Đặt vấn đề Rau là loại cây trồng có nhiều chất dinh dƣỡng và là thực phẩm cần thiết không thể thiếu trong đời sống nhân dân. Đặc biệt khi lƣơng thực và các loại thức ăn giàu đạm đã đƣợc đảm bảo thì nhu cầu về rau xanh lại càng gia tăng, nhƣ một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dƣỡng và kéo dài tuổi thọ. Ngành sản xuất rau cung cấp cho chúng ta sản phẩm của các loại cây rau hằng năm, hai năm là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.Trong số các loại rau đƣợc ƣu tiên phát triển thì dƣa lê cùng với các cây họ bầu bí khác với ƣu thế là cây trồng có thời gian sinh trƣởng ngắn, trồng nhiều vụ trong năm, năng suất và chất lƣợng ổn định, đã đƣợc ngƣời nông dân của nhiều tỉnh thành đặc biệt quan tâm. Dƣa lê (Cucumis melo L.) đƣợc sử dụng chủ yếu để ăn tƣơi, ép nƣớc quả.
Trong 100 gr dƣa lê tƣơi có chứa: 0.14 gr chất béo, 0.54 gr protein, ngoài ra còn có vitamin C, B6, K, canxi, sắt, photpho.[23] Dƣa lê có tác dụng ngăn ngừa một số bệnh mãn tính, ngăn chặn lão hóa xƣơng, bệnh về tim mạch, sỏi thận đặc biệt dƣa lê tốt cho phụ nữ mang thai và ngƣời muốn giảm cân. Trong những năm gần đây ở nƣớc ta dƣa lê đã đƣợc trồng ở nhiều nơi đặc biệt là ở các tỉnh phái bắc nhƣ Hải dƣơng, Vĩnh phúc, Bắc Ninh …. và đã trở thành cây trồng chính của một số vùng. Những giống dƣa lê đƣợc trồng chủ yếu là những giống địa phƣơng và cho năng suất khá thấp, chất lƣợng quả không tốt thịt quả mỏng quả nhỏ và mẫu mã không đẹp.
Đó là một trong những nguyên nhân làm cho diện tích trồng dƣa lê hiện nay tăng chậm dù nhu cầu sử dụng dƣa lê hiện nay rất lớn. Vì thế cần phải đƣa các giống mới những giống có khả năng cho năng suất và chất lƣợng tốt vào sản xuất đại trà. Tuy c 2 nhiên trƣớc khi đƣa vào sản xuất, các giống này cần đƣợc nghiên cứu, thử nghiệm để chọn đƣợc giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. Xuất phát từ nhu cầu thực tế và công tác nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trƣởng của một số giống dƣa lê nhập nội Hàn Quốc trong vụ Xuân 2017 tại Thái Nguyên”.
Mục đích của đề tài Tuyển chọn ra các giống dƣa lê có khả năng sinh trƣởng và năng suất chất lƣợng tốt tại tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá các chỉ tiêu nông sinh học của các giống dƣa lê tham gia thí nghiệm. - Đánh giá tình hình nhiễm sâu bệnh hại chính trên đồng ruộng của các mẫu giống dƣa lê tham gia thí nghiệm. - Nghiên cứu khả năng cho năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống dƣa lê Hàn Quốc.
- Đánh giá sơ bộ chất lƣợng của các giống dƣa lê tham gia thí nghiệm. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài * Ý nghĩa khoa học - Đề tài đã xác định, đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng của các giống dƣa lê Hàn Quốc nhập nội. * Ý nghĩa thực tiễn - Đề tài đã xác định đƣợc các giống dƣa lê có khả năng sinh trƣởng tốt phù hợp với khí hậu, đất đai của tỉnh Thái Nguyên. - Đề tài góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ nhằm khai thác hết tiềm năng đất đai, định hƣớng cho kế hoạch gieo trồng đại trà các giống dƣa lê Hàn Quốc tại Thái Nguyên và các vùng khác có khí hậu tƣơng đồng.
c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học cuả đề tài 2. Nguồn gốc và phân loại dưa lê * Nguồn gốc Theo một số tài liệu nghiên cứu (Tạ Thị Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nghiêm Thị Bích Hà), Cây dƣa lê có nguồn gốc châu Phi, ngƣời Ai cập đã sử dụng và mô tả dƣa ít nhất là 4000 năm [4]. Nhà truyền giáo David livingstone (1857) đã phát hiện thấy cả hai loài dƣa lê đắng và ngọt hoang dại sinh trƣởng ỏ châu Phi ông để ý ngƣời địa phƣơng dùng chúng nhƣ nguồn nƣớc vào mùa khô vì vậy châu Phi đƣợc xác định là nguồn gốc của cây dƣa lê.
Ở những vùng cận nhiệt đới của châu Phi vẫn còn những vùng dƣa lớn tồn tại cho đến ngày nay. Theo nghiên cứu của (Mallick và Masui 1985, Kerje và Grum, 2000) dƣa có thể đã đƣợc trồng ở Trung Quốc từ gần năm 2000 năm trƣớc Công nguyên (Keng, 1974) và sự đa dạng về hoa quả cao đã giúp dƣa lan rộng khắp thế giới các hình thức canh tác ở vùng nhiệt đới và tiểu vùng. Nó chủ yếu đƣợc sử dụng nhƣ trái cây nhƣng quả non đƣợc sử dụng làm thực phẩm, hạt có thể ăn đƣợc và rễ có thể đƣợc sử dụng trong y học (Robinson and Decker Walters, 1997; Nayar và Sing, 1998). Dƣa lê đƣợc đƣa đến miền đông nƣớc Nga từ thế kỷ thứ 10 và đến Anh năm 1600.
Các thƣơng gia châu Phi đã mang hạt dƣa lê đến bán ở nhiều vùng châu Mỹ những năm 1640 dƣa đƣợc trồng rộng rãi ở Mỹ và những giống tốt đã đƣợc sản suất tại Mỹ nhƣ alabama sweet (1850), peerless (1960), charleston (1954) và 2 giống phinney early và Gerogia Rattlenake (1870), sau đó là giống Charleston Gray (1954) và Crim sweet, Jubibe (1964). * Phân loại c 4 Trong những năm qua, kỹ thuật ADN đã đƣợc sử dụng để giải quyết phân loại mối quan hệ, cung cấp biện pháp khách quan và số lƣợng đa dạng di truyền giữa các đơn vị phân loại, ví dụ nhƣ giữa các chi và loài (Schierwater 1995; Campos & cộng sự 1994; Milla & cộng sự 1996). Độ nhạy của phƣơng pháp mới cũng cho phép xác định kiểu gen giống hoặc giống cây trồng trong phạm vi một loài (Virk và cộng sự 1995; Fang & Roose 1997; Lee & cộng sự 1996). Phân loại dƣa lê theo Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dƣa lê vào bảy nhóm nhƣ sau[9]: 1.
Agrestis: Cùi mỏng, cây đơn tính trồng nhƣ cỏ dại ở châu Phi và châu Á. Kích thƣớc quả rất nhỏ (<5 cm), là loại trái cây không ăn đƣợc với thịt quả rất mỏng và hạt nhỏ. melo var Cantalupensis: Quả có kích thƣớc trung bình, mịn, có vẩy hoặc lƣới có màu biến đổi có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín.
Gồm có dạng reliculatus. Hoa đơn tính đực và lƣỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhuy. Là loại dƣa mùa đông có kích thƣớc lớn, không thơm, bảo quản đƣợc lâu với vỏ dày, mịn và chua. Bao gồm dƣa hấu tráng miệng ngọt từ Châu Á và Tây Ban Nha, chẳng hạn nhƣ các giống cây Honeydew và Casaba.
Thông thƣờng và có lông trên bầu nhụy. Có quả rất dài, không ngọt, ăn quả còn non nhƣ dƣa chuột. Đƣợc tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thƣờng có hoa đơn tính cùng gốc. Các giống Viễn Đông, quả có vỏ trơn, trắng, nhạt ăn nhƣ dƣa chuột; Bao gồm cả trái cây ngọt, chịu tối, lá gai, hoa đơn tính đực và lƣỡng tính.
Lá có lông, nhụy có lông rất mịn. Chito và dudaim đƣợc Naudin mô tả, nhƣng nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson.Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy. Do mang những quả nhỏ, thơm, đỏ hoặc nâu nên đƣợc trồng nhƣ đƣợc trồng nhƣ một loại cây cảnh trí trong các khu vƣờn các nƣớc châu Á. Momordica : là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng.
Gía trị của dưa lê. * Đặc tính chữa bệnh Theo Đông y thì dƣa lê có vị ngọt, tính hàn, tác dụng giải khát, giải nhiệt và thông khí, trừ phiền, lợi tiểu, trong những ngày hè nóng bức ăn dƣa lê có thể phòng ngừa đƣợc cảm nắng, chống say nắng, trị táo bón và mất ngủ rất tốt. Tuy nhiên, nếu bị bệnh đƣờng ruột và đái đƣờng thì cần lƣu ý không sử dụng. Hạt dƣa có vị ngọt, tính mát, tác dụng điều hòa trong bụng, thanh phế, nhuận tràng, trị đƣợc các chứng kết tụ sinh máu mủ ở tràng vị, chữa ho khan hay đại tiện táo bón.
Hoa dƣa lê chữa nấc, đau tim. còn lá tác dụng trị mất kinh ở phụ nữ. Cuống dƣa lê có vị đắng, tính lạnh, có độc, tác dụng gây nôn và thông đại tiểu tiện, giải độc, chữa sốt phát cuồng, sốt rét cơn… Cũng theo y học cổ truyền, cuống dƣa vị đắng, tính hàn, có độc, thƣờng dùng để gây nôn, thông đại tiện. Thịt quả vị ngọt, tính lạnh, có tác dụng trừ phiền nhiệt, lợi tiểu tiện, phòng trúng nắng trong mùa hè.
Hạt dƣa lê có vị đắng, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, trị các chứng kết tụ sinh máu mủ ở tràng vị. Ngoài loại dƣa lê mà ta thƣờng ăn, gần đây, trên thị trƣờng xuất hiện nhiều loại nhập ngoại, loại vỏ dày và vỏ mỏng. Tất cả các loại dƣa này đều có thể dùng làm thuốc. c 6 Ngoài ra dƣa lê giàu vitamin C, đó là chất có khả năng chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa các bệnh về tim mạch và thậm chí cả ung thƣ.
Bên cạnh đó, dƣa lê có chứa beta - caroten. Sự kết hợp giữa beta - caroten và vitamin C có thể giúp ngừa đƣợc nhiều căn bệnh mãn tính. Nƣớc ép dƣa lê cũng giúp cải thiện tình trạng khó thở, giảm đƣợc sự mệt mỏi, chữa chứng mất ngủ. Do chứa hàm lƣợng axit folic cao, dƣa lê rất có lợi cho phụ nữ mang thai, giúp cho bào thai khỏe mạnh.
Nó cũng giúp ngăn ngừa chứng loãng xƣơng, chống lại sự suy nhƣợc của cơ thể.[19] * Ngăn chặn chứng chuột rút ở chân: Thƣờng xuyên ăn dƣa lê sẽ giúp bạn giảm đƣợc chứng chuột rút ở chân, đặc biệt là đối với phụ nữ mang thai. Điều này có đƣợc là nhờ trong quả dƣa lê có chứa rất nhiều chất magie. [18] * Giúp hạ huyết áp: Dƣa lê cũng giàu hàm lƣợng kali, một loại khoáng chất đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát huyết áp. Kali cũng cần thiết cho mọi tế bào trong cơ thể, nó giúp tế bào khỏe mạnh và có sức đề kháng với nhiều bệnh tật.[18] * Tác dụng chống kết tụ tiểu cầu người: Một phân đoạn có hoạt tính đƣợc phân lập từ cao nƣớc của dƣa lê có tác dụng ức chế sự kết tiểu cầu ngƣời do nhiều chất khác nhau nhƣ epinephrin, ADP, collagen, thrombin, natri arachidonat, endoperoxyd của prostaglandin.