diện tích trồng hàng năm là trên 350. Đ c điểm về hình d ng của giống KM 94 là thân xanh, hơi cong, ngọn tím, không phân nhánh.
Năng suất củ tƣơi đ t 33,0 tấn ha, tỷ lệ vật chất khô đ t 35,1 - 39,0 , năng suất tinh bột: 7,6 - 9,5 tấn. Thời gian thu ho ch củ từ 9 - 11 tháng. N n suất ất xan Ở Việt Nam, sắn là một cây trồng có tiềm năng cho việc sản xuất bột lá thực vật. Diện tích trồng sắn ở nƣớc ta vào khoảng 600.000 ha, chỉ riêng tận thu ngọn, lá khi thu củ sắn cũng có thể sản xuất đƣợc gần 1 triệu tấn bột lá.
Việc trồng sắn thu lá cũng có nhiều hứa hẹn, có thể thu đƣợc 30 tấn lá tƣơi và sản xuất đƣợc trên dƣới 8 tấn bột lá ha 2 năm. Wanapat (1997) [96] cho biết trồng sắn lấy lá s dụng làm thức ăn cho gia súc nhai l i với mật độ dầy và thu ho ch lần đầu sau khi trồng 3 tháng, còn thu các lần tiếp theo là 2 tháng lần thì sản lƣợng vật chất khô (bao gồm cả thân, cành, lá) có thể đ t 12,6 tấn ha năm. Wanapat (1997) [96] khi th nghiệm trồng 16 dòng sắn với mật độ 27.788 cây/ha để thu cắt lấy lá đã thấy: Sản lƣợng vật chất khô VCK qua 3 lứa cắt từ 4,043 đến 7,768 tấn ha năm, còn khi trồng 25 dòng sắn khác với mật độ 111.111 cây ha thì cho sản lƣợng VCK dao động từ 2,651 đến 8,239 tấn ha năm. Atchara và cs (2002) [46] tổng hợp các kết quả nghiên cứu về trồng sắn thu lá từ năm 1977 đến năm 1979 về dòng sắn Rayong 1, tác giả cho biết ngƣời ta có thể trồng sắn với nhiều mật độ khác nhau.
Các kết quả nghiên 6 cứu đều cho thấy sản lƣợng đ t từ 6,94 đến 8,85 tấn lá tƣơi ha năm và không có sự sai khác thống kê có ý nghĩa giữa sản lƣợng lá tƣơi đƣợc trồng với mật độ khác nhau. Ở Việt Nam, theo dõi năng suất lá sắn trong hai năm 2009 - 2010 ở những khoảng cách trồng khác nhau; 1,0 m x 0,4 m , 0,8 m x 0,4 m và 0,6 m x 0,4 m. Mỗi năm thu ho ch đƣợc 3 lứa, năng suất lá sắn tƣơi đ t trung bình 41,11 - 52,66 t ha lứa. Còn theo dõi năng suất lá sắn khi bón các mức phân đ m khác nhau, mỗi năm thu ho ch 3 lứa, năng suất trung bình lứa 2 năm tính chung cho cả 3 lứa cắt trong 2 năm đ t từ 34,55 đến 54,95 t ha lứa Trần Thị Hoan 2012 [13].