phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của nghiên cứu sinh thái cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trƣờng 1. Nghiên cứu sinh thái cảnh quan, đánh giá cảnh quan Những luận điểm về Cảnh quan học (Landscape science) và Sinh thái học (Ecology) và Sinh địa quần lạc học (Biogeocenology) đƣợc coi là cơ sở khoa học cho sự hình thành Sinh thái học cảnh quan (Landscape ecology). Cảnh quan học Hiện nay, khái niệm về “cảnh quan” đang đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhƣ: địa lý, môi trƣờng, hội họa… Tùy vào từng lĩnh vực mà khái niệm này đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Tổng quát lại, khái niệm “cảnh quan” có thể đƣợc hiểu theo nghĩa nhƣ sau: + Khái niệm cảnh quan đƣợc hiểu theo nghĩa rộng: Theo từ điển Webster’s (1963) và The Oxford English Dictionary (1933) khái niệm cảnh quan đƣợc hiểu nhƣ sau: - Là một bức tranh miêu tả lãnh thổ thiên nhiên (sông, suối, rừng, núi.) - Chỉ tổng thể địa hình của một vùng nào đó - Chỉ phong cảnh thiên nhiên của một vùng, một dải đất nào đó có thể quan sát đƣợc.
“Cấu trúc cảnh quan là sự sắp xếp và thay đổi phong cảnh thiên nhiên qua các miền đất khác nhau tạo ra các tác động thẩm mỹ”. Khái niệm này mang tính cảm nhận của con ngƣời với môi trƣờng xung quanh, hiện đƣợc mở rộng và sử dụng rộng rãi trong kiến trúc cảnh quan. + Khái niệm cảnh quan bao hàm nội dung khoa học: Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, thông qua các công trình nghiên cứu tự nhiên của các nhà nghiên cứu Nga và Đức, nội dung khoa học đã bắt đầu đƣa vào khái niệm cảnh quan. Cơ sở khoa học quan trọng của học thuyết này là sự nhận thức sâu sắc về tính toàn vẹn lãnh thổ, tính thống nhất nội tại của mối quan hệ nhân quả giữa các hợp phần tự nhiên cấu thành các “thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên” tồn tại 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một cách khách quan theo một trật tự phân cấp trong lớp vỏ địa lý.
Thứ hai là có thể xác định đƣợc ranh giới các thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên trên thực địa. Việc nghiên cứu cấu trúc cũng nhƣ sự phát triển của các tổng hợp thể tự nhiên đƣợc tiến hành dƣới góc độ khác nhau. Dƣới góc độ địa lý có các hƣớng nghiên cứu địa lý cảnh quan, dƣới góc độ địa hóa học có các hƣớng nghiên cứu địa hóa học cảnh quan và dƣới góc độ sinh thái có hƣớng nghiên cứu sinh thái cảnh quan. Thuật ngữ cảnh quan có thể đƣợc hiểu theo một trong các nội dung sau đây: - “Cảnh quan là những các thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản trong hệ thống phân vùng địa lý tự nhiên” Quan niệm này cho rằng cảnh quan là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên.
Các đơn vị cá thể cảnh quan đƣợc xác định theo nguyên tắc, phƣơng pháp phân vùng địa lý tự nhiên với hệ thống phân vị từ trên xuống dƣới thể hiện bằng phƣơng pháp họa đồ cảnh quan thực địa. Theo quan điểm này: “Cảnh quan địa lý là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên, đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền tảng địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một kiểu khí hậu đồng nhất và bao gồm một tập hợp dạng địa lý, chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh quan địa lý đó…” Với định nghĩa trên, N.Xolsev đã xác định đƣợc cấu trúc không gian thẳng đứng của cảnh quan thông qua việc xác định các hợp phần địa chất, địa hình, khí hậu cũng nhƣ cấu trúc ngang của cấp cảnh địa lý nhƣ là một tập hợp có quy luật.Ixatrenko (1965) định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một bộ phận được tách ra trong quá trình phát sinh của một miền, một đới địa lý và nói chung là của bất kì một đơn vị lãnh thổ nào lớn hơn, có đặc điểm là đồng nhất cả về mặt địa đới và phi địa đới và có một cấu trúc riêng, một cấu tạo hình thái riêng”. Khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, GS. Vũ Tƣ Lập (1976) đã đƣa ra định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thế, được phân hóa ra trong phạm vi một đới ngang ở đồng bằng, và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu thủy văn, về đại tổ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng nhất”[16].
- Cảnh quan đồng nghĩa với khái niệm thể tổng hợp tự nhiên lãnh thổ ở các cấp Tác giả D.Armand tán thành quan điểm này và cho rằng “Tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên là một phần lãnh thổ hay khu vực được phân chia một cách ước lệ bằng các ranh giới thẳng đứng theo nguyên tắc đồng nhất tương đối và các ranh giới nằm ngang theo nguyên tắc mất dần ảnh hưởng của nhân tố mà theo đó tổng thể được định ra… vì thuật ngữ tổng thể lãnh thổ hay khu vực tự nhiên rất dài, tuy chính xác nhưng không thuận tiện nên tôi thay nó bằng thuật ngữ ngắn gọn là cảnh quan”. - Quan niệm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại: Những ngƣời theo quan niệm này cho rằng: các thể tổng hợp địa lý tự nhiên chứa đựng trong nó các đặc tính phản ánh tính chất của tổ hợp các thành phần cấu tạo nên chúng. Nhờ vào việc nghiên cứu các đặc tính chung nào đó mà ngƣời ta có thể phát hiện các thể tổng hợp tự nhiên bằng con đƣờng phân loại cảnh quan theo các cấp loại nhƣ hệ cảnh quan- phụ hệ cảnh quan - kiểu cảnh quan - phụ kiểu cảnh quan - loại cảnh quan - hạng cảnh quan… Nhƣ vậy, CQ đƣợc hiểu và áp dụng khác nhau phụ thuộc vào quan điểm của ngƣời nghiên cứu. Theo quan điểm của Phạm Hoàng Hải và nhóm nghiên cứu, thuật ngữ này có thể hiểu theo một trong các nội dung sau [6]: 1.
Cảnh quan đƣợc coi là một thể tổng hợp lãnh thổ tự nhiên ở bất kỳ một cấp phân chia nào, đó là quan niệm chung. Cảnh quan là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị lãnh thổ tự nhiên, trong đó cảnh quan là đơn vị chủ yếu đƣợc xem xét đến những biến đổi do tác động của con ngƣời. Quan niệm cảnh quan là đơn vị mang tính kiểu loại. Cảnh quan là những cá thể địa lý, là một phần nào đó riêng biệt của lớp vỏ địa lý, trong đó có những đặc tính chung nhất.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó quan niệm kiểu loại và quan niệm cá thể đƣợc nhiều nhà nghiên cứu cảnh quan sử dụng, phổ biến là quan niệm kiểu loại. Trong nghiên cứu cảnh quan có nhiều hƣớng khác nhau, cần phải hiểu cảnh quan theo đúng bản chất của nó, không thể hiểu theo tên gọi vì chƣa có một định nghĩa cảnh quan thống nhất. Sinh thái học Sinh thái học đƣợc nhà động vật học Đức Haeckel (1866) đề xuất, nhƣng mãi đến đầu thế kỷ XX mới có một số công trình sinh thái học tích hợp các vấn đề địa lý nhƣ: nghiên cứu diễn thế sinh thái trên dải cồn cát hồ Michigan (Cowles, 1899); quy luật phát triển của sinh quần lạc trong mối quan hệ với nhân tố thổ nhƣỡng (Clements, 1916). Hệ sinh thái do nhà sinh thái học Anh Tansley (1935) đề xuất là một tập hợp các vật sống (thực vật, động vật, vi sinh vật) và môi trƣờng vô cơ nơi chúng sinh sống (khí hậu, đất), sau đó đƣợc các nhà sinh thái học Mỹ kế thừa và phát triển (Linderman, 1942; Odum, 1971; Whittaker, 1975).
Khái niệm này tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố vô sinh với các yếu tố hữu sinh đã gây ấn tƣợng sâu sắc cho nhà địa vật lý C.Troll nhìn nhận sinh thái cảnh quan nhƣ là khoa học nghiên cứu tổng hợp các hiện tƣợng tự nhiên phức tạp. Các nghiên cứu của Holling (1992) cũng đƣa ra kết luận: mọi hệ sinh thái đều đƣợc điều khiển và tổ chức bởi các loài sinh vật ƣu thế và các quá trình vô sinh đặc thù để tạo thành cấu trúc cảnh quan ở tỷ lệ khác nhau. Sinh địa quần lạc học Cũng trong thời gian này, trên cơ sở kế thừa học thuyết Hệ sinh thái rừng của GF Morozov (1912), nhà khoa học Nga Sucasov (1942) đã đề xƣớng học thuyết Sinh địa quần lạc học (Biogeocenology) với đối tƣợng nghiên cứu khác đi. Sinh địa quần lạc đƣợc quan niệm là “Tổng hợp trên bề mặt nhất định các hiện tượng tự nhiên theo kiểu chỉnh hợp với 1 dòng trao đổi và chuyển hóa vật chất giữa các điều kiện tự nhiên đó (đá mẹ, thảm thực vật, thế giới động vật, thế giới sinh vật, đất và điều kiện khí hậu - thủy văn)”.
Theo đó, bản chất quan hệ giữa các thành phần sinh địa quần lạc là quá trình tích lũy, chuyển hóa vật chất và năng lƣợng, quyết định sự phát sinh, phát triển và biến đổi của các hệ sinh thái rừng. Khái niệm sinh địa quần 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lạc học đƣợc các nhà sinh thái cảnh quan Bắc Mỹ đánh giá là gần tƣơng tự với khái niệm sinh thái cảnh quan của Troll. Ngoài ra còn phải kể đến sự ảnh hƣởng rất lớn của Khoa học lập địa (Site science), xã hội thực vật học (Phytosociology) và địa sinh học (Biogeography). Khoa học lập địa với phƣơng pháp luận xây dựng bản đồ lập địa rừng đƣợc đánh giá là một nhận tố quan trọng của sinh thái cảnh quan tại Đức.
Tại Bắc Mỹ, thực vật học đã nghiên cứu sâu quy luật phân bố không gian của các quần thể thực vật ƣu thế (Braun -Blanquet, 1932), thậm chí còn sử dụng cả phƣơng pháp luận của Von Humboldt (1807) về hệ thống sinh thái tƣơng tác với nhân tố môi trƣờng trong không gian lãnh thổ để giải thích sự phát sinh các kiểu thảm thực vật khác nhau (Bakker, 1979); Whittaker, 1965.