Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống Khái niệm về vùng sống Vùng sống của mỗi loài động vật được định nghĩa là “khu vực di chuyển bởi các cá thể trong các hoạt động bình thường của chúng cho việc thu thập thức ăn, giao phối và chăm sóc con non” [20]. Do đó, một cách đơn giản nhất, phân tích vùng sống của một loài động vật bao gồm việc vạch ra khu vực mà các loài đó tiến hành các hoạt động bình thường (Burt, 1943), điều này cũng đồng nghĩa với việc ghi lại những vị trí mà các cá thể đã được ghi nhận quan sát [54]. Những thông tin ghi nhận từ việc nghiên cứu và phân tích vùng sống có thể được sử dụng để kiểm tra các học thuyết cơ bản liên quan tới tập tính của động vật, sử dụng nguồn tài nguyên, sự phân bố quần thể hoặc kiểm tra sự tương tác lẫn nhau giữa các cá thể và trong quần thể [54].
Kích thước vùng sống có thể chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan và khách quan. Theo Burt (1943), kích thước vùng sống có thể thay đổi theo giới tính, theo mùa, theo mật độ quần thể và có thể theo độ tuổi. Một số tác giả khác cho rằng, sự thay đổi kích thước vùng sống của đàn còn chịu ảnh hưởng của kích thước đàn [57, 30, 8]. Trong khi đó, một vài nghiên cứu khác về các loài Linh trưởng lại cho thấy, kích thước vùng sống tương quan với trọng lượng cơ thể [45, 14].
Ngoài những nhân tố khách quan trên, ước tính kích thước vùng sống còn chịu ảnh hưởng của việc lựa chọn kỹ thuật, phương pháp ước tính [26]. Độ chính xác kích thước vùng sống khi ước tính cũng bị thay đổi khá nhiều khi áp dụng phương pháp hệ thống ô lưới với việc sử dụng các kích thước ô lưới khác nhau [26]. c 4 Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng Trong nghiên cứu về vùng sống nói chung, hiện nay có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để ước tính kích thước vùng sống. Trên cơ sở căn cứ theo việc xác định vị trí các điểm của nghiên cứu về vùng sống nói chung, phân tích vùng sống có thể chia thành 4 phương pháp tiếp cận cơ bản khác nhau bao gồm: - Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons) - Mô hình 2 biến số thông thường (Bivariate normal models) - Mô hình phi tham số (Nonparametric models) - Mô hình đường đồng mức (Contouring models) (Nguồn: Rodger và Carr, 1998[54]) - Adaptive kernel - Harmonic Mean Hiện nay, trong nghiên cứu và ước tính vùng sống của các loài Linh trưởng, các nhà khoa học thường sử dụng một số các biện pháp như: Phương pháp ô lưới (Grids cell - GC); Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons - MCP); Phương pháp đa giác lồi tối thiểu có điều chỉnh (Adjusted minimum convex polygons – Adjust MCP)… Việc áp dụng các phương pháp ước tính vùng sống khác nhau trên cùng một đối tượng có thể cho các kết quả khác nhau [26].
Ngoài ra, khi áp dụng phương pháp ô lưới với mỗi loại kích thước ô lưới khác nhau (hay tỷ lệ bản đồ khác nhau) cũng có thể làm thay đổi khá lớn kích thước vùng sống. Chẳng hạn, khi nghiên cứu về việc lựa chọn phương pháp ước tính vùng sống của loài Voọc mũi hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti), Grueter và ctv (2008), nhận thấy kích thước vùng sống theo hàng tháng có sự thay đổi đáng kể với mỗi phương pháp sử dụng khác nhau, (MCP – 16,96 km2; Adjust MCP – 14, 52 km2; và GC – 1,06 km2. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ nhóm tác giả cũng cho thấy tổng kích thước c 5 vùng sống tăng từ 24,75 km2 lên 34,25 km2 khi tăng kích thước ô lưới từ 250m lên 500m [26]. Tổng quan về vùng sống của một vài loài khỉ ăn lá ở Châu Á 1.
Sinh cảnh sống Các loài khỉ ăn lá về cơ bản sống trong rừng, nhưng chúng xuất hiện trong một phạm vi phân bố rộng với nhiều các kiểu rừng khác nhau, bao gồm rừng khô lá rộng, rừng tre nứa nhiệt đới, rừng ven sông, rừng đầm lầy, rừng đước và rừng mưa nhiệt đới thường xanh. Chẳng hạn như, với loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) có nơi sống chủ yếu ở những vùng ven sông, rừng đước ven biển phía đông Malaysia [16, 31], các khu vực dọc theo sông Kinabatangan, với địa hình phần lớn là bằng phẳng [16]. Một vài loài khỉ ăn lá khác có nơi sống là các khu rừng trên cao với nhiều dãy núi đá vôi điển hình như một số loài trong giống Trachypithecus hay Rhinopithecus [11, 47, 49]. Trong khi đó, loài Khỉ Nhật Bản lại có nơi sống đặc biệt, ở những vùng núi thuộc Honshu, đảo Koshima của Nhật Bản, với nhiệt độ trong mùa đông có thể xuống đến – 15oC.
Kích thước vùng sống Kích thước vùng sống của nhóm khỉ ăn lá là khác nhau tuỳ thuộc vào mỗi loài, có thể biến đổi từ vài chục cho tới hàng trăm ha. Chẳng hạn, với loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) độ rộng vùng sống được ghi nhận khoảng hơn 100 ha [16, 44]. Trong khi đó, kết quả này của loài Voọc đỏ (Presbytis rubicunda) được ghi nhận chỉ từ 3,3 – 9,9 ha [30]. Bên cạnh việc chịu ảnh hưởng bởi các loài khác nhau, kích cỡ vùng sống ước tính còn thay đổi hàng tháng [40, 62, 16] và chịu ảnh hưởng bởi số lượng cá thể trong đàn hoặc kích cỡ quần thể [30, 60, 8].
Một vài tác giả khi nghiên cứu về vùng sống của một số các loài khỉ ăn lá cho thấy kích thước vùng sống có liên quan tới chất lượng cũng như sự c 6 phân bố theo không gian và thời gian của nguồn thức ăn [40, 16, 44]. Theo Li và Rogers (2004), chất lượng nơi sống của loài Voọc, má trắng (Trachypithecus francoisi) tăng lên được thể hiện ở số loài thức ăn ưa thích của chúng nhiều hơn, điều này cũng sẽ làm tăng sự hấp dẫn của các con cái từ phía con đực, do đó kích cỡ trong đàn tăng lên, phù hợp với chất lượng nơi sống tăng [40]. Trong khi đó theo Boonratana (2000), tỉ lệ lượng hoa và quả trong chế độ ăn của chúng sẽ làm ảnh hưởng tới kích thước vùng sống [16].1: Kích thước vùng sống của một số loài khỉ ăn lá Châu Á STT Loài Kích thước(ha) Nguồn 1 Voọc đầu trắng 28-18 Li & Rogers, 2005 2 Khỉ vòi 138.3 Matsuda và ctv, 2008 3 Khỉ vòi 220.5 Boonratana, 2000 4 Khỉ tây tạng 18 Zhao & Deng, 1988 5 Voọc đầu trắng 19 Zhou và ctv, 2006 6 Voọc mông trắng 36 – 46 Nguyễn Vĩnh Thanh, 2007 7 Voọc đỏ 3.9 Supriatna, 1986 Vùng sống của một số loài trong nhóm khỉ ăn lá thay đổi hàng tháng [62, 16, 44]. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các tháng là không ý nghĩa [62].
Kết quả nghiên cứu của Zhou và ctv (2006), cũng ghi nhận tập tính sử dụng vùng sống của loài Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi) với khoảng 55% tổng số các hoạt động xảy ra tập trung ở một khu vực nhỏ, và 22% các hoạt động xảy ra ở những nơi có chứa hoặc gần các điểm ngủ [62]. Trong khi đó, theo Matsuda và ctv (2008) khi nghiên cứu về loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) nhận thấy, mức độ sẵn có của các loại quả ảnh hưởng tới vùng sống của chúng. Nhóm tác giả cho rằng sự sẵn có của nguồn thức ăn và mối nguy hiểm từ sự xuất hiện của các loài ăn thịt ảnh hưởng chính tới vùng phân bố của loài [44]. Quãng đường di chuyển trong ngày Độ dài quãng đường di chuyển trong ngày là một tiêu chí quan trọng, có liên quan tới tập tính sử dụng vùng sống của một loài.
Do vậy khi nghiên cứu về vùng sống của một số loài Linh trưởng, một số tác giả cho thấy độ dài di chuyển trong ngày có liên hệ với tập tính sử dụng vùng sống của mỗi loài, bao gồm: mức độ phong phú, tính sẵn có và sự phân bố của các loài thức ăn [16, 44, 62, 8]. Nguyễn Vĩnh Thanh (2007) nhận thấy rằng chiều dài trung bình di chuyển trong ngày của mỗi đàn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là khác nhau (trung bình biến đổi trong khoảng từ 666,3 m – 781m), tuy nhiên kết quả phân tích thống kê lại cho thấy, sự khác nhau này là không có ý nghĩa. Cũng theo tác giả, chiều dài di chuyển trong ngày lớn nhất của loài này được ghi nhận tháng 4 năm 2006 - thời điểm lượng thức ăn cung cấp được cho là nhiều nhất, mặc dù vậy, song kết quả phân tích mối liên hệ cho thấy không có sự tương quan giữa độ dài di chuyển trong ngày với vật hậu học của các loài thực vật làm thức ăn cho chúng [8]. Quãng đường di chuyển trong ngày cũng thay đổi theo các mùa khác nhau [62], điều này được giải thích cơ bản thông qua sự chênh lệch về mức độ phong phú của các nguồn thức ăn ưa thích giữa các mùa cũng khác nhau.
Zhou và ctv (2006), khi nghiên cứu về loài Voọc đầu trắng, nhận thấy chiều dài di chuyển khác nhau lần lượt giữa mùa khô và mùa mưa là 403 (m) so với 471 (m). Theo tác giả, sự chênh lệch này là do trong mùa khô lượng thức ăn khan hiếm hơn [62]. Độ dài di chuyển trong ngày của loài Khỉ vòi lớn hơn khá nhiều so với một số các loài kể trên, có thể thay đổi trong phạm vi lớn từ vài trăm đến hàng c 8 nghìn mét [16, 44]. Kết quả nghiên cứu của Boonratana (2000) chỉ ra rằng, không có sự tương quan giữa các yếu tố gồm: lượng mưa hàng tháng, lượng lá non, lượng hoa, quả với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày.
Duy nhất tỉ lệ thành phần lá non trong khẩu phần ăn của loài này tương quan với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày [16]. Theo tác giả, khi mà lượng lá non nhiều hơn các loại quả trong chế độ ăn của chúng, độ dài quãng đường di chuyển sẽ lớn hơn, điều này cũng đồng nghĩa đây là thời điểm cho thấy sự đa dạng trong khẩu phần ăn của loài này cũng tăng lên. Ngoài ra, sự gia tăng độ dài di chuyển trong ngày của loài có thể do chúng đã thăm dò, thám hiểm xung quanh và kiếm ăn trên nhiều loại thức ăn [44]. Nơi ngủ Nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ ăn lá được ghi nhận là khá đa dạng, bao gồm: hang [62, 51, 63]; vách đá, rìa đá, bờ đá [62, 51, 63, 60, 8]; và trên cây [16, 44, 60].
Trong số này riêng loài Khỉ tây tạng được ghi nhận là ngủ trên 5 dạng nơi ngủ khác nhau [60].