Đặt vấn đề Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, trồng được nhiều vụ trong năm và cho năng suất cao [8]. Quả dưa lê có chứa nhiều carbohydrate, đường, chất xơ, chất béo, protein, ngoài ra còn có vitamin C, vitamin B6, canxi, sắt, photpho,… đặc biệt không chứa cholesterol nên mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe [10]. Ngoài ra, dưa lê còn là mặt hàng có giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, việc sản xuất dưa lê còn gặp nhiều khó khăn, một trong những nguyên nhân chủ yếu là do sâu bệnh hại [35].
Một số loại sâu bệnh hại chính trên cây dưa lê như bọ dưa, ruồi đục quả, bệnh phấn trắng, giả sương mai, thối quả, chạy dây, thối thân và héo xanh vi khuẩn. Những loại sâu bệnh hại này, làm giảm năng suất và chất lượng dưa lê [30]. Hiện nay để tăng diện tích, tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng thì việc gia tăng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trên dưa lê ngày càng quan trọng. Thuốc BVTV đã góp phần hạn chế sự phát triển, phát sinh của sâu bệnh, ngăn chặn và dập tắt các đợt dịch bệnh trên phạm vi lớn, bảo đảm được năng suất dưa lê, giảm thiểu dịch hại cho nông dân.
Đặc biệt, những năm gần đây việc sử dụng thuốc BVTV trong trồng dưa lê có xu hướng gia tăng cả về chất lượng lẫn chủng loại. Chưa kể khai thác các tàn dư thực vật và chất thải rắn từ bao bì, chai lọ thuốc BVTV đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường đất, nước và con người. Xuất phát từ thực tế đó, để khai thác, sử dụng có hiệu quả thuốc BVTV ở Việt Nam trong việc phòng trừ sâu, bệnh hại cây trồng nói chung và sâu, bệnh hại dưa lê nói riêng, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu h 2 ảnh hưởng của một số thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ bệnh hại dưa lê trong vụ Thu Đông 2018 tại Đại học Nông lâm Thái Nguyên”. Nghiên cứu này, góp phần xây dựng được biện pháp phòng trừ sâu, bệnh hại theo hướng an toàn và hiệu quả, đồng thời là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ sâu bệnh hại cho cây rau nói chung và cây dưa lê nói riêng.
Mục tiêu và yêu cầu 1. Mục tiêu Xác định được loại thuốc BVTV thích hợp để phòng trừ bệnh hại an toàn hiệu quả trên giống dưa lê Hàn Quốc nhập nội trong vụ Thu Đông 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá được ảnh hưởng của các thuốc BVTV tới khả năng sinh trưởng của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Thu Đông năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được hiệu lực phòng trừ của các thuốc BVTV đến tình hình sâu, bệnh hại của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Thu Đông năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Đánh giá được ảnh hưởng của các thuốc BVTV đến năng suất của cây dưa lê Hàn Quốc vụ Thu Đông năm 2018 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Cung cấp một số dẫn liệu khoa học mới về hiệu lực của một số thuốc BVTV trong phòng trừ các loài sâu, bệnh hại phổ biến trên cây dưa lê. Từ đó, làm cơ sở cho việc nghiên cứu xác định các hoạt chất, cơ chế tác động của các hoạt chất đó lên dịch hại cây trồng.
h 3 - Kết quả nghiên cứu đã góp phần hoàn thiện được quy trình sản xuất cây dưa lê vừa đạt được năng suất, vừa an toàn với người sử dụng. - Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu tiếp theo về phòng trừ bệnh hại cho cây rau nói chung và cây dưa lê nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm thông tin có ích trong sản xuất dưa lê, góp phần quản lý đồng ruộng có hiệu quả, vừa nâng cao được năng suất cây trồng, giảm chi phí, tăng thêm lợi nhuận, vừa đảm bảo an toàn, không làm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và môi trường. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nguồn gốc, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây dưa lê 2. Nguồn gốc Dưa lê (Cucumis melo) thuộc bộ bầu bí (Cucurbitales), họ bầu bí (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Cây dưa lê có nguồn gốc Ấn Độ [3]. Cây dưa lê phân bố ở hầu hết các nơi trên thế giới, tập chung chủ yếu ở Châu Phi, Châu Mỹ nhiệt đới và Đông Nam Á [21].
Phân loại Nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê dựa theo các quan điểm khác nhau. Các giống dưa lê lần đầu tiên được mô tả bởi Linné vào năm 1753 [22]. Sau Linné, có một số tác giả đã mô tả dưa lê thông qua các đặc điểm hình thái như hình dạng lá, hoa, quả và môi trường sống [22]. Năm 1929, Pangado cũng tiến hành nghiên cứu chủ đề này.
Pangado đã trình bày phân loại đa cấp dựa trên ý tưởng về sự tương đồng. Theo đó, dưa lê được chia thành 2 giống ubspecioids: cultus và agrestis [21]. Sau đó, Jeffrey (1980) đã phân loại dưa lê thành hai phân loài: subsp. melo và subsp.
Ngoài ra, Munger và Robinson (1991) đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất một bản phân loại của Naudin đơn giản hóa hơn. Họ chia dưa lê thành 7 nhóm, trong đó có cả tên trinomial, đó là: C. chito và dudaim [22]. Theo Pitrat và cộng sự (2000), chia dưa thành 16 nhóm giống, đó là: conomon, makuwa, chinensis, acidulus và momordica đều nằm trong phân nhóm subsp.
agrestis; cantalupensis, reticulatus, adana, chandalak, ameri, h 5 inodorus, flexuosus, chate, tibish, dudaim và chito nằm trong phân nhóm subsp. Đặc điểm thực vật học 2. Rễ Rễ dưa lê mọc nông, gồm có rễ cái và những rễ phụ mọc ngang. Bộ rễ phát triển mạnh gồm rễ chính dài 0,6 - 1,0m và có từ 11 - 112 rễ phụ.
Rễ dưa lê thường không có khả năng phục hồi sau khi bị đứt, do đó khi trồng hay chăm sóc nên tránh làm đứt rễ [3]. Thân Dưa lê thuộc dạng thân leo [19]. Thân dưa lê phía trong rỗng và xốp, bên ngoài có nhiều lông tơ, đốt trên thân mang nhánh và tua cuốn đơn. Dưa lê thời kì cây con (có 4 - 5 lá thật) thân vẫn ở trạng thái đứng, đốt ngắn.
Thời kì ra hoa thân phát triển mạnh nhất, tốc độ sinh trưởng nhanh, lóng dài và đến khi cây già thì đạt độ dài tối đa [4]. Chiều dài thân chính của dưa lê có thể đạt 3 - 4m, thân cứng giòn, chịu va chạm kém. Trên thân chính của dưa lê chỉ có hoa đực, mỗi nhánh cấp 1 cho 1 - 2 hoa cái nằm gần nách lá của thân chính [17]. Lá Dưa lê có 2 lá mầm hình trứng mọc đối xứng qua đỉnh sinh trưởng.
Lá thật thuộc dạng lá đơn, mọc cách, cuống dài, phiến và cuống lá có nhiều lông tơ [1]. Chiều dài cuống lá dao động từ 1,5 đến 20cm [21]. Lá thật hình tròn với 3 - 7 thùy nông, hai mặt phiến lá đều có lông ngắn mềm, trên gân ở mặt dưới lá và cuống lá có lông ngắn cứng [6]. Theo Tạ Thị Thu Cúc (2005), dưa h 6 lê có trung bình 45,8 lá trên thân chính, tuổi thọ lá mầm là 20 ngày, lá thật là 26 ngày [5].
Hoa Hoa dưa lê có màu vàng, hoa đực và hoa cái trên cùng một cây [6]. Hoa đực dài 2,4 - 15mm, hoa cái dài 1,6 - 12mm [21]. Hoa cái ở các nhánh cấp hai thường cho quả to hơn. sau khi cho hoa cái đầu tiên, cứ cách 5 - 6 đốt lá cho hoa đực thì lại một đốt cho hoa cái [26].
Công việc thụ phấn thường dựa vào côn trùng do hạt phấn to và nặng [1]. Thời gian hoa nở tùy thuộc vào ánh sáng mặt trời, nhiệt độ và độ ẩm, thông thường dao động từ 5 - 9 giờ sáng [3]. Quả Theo Đường Hồng Dật (2000), hình dáng và màu sắc quả dưa lê thay đổi tùy thuộc vào đặc tính giống [6]. Quả có dạng hình cầu, hình bầu dục, vỏ trơn nhẵn hoặc nhám.
Thịt quả có màu trắng, xanh, cam hoặc vàng. Quả có trọng lượng từ 200 gam đến vài kilogam, một số giống khi chín có mùi thơm [17]. Hạt Vỏ hạt dưa lê khá mỏng, có màu nâu đen, đỏ nâu, trắng ngà [1]. Hạt dưa lê nhỏ như hạt dưa chuột , mỗi gam có khoảng 35 hạt, trọng lượng 1000 hạt chừng 25 - 35 gam, một quả dưa lê cho khoảng 200 - 300 hạt [26].
Hạt dưa lê có hình bầu dục hoặc hình elip, kích thước 4 - 8 x 2,5 – 4mm và dày 1- 2mm [21]. Trong hạt có chứa 46% dầu và 36% protein. Theo Tạ Thị Thu Cúc (2005), một quả dưa lê có từ 500 - 600 hạt, thời gian tồn trữ hạt có thể lên đến 5 năm ở nhiệt độ từ 4,4 - 10oC và ẩm độ không khí 50 - 60% [5]. Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây dưa lê 2.
Nhiệt độ Dưa lê thích hợp trồng ở những vùng có khí hậu khô và nóng. Dưa lê phát triển tốt ở nhiệt độ tối ưu 27 - 30oC, nảy mầm ở nhiệt độ trong khoảng h 7 23 - 24oC và không nảy mầm ở nhiệt độ dưới 18oC. Dưa lê rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp [21]. Ánh sáng Trời âm u ít ánh sáng lại có mưa phùn thường làm cho dưa lê chỉ có 1 - 2 lá thật và có thể gây chết hàng loạt.
Nếu là cây đã lớn có hoa quả thì bị dòi đục gốc, bệnh héo rũ và phấn trắng phá hại, nếu không phòng trừ kịp thời có khi mất trắng. Nhưng nếu trời âm u có ít ánh sáng mà nhiệt độ cao thì lại gây hiện tượng rụng nụ, rụng hoa và quả non, thậm chí gây thối quả hoặc quả có màu sắc xấu và vị nhạt ít thơm [26]. Ánh sáng có thể ảnh hưởng đến màu sắc và hương vị của quả dưa lê [21]. Độ ẩm Nếu độ ẩm không khí quá cao gây ảnh hưởng đến hàm lượng đường, kết cấu và hương vị của quả [21].
Nước Cây dưa lê là cây không cần nhiều nước, có thể 7 - 10 ngày tưới một lần. Nếu tưới quá nhiều nước gây ảnh hưởng đến hàm lượng đường trong quả [21]. Đất và dinh dưỡng Dưa lê ưa nhất là đất thịt nhẹ và cát pha. Đất cát pha và thịt nhẹ vừa thoát nước, giữ được màu mà còn giữ được nhiệt độ của đất điều hoà, thúc đẩy quá trình phát dục của dưa lê, làm cho dưa lê mau có quả, cho quả có màu sắc hương vị cao.