Đặt vấn đề Dưa lê (Cucumis melo L.) thuộc họ bầu bí (Cucurbitaceae), là rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trong năm và cho năng suất cao. Dưa lê là loại quả dễ ăn, có thể dùng để ăn tươi, làm salad, làm nước ép hoa quả, giá thành hợp lý, chất lượng quả, màu sắc, hình thái đa dạng. Trong quả dưa có chứa nhiều hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng. Khi chín trong quả có thành phần dinh dưỡng cao gồm nước chiếm 95%, đạm chiếm 0,6%, chất béo 0,11%, tinh bột 3,72%, chất xơ 0,33%, vitamin A (25000- 30000 đơn vị), vitamin B 0,03 mg, vitamin C 1,5-2 mg và nhiều khoáng chất ( P 30 mg, Ca 20 mg, Fe 0,4 mg).
Tuy nhiên, hiện nay những vùng chuyên canh dưa lê đang gặp nhiều khó khăn mà thiệt hại nặng nề nhất là bệnh héo rũ do nấm Fusarium oxysporum gây hại trong đất. Nấm bệnh lưu tồn lâu trong đất dưới dạng bào tử nên có thể gây hại qua nhiều vụ (Phạm Văn Kim, 2000) [8], bệnh thường gây chết cây lúc vừa cho trái do đó gây tổn thất lớn cho sản xuất của nông dân (Tô Ngọc Dung, 2007) và rất khó phòng trị bằng thuốc hóa học (Burgess và ctv, 2009). Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề nghiên cứu và ứng dụng gốc ghép trong sản xuất rau phát triển khá mạnh mẽ đồng thời đã đạt được nhiều thành công khi đưa dưa hấu và cà chua ghép vào thực tế sản xuất. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về gốc ghép trên dưa lê ở nước ta thì còn nhiều hạn chế, đặc biệt trong điều kiện thời tiết biến đổi như hiện nay, bệnh đang gây thiệt hại nặng nề trên các vùng chuyên canh dưa lê.
Việc sản xuất cây ghép đầu tiên bắt đầu ở Nhật Bản và Hàn Quốc vào cuối những năm 1920 trên cây dưa hấu (Citrullus lanatus Matsum. Et Nakai) h 2 được ghép vào gốc ghép bầu (Lee, 1994) [17]. Ghép là một biện pháp làm tăng khả năng kháng bệnh héo rũ, nếu chọn được tổ hợp ghép phù hợp thì cây ghép sinh trưởng mạnh, cho năng suất và phẩm chất cao. Theo Lee (2003) trồng rau ghép là một kĩ thuật tiên tiến ở nhiều nước Châu Á và Châu Âu.
Hiện nay tỷ lệ trồng dưa lê ghép tại Hàn Quốc là trên 90 %, tại Nhật Bản là trên 80% [18]. Trước thực trạng thực tiễn như trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống dưa lê Hàn Quốc trong vụ Xuân 2019 tại Thái Nguyên’’ 1. Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Nghiên cứu ảnh hưởng gốc ghép đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng dưa lê Hàn Quốc.
Yêu cầu - Đánh giá được ảnh hưởng của các gốc ghép tới khả năng sinh trưởng của dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2019 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá tình hình sâu, bệnh hại của dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2019 tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá được ảnh hưởng của gốc ghép đến năng suất, chất lượng của dưa lê Hàn Quốc vụ Xuân năm 2019 tại trường Đại học Nông Lâm Thái. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1.
Ý nghĩa khoa học Đề tài xác định và đánh giá được sự ảnh hưởng của gốc ghép đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của dưa lê Hàn Quốc trong vụ Xuân tại Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn Đề tài bước đầu đánh giá được sự ảnh hưởng của gốc ghép đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của dưa lê Hàn Quốc. Kết quả nghiên cứu cung cấp thông tin, phục vụ cho nghiên cứu tiếp theo, để lựa chọn được gốc ghép phù hợp với dưa lê Hàn Quốc. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nguồn gốc, phân loại, đặc điểm thực vật học của cây dưa lê và yêu cầu điều kiện ngoại cảnh cây dưa lê 2. Nguồn gốc của dưa lê Dưa lê (Cucumis melo ) có nguồn gốc từ Châu Phi, nơi các giống hoang dã tìm thấy, tuy nhiên sự phân bố chính xác của các giống hoang dã không rõ ràng. Dưa lê được thuần dưỡng ở Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á hơn 4000 năm trước. Theo nghiên cứu đa hình phân tử cho thấy các giống dưa lê Hàn Quốc có nguồn gốc từ hạt giống dưa hấu nhỏ ở Đông Ấn Độ (Kato et al.
2002), được du nhập vào Trung Quốc từ phía Tây của con đường tơ lụa nổi tiếng (Kitamura 1950). Người ta cũng cho rằng các giống này có nguồn gốc từ dưa hoang dã (var. Agrestis) ở Trung Quốc (Walters 1989). Sau đó bắt đầu được trồng phổ biến ở Hàn Quốc và Nhật Bản, Triều Tiên [16].
Theo Kerje và Grum năm 2000 và nhiều nhà nghiên cứu khác cho rằng dưa lê là một cây trồng nhiệt đới. Những đoàn khách lữ hành đã mang dưa đến các vùng ấm áp của Châu Phi. Các thương gia châu Phi đã mang hạt dưa đến bán ở nhiều vùng của Châu Mỹ. Ở nước ta lịch sử trồng dưa đã có từ rất lâu và được trồng rộng rãi đến ngày nay [16].
Phân loại dưa lê Dưa lê (Cucumis melo) thuộc: Bộ bầu bí (Cucurbitales), họ bầu bí (Cucurbitaceae), chi (Cucumis), loài (Cucumis melo L. Đã có rất nhiều tác giả tiến hành phân loại dưa lê trên nhiều quan điểm khác nhau. Theo Munger và Robinson (1991) sử dụng mô tả của Naudin (1959), Grebenscikove (1953), Pangalo (1929), Hammer và cộng sự (1986) nghiên cứu và sắp xếp các mẫu nguồn gen dưa lê vào 7 nhóm như sau [21]: h 5 1. agrestis: thân mảnh, lá cây đơn tính cùng gốc, đều có hoa đực và hoa cái trên cùng một thân, phát triển như cỏ dại ở Châu Phi và các nước Châu Á.
Quả rất nhỏ(<5cm) và không ăn được, cùi rất mỏng và hạt rất nhỏ. cantalupensis: quả có kích thước trung bình lớn, bóng, mịn, màu sắc vỏ biến động có vảy hoặc vân. Quả có mùi thơm, vị ngọt khi chín. Gồm có dạng Reliculatus.
Hoa đơn tính đực và lưỡng tính ở hầu hết các kiểu gen, có lông ở bầu nhụy. inodorus: dưa lê mùa đông quả lớn, không thơm, bảo quản dài, cùi dày, mịn hay vân đốm. Bao gồm các loại dưa ngọt Châu Á và Tây Ban Nha như giống dưa ruột xanh và dưa vàng, thường đơn tính và lưỡng tính, có lông trên bầu nhụy. flexuosus: quả dài, không ngọt, ăn non như dưa chuột.
Được tìm thấy ở Trung Đông và Châu Á, thường có hoa đơn tính cùng gốc. makuwa: các giống vùng Viễn Đông, vỏ trơn, thịt mỏng, trắng, quả có vân nhỏ cùng gồm loại ngọt và loại ăn xanh giòn. Hoa đơn tính đực và lưỡng tính. Lá có lông, nhụy có lông rất mịn.
chito và dudaim: được mô tả bởi Naudin nhưng được nhóm lại với nhau bởi Munger và Robinson. Có nguồn gốc hoang dại ở Châu Mỹ, quả nhỏ, hoa và quả thơm, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, có lông mịn ở bầu nhụy. momordica: là nhóm do Munger và Robinson bổ sung thêm năm 1991 gồm các mẫu có nguồn gen Ấn Độ, dây leo, hoa đơn tính cùng gốc, quả to, không ngọt, vỏ mỏng.K (2012) [22] chia dưa lê thành 6 nhóm như sau: 1. Nhóm Cucumis melo cantalupensis: có nguồn gốc ở Châu Âu (Italya, Pháp), dưa có vỏ quả và có nốt sần, được người Mỹ gọi là dưa đỏ.
Đặc điểm h 6 của dưa giống như là muskmelons, dưa đỏ có hình cầu hoặc hình trứng, thịt quả có màu da cam. Nhóm Cucumis melo makuwa: dưa lê Hàn Quốc. Là loài cây thân leo, có phân cành. Lá cây mọc về hai phía, so le, rìa lá có răng cưa và màu xanh thẫm, cả hai bề mặt lá đều phủ lông.
Hoa lưỡng tính. Nhóm Cucumis melo conomon: Được xem là mẫu dưa cổ nhất ở Trung Quốc. Gồm dưa gang, dưa gang trái tròn, dưa gang trái dài. Quả có nhiều hình dạng như elip, hình trứng, hình quả lê, hình cầu dài từ 11 - 30cm, trơn nhẵn, màu sắc có thể thay đổi trắng, vàng, ánh vàng, hơi vàng trắng với các sọc xanh, xanh thẫm.
Thịt quả có màu trắng, cam, vàng và thường là màu trắng, có vị ngọt nhẹ. Hạt dẹt, màu trắng hình elip, nhỏ (<8mm). Nhóm Cucumis melo reticulatus: dưa tây vàng, dưa cantaloupe. Có nguồn gốc ở Ấn Độ và Châu Phi.
Là loài cây thân bò, phân nhiều nhánh, không có tua, lá mọc so le, cuống lá dài, rìa lá có hình răng cưa, cả 2 bề mặt lá đều phủ lông. Phần lớn là hoa lưỡng tính. Quả có nhiều hình dạng như hình cầu, hình trứng, hình elip, bề mặt xù xì có nốt sần. Thịt quả ngọt, màu cam hay hồng nhạt, thơm.
Hạt dẹt, hình trứng, có màu trắng. Nhóm Cucumis melo indorus: dưa hoàng yến, dưa mật, dưa tây xanh,. Được cho là có nguồn gốc ở Châu Phi. Được thuần hóa ở Đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Tây Á trong hơn 4000 năm trước.
Là loài thân bò, thân nhỏ, góc cạnh và xù xì. Lá hình phân thùy, được phủ bởi một lớp lông. Hoa lưỡng tính. Nhóm Cucumis melo reticulatus “hami melon”: dưa vàng hami.
Có nguồn gốc từ Tân Cương, Trung Quốc, đây là giống dưa quan trọng được trồng ở các tỉnh Tây Bắc, Trung Quốc. Là loài thân bò, thân có lông cứng, có những sọc vằn và có các tua. Lá phân thùy, hoa lưỡng tính. Quả to có hình ovan, hình trứng.
Vỏ dày màu xanh hoặc vàng với các sọc dọc xanh thẫm. Vỏ h 7 trơn nhẵn, thịt quả có màu cam hay hơi hồng. Vị ngọt, nhiều nước và giòn. Có nhiều hạt, màu trắng hoặc trắng sữa.
Đặc điểm thực vật học - Rễ: Dưa lê có nguồn gốc từ Châu Phi nên hệ rễ của chúng có thể ăn sâu, hút nước ở tầng đất sâu, có khả năng chịu hạn - Thân: Thân dưa lê làm nhiệm vụ vận chuyển các chất dinh dưỡng cho toàn bộ cây dưa các loại giống dưa lê đều thuộc dạng thân bò. Thời kỳ cây có 1-2 đến 4-5 lá thật cây ở trạng thái đứng, đốt ngắn, thân mảnh yếu. Trên thân có nhiều lóng, tùy loại giống khác nhau thì có số lượng lóng khác nhau. Chiều dài của lóng quyết định chiều cao của cây.
Dưa lê có khả năng phân nhánh ở ngay nách lá. Vị trí bắt đầu phân nhánh thường bắt đầu từ đốt thứ 2 của thân. Các nhánh trên thân chính được gọi là nhánh cấp 1. - Lá: Lá dưa lê là loại 2 lá mầm.
2 lá mầm đầu tiên mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng. Độ lớn của lá mầm khác nhau giữa các loài trong họ bầu bí, dưa lê thuộc loại lá nhỏ. Người sản xuất thường quan sát độ lớn, sự cân đối tuổi thọ của đôi lá mầm để dự đoán tình hình sinh trưởng của một số giống cụ thể.