Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Khái quát về lâm sản ngoài gỗ 1. Định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ Phạm Văn Điển, Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn (1990) [11] theo Jennen de Beer đã qua niệm lâm sản ngoài gỗ (LSNG) như là: “Tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ mà chúng ta khai thác được từ rừng tự nhiên để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của loài người.
LSNG bao gồm: thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa cây, keo dán, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dại (các sản phẩm và động vật sống), chất đốt và các nguyên liệu thô, song, mây, tre, nứa, trúc, gỗ nhỏ và gỗ cho sợi”. Cuốn sách cũng nêu lên khái niệm của Tổ chức tư vấn chuyên môn về LSNG của châu Phi, tại Arusha, Tanzania đã đưa ra quan niệm về LSNG. Quan niệm này đặc biệt nhấn mạnh vào các sản phẩm động vật: “Tất cả các sản phẩm thực vật (trừ gỗ) và động vật thu được từ rừng và từ các vùng đất có cây gỗ khác cũng như từ các cây gỗ bên ngoài rừng; loại trừ gỗ xây dựng cơ bản, gỗ năng lượng và các sản phẩm từ vườn cùng các cây trồng vật nuôi, đều được gọi là LSNG”. Vũ Văn Dũng và các tác giả (2002) [7] Trong hội nghị các chuyên gia về LSNG của các nước vùng châu Á Thái Bình Dương họp tại Băng Cốc - Thái Lan đã thông qua định nghĩa về LSNG như sau: “LSNG bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than.
LSNG được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ ở ngoài rừng. Vì vậy, các sản phẩm như cát, đá, nước, du lịch sinh thái không phải là các LSNG’’. Trần Ngọc Hải, Phạm Thanh Hà, Phùng Thị Tuyến (2009) [12] Hội đồng Lâm nghiệp tổ chức Lương Nông Liên Hiệp quốc (FAO) đã định nghĩa về LSNG như sau: “LSNG (Non timber forest product - NTFP, hoặc Non 5 wood forest product - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”. Phạm Văn Điển, Phạm Đức Tuấn, Phạm Xuân Hoàn (2009) [11] cho rằng, thuật ngữ LSNG nên được hiểu như sau: “LSNG (NTFPs) bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh vật và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự rừng, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”.
Phân loại Trên thế giới tồn tại nhiều cách phân loại LSNG, song chưa có hệ thống phân loại LSNG thật sự hợp lý. Theo Nguyễn Huy Sơn và cộng sự (2010) [16] phân loại theo 6 nhóm tổng hợp dựa vào công dụng và nguồn gốc của các LSNG, được giới thiệu như sau: 1/ Sản phẩm cây có sợi: Tre nứa, song mây, các loại cây thân lá có sợi và cỏ. 2/ Thực phẩm bao gồm: a) Những sản phẩm có nguồn gốc thực vật như: Chồi non, rễ, lá, hoa, quả, hạt, các loại gia vị, hạt có dầu, nấm… có thể dùng làm thực phẩm. b) Những sản phẩm có nguồn gốc động vật như: Mật ong, thịt thú rừng, cá, tổ yến, trứng chim, các loài côn trùng ăn được.
3/ Dược liệu, chất thơm và cây có chất độc. 4/ Những sản phẩm chiết xuất như: Các loại nhựa, tannin, chất màu, dầu béo và tinh dầu,… 5/ Động vật và những sản phẩm từ động vật không dùng làm thực phẩm như các loại thú rừng, chim, côn trùng sống, da, sừng, ngà, xương, cánh kiến đỏ. 6/ Những sản phẩm khác như: Cây cảnh, lá để gói,… Cách phân loại này chỉ mang tính tương đối vì công dụng của lâm sản luôn có sự thay đổi theo địa phương. Giá trị của lâm sản ngoài gỗ Giá trị kinh tế LSNG là nguồn lương thực, thực phẩm bổ sung của người dân miền núi, nguồn thức ăn gia súc và nguồn dược liệu quý từ xưa đến nay.
Đặc biệt các dân tộc ít người ở Việt Nam thường sống dựa vào các LSNG thu hái từ rừng để dùng trực tiếp cho nhu cầu của gia đình hoặc trao đổi mua bán trên thị trường. Ở một số địa phương miền núi, nguồn thu từ LSNG chiếm từ 20 -25% trong thu nhập kinh tế hộ gia đình; LSNG là một trong những nguồn thu nhập quan trọng trong kinh tế hộ gia đình, đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày, góp phần tạo việc làm thậm chí là nguồn sinh kế chủ yếu cho một bộ phận cư dân vùng nông thôn miền núi. LSNG góp phần cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp và thủ công nghiệp chế biến lâm sản và xuất khẩu. Ví dụ: như nhựa thông, nhựa trám cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến dầu, nhựa, sơn tổng hợp; tinh dầu cho công nghiệp hương liệu và mỹ phẩm.
Tre nứa là nguyên liệu cho các nhà máy giấy, các hợp tác xã thủ công. Các loài cây thuốc là nguyên liệu của nhiều xí nghiệp dược phẩm… Do đó, LSNG còn đóng góp tích cực cho kinh tế địa phương và kinh tế quốc gia, góp phần thu ngoại tệ, thông qua giá trị xuất khẩu của các sản phẩm chế biến LSNG (FAO, 1999) [12]. Giá trị xã hội Từ lâu đời việc gây trồng, khai thác, chế biến và buôn bán LSNG đã mang lại công ăn việc làm cho hàng chục triệu người dân sống ở miền núi và nông thôn. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi ổn định cuộc sống và trong giai đoạn hiện tại góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân sống ở vùng cao, vùng xa.
Một số LSNG được sử dụng trong các lễ hội truyền thống, tạo ra các sản phẩm có ý nghĩa bảo tồn văn hóa của các dân tộc thiểu số. Tài liệu Dự án sử dụng bền vững LSNG giai đoạn I cho thấy một số hộ gia đình xã Cẩm Mỹ, 7 huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh trung bình thu tới 4,73 triệu đồng/năm bằng 59% thu nhập gia đình, các loại LSNG như: Song mây, động vật, mật ong, hoa quả, tôm cá (trích Cẩm nang lâm nghiệp, 2006). Theo Jennen de Beer (IUCN, 1996) [3] ước tính có ít nhất 30 triệu người ở Đông Nam Á sống phụ thuộc vào rừng và sử dụng LSNG nhằm đáp ứng nhu cầu về sức khỏe và dinh dưỡng. Ngoài ra, các sản phẩm này còn đáp ứng nhu cầu hàng ngày hoặc tạo thu nhập cho một số người dân như: những người thợ thủ công và nghệ nhân trên khắp thế giới sử dụng chúng làm nguyên liệu chế biến thì chưa có số liệu thống kê đánh giá.
Giá trị về môi trường và đa dạng sinh học LSNG là một bộ phận quan trọng của rừng nhiệt đới, quan hệ tới sự duy trì và phát triển của hệ sinh thái rừng. Phần lớn cây lâm sản ngoài gỗ nằm trong tầng dưới tán có tác dụng làm giảm tác động của nước mưa xuống mặt đất, ngăn dòng chảy mặt chống xói mòn cho đất rừng. Gây trồng LSNG trong rừng là tăng độ che phủ và nâng cao giá trị phòng hộ của các khu rừng. Phát triển LSNG là một phương thức làm tăng giá trị kinh tế của rừng góp phần khôi phục, nâng cao giá trị của các khu rừng nghèo; động viên nhân dân địa phương tham gia tích cực hơn vào công cuộc bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, hạn chế được việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang mục đích sử dụng khác.
Việc khai thác LSNG thường ít ảnh hưởng đến cấu trúc tầng cây gỗ, vai trò bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học của rừng được nâng cao. Muốn có LSNG để khai thác phải bảo vệ hệ sinh thái rừng. Vì vậy, khai thác LSNG đúng kỹ thuật cũng là một biện pháp tích cực bảo vệ rừng. Trong những năm gần đây LSNG đã thu hút được sự quan tâm của nhiều người, do nhận thức rõ hơn về LSNG trong sự đóng góp vào kinh tế hộ 8 và an toàn lương thực, vào nền kinh tế quốc gia, trong bảo vệ môi trường và trong bảo tồn đa dạng sinh học (FAO, 1999) [12].
LSNG có rất nhiều loài khác nhau, từ động vật, thực vật đến vi sinh vật, từ những sinh vật có kích thước khổng lồ đến những sinh vật không thể nhìn bằng mắt thường. Trong phạm vi nghiên cứu này, đối tượng chính của đề tài là cây Gừng. Tuy các tài liệu liên quan đến cây Gừng rất hạn chế, nhưng cũng có thể tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan như sau. Trên thế giới 1.
Lịch sử cây gừng Trên thế giới gừng được gọi với các tên : Ginger (tiếng Anh), gingivere (tiếng Anh từ Trung) Sunthi, Ardrake, Vishvabheshaja và Srngaveran hoặc gốc sừng (tiếng Phan), Zingiber officinale (tên Latin) Sheng jiang (tiếng trung), ziggiberis (tiếng Hy Lạp), Gingembre (Tiếng Pháp), Khnheiy (Tiếng Campuchia). Gừng đã được xuất hiện từ rất lâu đời, nó đã được sử dụng cho lợi ích sức khỏe của con người hơn 5000 năm và được sử dụng trong y học châu Á để điều trị đau dạ dày, buồn nôn, và tiêu chảy. Gừng được coi là một hương liệu, dược liệu và có lịch sử lâu dài được trồng ở các nước. Gừng ở Ấn Độ được xuất khẩu sang Rome khoảng 2000 trước.
Gừng được sử dụng rộng rãi bởi những người La Mã, nhưng hầu như biến mất khi Đế chế La Mã sụp đổ. Nhờ chuyến đi của Marco Polo đến vùng Viễn Đông, gừng đã được trở lại châu Âu. Gừng đã trở thành một gia vị được biết đến, nhưng cũng là một trong những gia vị đắt tiền. Gừng (Zingiber officinale) là một gia vị nóng, cùng họ với bạch đậu khấu và nghệ.
Nó đã được sử dụng trong thực phẩm châu Á trong nhiều thế kỷ. Gừng cũng trở thành một gia vị phổ biến khắp vùng biển Caribbean, nơi nó có thể dễ dàng được phát triển. Trong thế kỷ 15, cây gừng đã được đưa lên 9 tàu và từ đó nó đã được biết đến trên vùng biển Caribbean cũng như châu Phi. Ngày nay gừng được trồng khắp vùng nhiệt đới.
Trong những năm gần đây, gừng có giá trị như là một gia vị hơn so với tính chất dược liệu của nó. Mặc dù vậy, ở các nước phương Tây, nó đã được sử dụng để thêm hương vị bơ, đồ uống gừng đã trở lại như thế từ thế kỷ thứ 11. Sử dụng rộng rãi trong thực phẩm đã không xảy ra cho đến khi khoảng 200 năm sau khi gừng đã được sử dụng trong các loại thịt nấu ăn và bột nhão gừng. Nữ hoàng Elizabeth I (1533 - 1603) của Anh đã phát minh ra “gingerbread man” mà đã được mọi người biết đến tại Giáng sinh.
Trong giai đoạn từ 1975 đến 1980, Ấn Độ là nhà sản xuất gừng quan trọng, chiếm khoảng 30-35% thị phần thế giới.