Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lâm nghiệp của nghiên cứu sinh Nguyễn Hữu Văn, chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng (Mã số: 9 62 02 11), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Tiến Thịnh tại Trường Đại học Lâm nghiệp (năm 2022), tập trung vào đề tài: "Nghiên cứu hiện trạng, phân bố loài vượn đen má trắng Nomascus leucogenys (Ogilby, 1840) tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh nhằm đề xuất giải pháp bảo tồn".
Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) là loài linh trưởng thuộc nhóm nguy cấp cao, được xếp ở bậc Cực kỳ nguy cấp (CR) theo Danh lục Đỏ của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên (IUCN, 2021), bậc Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), thuộc Phụ lục I của Công ước CITES và Nhóm IB theo Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Trong những thập kỷ gần đây, kích thước quần thể của loài suy giảm nghiêm trọng do mất sinh cảnh và áp lực săn bắn; tại nhiều khu rừng đặc dụng ở miền Bắc Việt Nam, loài hầu như không còn được ghi nhận. Tại Vườn quốc gia (VQG) Vũ Quang, các nghiên cứu trước đây (như Roland et al., 2000; Nguyễn Danh Kỳ & cs, 2019) chỉ mới dừng lại ở việc ghi nhận sự có mặt gián tiếp qua tiếng hót (7 lần ghi nhận), chưa quan sát hoặc chụp ảnh trực tiếp, chưa làm rõ đặc điểm sinh thái, sinh cảnh ưa thích, cấu trúc đàn, kích thước quần thể cũng như các yếu tố đe dọa cụ thể. Các đợt khảo sát trước đây chủ yếu dựa vào sức người theo tuyến hoặc điểm trong thời gian ngắn, chưa áp dụng công nghệ thu âm tự động và chưa xây dựng được phương án giám sát dài hạn. Đây chính là khoảng trống khoa học mà luận án xác định giải quyết.
Mục tiêu chung của luận án là đánh giá hiện trạng, xác định khu vực phân bố và các yếu tố đe dọa đến quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh, từ đó xây dựng kế hoạch giám sát và đề xuất các giải pháp bảo tồn thích ứng nhằm duy trì bền vững quần thể này.
Các mục tiêu cụ thể được xác định như sau:
- Xác định hiện trạng quần thể và phân bố của loài Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang: xác định sự có mặt thông qua dữ liệu ghi âm tự động; xác định khu vực và diện tích vùng phân bố; ước tính mật độ phân bố (đàn/$\text{km}^2$) và kích thước quần thể.
- Bổ sung dữ liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài: xác định sinh cảnh ưa thích; đánh giá cấu trúc đàn theo độ tuổi và giới tính thông qua phân tích phổ âm thanh; cập nhật tập tính hót (tần suất, thời gian bắt đầu, kết thúc, độ dài tiếng hót theo ngày và mùa); đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố thời tiết (mưa, gió, sương mù, mưa đêm trước) đến tần suất hót.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn: đánh giá các yếu tố đe dọa; đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn lâu dài; xây dựng kế hoạch và quy trình giám sát định kỳ cho loài tại VQG Vũ Quang.
Đối tượng nghiên cứu là loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys). Phạm vi không gian nghiên cứu nằm trong ranh giới VQG Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh (tổng diện tích tự nhiên quản lý là 57.028,1 ha, trải rộng trên 49 tiểu khu thuộc 10 xã vùng đệm của 3 huyện Hương Khê, Hương Sơn và Vũ Quang). Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu ngoại nghiệp thực địa diễn ra từ tháng 7 năm 2019 đến tháng 7 năm 2020 (không bao gồm thời gian sơ thám và thiết kế kỹ thuật từ năm 2018).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về phân loại họ Vượn (Hylobatidae) và giống Vượn mào (Nomascus). Theo các phân loại hình thái và di truyền học trước đây (Groves, 2001; Phạm Nhật, 2002; Nguyễn Xuân Đặng & Lê Xuân Cảnh, 2009), giống Nomascus được phân biệt với các giống khác qua bộ nhiễm sắc thể $2n = 52$ và cấu trúc mào lông đặc trưng. Nghiên cứu của Van Ngoc Thinh et al. (2010) dựa trên phân tích di truyền và âm sinh học đã xác lập 6 loài thuộc giống Nomascus tại Việt Nam: Vượn đen tuyền (N. concolor), Vượn cao vít (N. nasutus), Vượn đen má trắng (N. leucogenys), Vượn siki (N. siki), Vượn má vàng trung bộ (N. annamensis) và Vượn má vàng phía nam (N. gabriellae). Vùng phân bố tự nhiên của N. leucogenys trải dài từ tả ngạn sông Đà đến bờ bắc sông Rào Nậy.
Về tình trạng quần thể, Rowson et al. (2011) chỉ ra sự suy giảm nghiêm trọng của loài tại các tỉnh Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. Luu & Rawson (2011) ghi nhận quần thể lớn nhất tại VQG Pù Mát (Nghệ An) với trên 400 cá thể, chiếm khoảng 2/3 số lượng vượn đen má trắng của cả nước. Tại VQG Vũ Quang, nghiên cứu của Roland, Madhavan & Dzung (2000) và Nguyễn Danh Kỳ & cs (2019) ghi nhận VQG có 8 loài thú linh trưởng, trong đó N. leucogenys là loài có mức độ đe dọa cao nhất nhưng dữ liệu thực địa còn rất hạn chế.
Về phương pháp nghiên cứu linh trưởng, các kỹ thuật truyền thống do con người thực hiện theo tuyến hoặc điểm nghe (Brockelman & Ali, 1987; Buckland et al., 2001; Southwood & Henderson, 2000) có hạn chế lớn về chi phí nhân lực, phạm vi bao phủ và sai số do người quan sát (Fitzpatrick et al., 2009). Vu Tien Thinh & Rawson (2011) đã xây dựng công cụ tính toán tự động ước lượng kích thước quần thể vượn có hiệu chỉnh xác suất hót hàng ngày, được ứng dụng tại một số khu bảo tồn (Hoang Minh Duc et al., 2010b; Luu & Rawson, 2011; Ha Thang Long et al., 2011). Tuy nhiên, phương pháp này chưa giải quyết triệt để sự suy giảm khả năng phát hiện theo khoảng cách do địa hình chia cắt. Việc áp dụng phương pháp khoảng cách (Distance sampling) của Thomas et al. (2010) và Nguyễn Hải Tuất & cs (2011) cho phép khắc phục hạn chế trên thông qua việc mô hình hóa hàm phát hiện $g(y)$ và lựa chọn mô hình theo tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC - Burnham & Anderson, 2002).
Trên thế giới và tại Việt Nam, kỹ thuật âm sinh học (bioacoustics) sử dụng thiết bị thu âm tự động đã được ứng dụng cho các nhóm động vật có tiếng kêu đặc trưng (Aide et al., 2013; Boucher et al., 2012; Celis-Murillo et al., 2012; Konrad & Geissmann, 2006). Ở Việt Nam, phương pháp này từng được áp dụng trên loài Nomascus annamensis tại Ngọc Linh (Vũ Tiến Thịnh & cs, 2017), tại Đakrông (Vũ Tiến Thịnh & cs, 2021) và trên loài Nomascus gabriellae tại Cát Tiên (Trần Mạnh Long, 2020). Luận án của Nguyễn Hữu Văn là công trình đầu tiên ứng dụng đồng bộ kỹ thuật âm sinh học tự động kết hợp phương pháp khoảng cách để giải quyết toàn diện các vấn đề về hiện trạng, mật độ, cấu trúc đàn và tập tính hót của loài Nomascus leucogenys tại VQG Vũ Quang.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết phân loại học linh trưởng, âm sinh học động vật và lý thuyết mẫu khoảng cách (Distance Sampling). Cụ thể:
- Khung phân tích âm sinh học: Tiếng hót của vượn mào có tính đặc thù cao theo loài, giới tính và độ tuổi (Konrad & Geissmann, 2006; Van Ngoc Thinh et al., 2010). Phổ âm thanh cho phép nhận dạng tiếng hót đơn của cá thể đực, cá thể cái, bài hót đôi (duet) của cặp trưởng thành và âm thanh phụ họa của cá thể bán trưởng thành.
- Khung lý thuyết phương pháp khoảng cách: Giả định xác suất phát hiện đối tượng $g(y)$ tại khoảng cách $y = 0$ bằng 1 và giảm dần khi $y$ tăng lên. Bốn hàm số cơ bản được kiểm tra gồm: hàm nửa chuẩn (Half-normal), hàm mũ ngược (Negative exponential), hàm tỷ lệ rủi ro (Hazard-rate) và hàm đều (Uniform), kết hợp các chuỗi mở rộng (Cosine, Simple polynomials, Hermite polynomials). Tiêu chuẩn AIC được sử dụng để lựa chọn mô hình tối ưu.
- Kiểm định thống kê sinh học: Sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$, bậc tự do $df$, mức ý nghĩa $p$-value/sig) để đánh giá sự khác biệt về tần suất hót dưới tác động của các yếu tố khí tượng (mưa khi điều tra, gió, sương mù, mưa đêm trước).
Phương pháp thu thập dữ liệu thực tế:
- Phương pháp ghi âm tự động: Thiết lập 53 điểm đặt máy ghi âm tự động (sử dụng thiết bị di động chuyên dụng tích hợp phần mềm ghi âm) trải rộng trên 33 tiểu khu của VQG Vũ Quang, thực hiện trong thời gian từ ngày 22/7/2019 đến ngày 19/5/2020.
- Phương pháp điều tra điểm nghe truyền thống: Bố trí 40 điểm nghe tại 20 tiểu khu từ ngày 21/02/2020 đến ngày 03/7/2020. Người điều tra ghi nhận thời gian bắt đầu, kết thúc, góc phương vị, ước tính cự ly và tình trạng thời tiết.
- Phương pháp giao hội điểm: Sử dụng tọa độ các điểm nghe đồng thời và góc phương vị đo được để xác định tọa độ không gian của các đàn vượn.
Phương pháp xử lý dữ liệu và công cụ phần mềm:
- Phân tích phổ âm thanh bằng phần mềm Raven (Cornell Lab of Ornithology) để trích xuất cấu trúc đàn, phân tích tần số âm thanh (kHz) và độ dài bài hót từ các file ghi âm thu được.
- Xử lý không gian, phân tích hiện trạng rừng và sinh cảnh tại các điểm ghi nhận bằng phần mềm MapInfo 10.
- Ước lượng mật độ và kích thước quần thể bằng phần mềm chuyên dụng Distance (Thomas et al., 2010).
Nguồn dữ liệu bao gồm: 53 vị trí đặt máy ghi âm thực địa; 32 file âm thanh ghi nhận tiếng vượn hót đạt chuẩn phân tích; số liệu điều tra trực tiếp từ 40 điểm nghe; cơ sở dữ liệu hiện trạng rừng và tài nguyên động thực vật do Ban quản lý VQG Vũ Quang cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 1 cung cấp bức tranh tổng thể về cơ sở lý luận và thực tiễn của khu vực nghiên cứu. Luận án tổng hợp phân loại 6 loài vượn thuộc giống Nomascus ở Việt Nam cùng tình trạng bảo tồn theo IUCN, Sách Đỏ Việt Nam và Nghị định số 84/2021/NĐ-CP. Tác giả phân tích các đặc trưng hình thái, sinh học và sinh thái của Nomascus leucogenys, nhấn mạnh kích thước cơ thể từ 6–10 kg, chiều dài thân 530–600 mm, tập tính ghép đôi một vợ một chồng và phạm vi phân bố tự nhiên lịch sử.
Về phương diện địa bàn, VQG Vũ Quang nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tĩnh (tọa độ từ $18^\circ09'$ đến $18^\circ26'$ vĩ độ Bắc và $105^\circ16'$ đến $105^\circ33'$ kinh độ Đông), có tổng diện tích quản lý 57.028,1 ha (rừng đặc dụng chiếm 52.731,4 ha, rừng phòng hộ 3.688,9 ha, rừng sản xuất 607,8 ha). Khu vực có địa hình đồi núi dốc phức tạp, là đầu nguồn của ba lưu vực sông: Ngàn Trươi, Rào Nổ và Khe Tre. Tài nguyên động vật tại VQG có tính đa dạng sinh học cao với 70 loài thú được ghi nhận, trong đó khu hệ linh trưởng có 8 loài thuộc 3 họ (chiếm 32% tổng số loài linh trưởng cả nước). Chương này làm rõ tính cấp thiết của việc cập nhật dữ liệu về loài Vượn đen má trắng vốn đang chịu sức ép lớn từ các hoạt động dân sinh ở vùng đệm.
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu và quy trình kỹ thuật. Nội dung nghiên cứu gồm 3 hợp phần chính: xác định hiện trạng phân bố; nghiên cứu đặc điểm sinh thái - tập tính; và đề xuất giải pháp bảo tồn.
Tác giả mô tả chi tiết phương pháp bố trí mạng lưới 53 điểm ghi âm tự động và 40 điểm nghe truyền thống trên bản đồ địa hình và hiện trạng rừng. Quy trình phân tích âm sinh học được chuẩn hóa: tín hiệu âm thanh định dạng số được nạp vào phần mềm Raven để chuyển đổi thành biểu đồ phổ âm thanh (Spectrogram), nhận diện các đoạn hót của cá thể đực, cá thể cái và cá thể bán trưởng thành dựa trên tần số và hình dạng âm tiết. Phương pháp khoảng cách được thiết lập thông qua việc thu thập cự ly từ điểm nghe tới đàn vượn, sau đó đưa vào phần mềm Distance để xây dựng đường cong xác suất phát hiện $g(x)$, ước tính diện tích quan trắc hiệu dụng và hiệu chỉnh mật độ quần thể. Phương pháp đánh giá các mối đe dọa được thực hiện thông qua điều tra phỏng vấn, khảo sát hiện trường và phân tích số liệu vi phạm quản lý bảo vệ rừng giai đoạn 2017–2020.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được từ quá trình khảo sát và phân tích nội nghiệp:
1. Hiện trạng và phân bố quần thể:
- Luận án ghi nhận sự có mặt của Vượn đen má trắng tại 23/49 tiểu khu của VQG Vũ Quang, với tổng diện tích vùng phân bố ước tính là 32.432 ha.
- Thông qua phương pháp điều tra thực địa và phân tích âm sinh học, luận án đã xác định được vị trí của 18 đàn vượn cụ thể.
- Phân tích thống kê cho thấy xác suất hót trung bình trong ngày của loài đạt $p_1 = 0,3750$.
- Mô hình xác suất phát hiện tối ưu được lựa chọn qua phần mềm Distance cho thấy xác suất phát hiện trung bình tiếng hót của đàn vượn trong phạm vi 1.200 m là $g(x) = 0,63$.
- Mật độ phân bố của quần thể được ước tính là 0,42104 đàn/$\text{km}^2$. Tổng kích thước quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang ước tính khoảng 137 đàn, tương đương khoảng 270 cá thể.
| Chỉ số điều tra / ước lượng |
Giá trị xác định trong luận án |
| Số tiểu khu ghi nhận phân bố |
23 / 49 tiểu khu |
| Diện tích vùng phân bố |
32.432 ha |
| Số đàn định vị trực tiếp qua điều tra |
18 đàn |
| Xác suất hót trung bình hàng ngày ($p_1$) |
0,3750 |
| Xác suất phát hiện trung bình ($g(x)$ trong cự ly 1.200 m) |
0,63 |
| Mật độ phân bố quần thể |
0,42104 đàn/$\text{km}^2$ |
| Kích thước quần thể ước tính |
137 đàn (khoảng 270 cá thể) |
2. Đặc điểm sinh thái, cấu trúc đàn và tập tính hót:
- Sinh cảnh ưa thích: Quần thể vượn tập trung tuyệt đối tại sinh cảnh rừng tự nhiên lá rộng thường xanh có trữ lượng gỗ từ trung bình đến giàu, chiếm 97,52% diện tích tại các điểm ghi âm có vượn hót và 97,39% diện tích khu vực phân bố ở 23 tiểu khu.
- Cấu trúc đàn: Phân tích 32 file ghi âm tiếng hót ghi nhận 4 kiểu cấu trúc đàn chính: (1) Đàn chỉ gồm 1 cá thể đực; (2) Đàn gồm 1 đực trưởng thành và 1 cái trưởng thành; (3) Đàn gồm 2 đực và 1 cái trưởng thành; (4) Đàn gồm 1 đực, 1 cái trưởng thành và 1 bán trưởng thành. Số cá thể trung bình trong một đàn là 1,97 cá thể; tỷ lệ cá thể đực chiếm ưu thế so với cá thể cái.
- Phổ âm thanh: Phổ âm thanh của loài tại Vũ Quang có cấu trúc hình học tương đồng với phổ chuẩn của Konrad & Geissmann (2006), nhưng có tần số âm thanh dịch chuyển cao hơn từ 0,3 đến 1,0 kHz.
- Tập tính hót theo thời gian: Vượn bắt đầu hót từ 5h00 và kết thúc vào khoảng 9h30 sáng, trong đó thời gian hót tập trung cao nhất từ 5h00 đến 7h00. Về độ dài bài hót, 90,70% số đàn có thời gian hót kéo dài từ 5 phút đến dưới 25 phút; không ghi nhận đàn nào hót vượt quá 35 phút.
- Ảnh hưởng của thời tiết: Kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$) xác nhận yếu tố mưa khi điều tra và mưa tối hôm trước làm giảm rõ rệt tần suất hót của vượn so với ngày không mưa ($p < 0,05$). Yếu tố gió và sương mù không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với tần suất hót.
3. Đánh giá mối đe dọa và giải pháp bảo tồn:
- Mối đe dọa trực tiếp lớn nhất là tình trạng săn bắn, bẫy bắt động vật rừng trái phép bằng bẫy dây, bẫy kẹp. Hoạt động khai thác lâm sản ngoài gỗ gây xáo trộn sinh cảnh sống.
- Về quản lý, bộ máy VQG Vũ Quang thiếu hụt nhân lực chuyên trách cho nghiên cứu khoa học và tuần tra rừng (cần bổ sung khoảng 13 biên chế).
- Luận án xây dựng kế hoạch giám sát gồm 4 bước và đề xuất dự toán kinh phí đầu tư thiết bị thu âm tự động (khoảng 7 triệu đồng/bộ tại thời điểm năm 2021) kết hợp với các đợt tuần tra định kỳ của kiểm lâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được những đóng góp khoa học và thực tiễn chính như sau:
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Khẳng định tính hiệu quả và độ tin cậy của phương pháp ứng dụng công nghệ thu âm tự động (bioacoustics) kết hợp phần mềm phân tích phổ âm Raven và lý thuyết phương pháp khoảng cách (Distance sampling) trong nghiên cứu định lượng quần thể linh trưởng nguy cấp có tập tính hót.
- Bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học về phổ âm thanh của loài Nomascus leucogenys tại khu vực Bắc Trung Bộ, chỉ ra sự sai khác về tần số âm thanh (cao hơn từ 0,3–1,0 kHz) so với dữ liệu chuẩn quốc tế đã công bố.
- Cung cấp dữ liệu định lượng chính xác về xác suất hót theo ngày ($p_1 = 0,3750$), hàm phát hiện theo khoảng cách và mức độ tác động của các yếu tố khí tượng thủy văn đối với tập tính hót của loài.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp dữ liệu hiện trạng đầy đủ: khẳng định sự tồn tại của một trong hai quần thể Vượn đen má trắng lớn nhất Việt Nam tại VQG Vũ Quang với 137 đàn (khoảng 270 cá thể), phân bố trên 32.432 ha thuộc 23 tiểu khu.
- Xác định rõ sinh cảnh ưu tiên bảo tồn (rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu và trung bình) cùng bản đồ phân bố không gian, phục vụ việc phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt.
- Xây dựng quy trình giám sát thực địa tiêu chuẩn gồm 4 bước, tích hợp bảng biểu điều tra, phương pháp giao hội điểm và dự toán chi phí đầu tư thiết bị thu âm tự động lồng ghép với công tác tuần tra của lực lượng kiểm lâm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào nội dung được tác giả trình bày tại phần tồn tại của luận án, công trình có một số hạn chế sau:
- Chưa nghiên cứu đầy đủ các khía cạnh sinh thái học khác của loài ngoài đặc điểm phân bố theo trạng thái rừng (như thành phần thức ăn, tập tính kiếm ăn chi tiết).
- Chưa làm rõ đầy đủ các chỉ số sinh học cá thể (như chu kỳ sinh sản ngoài tự nhiên, tỷ lệ tử vong của con non).
- Dữ liệu âm thanh chưa thu thập được trong mùa thu, dẫn đến việc chưa hoàn thiện trọn vẹn bộ dữ liệu tần suất hót theo cả 4 mùa trong năm.
- Một số tiểu khu hiểm trở ở khu vực phía Tây và Tây Nam VQG ở đai cao từ 1.400 m trở lên (diện tích khoảng 4.000 ha) chưa thể tiếp cận để đặt máy ghi âm, do đó chưa xác định được sự có mặt của loài tại khu vực chuyển tiếp này.
Các hướng nghiên cứu tiếp theo được khuyến nghị gồm:
- Tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về các đặc điểm sinh học và sinh thái học dinh dưỡng, tập tính của Vượn đen má trắng để hoàn thiện cơ sở dữ liệu sinh học loài.
- Bổ sung các đợt khảo sát thu âm tự động trong mùa thu nhằm hoàn thiện chuỗi dữ liệu tập tính hót theo mùa.
- Mở rộng điều tra thực địa tại các tiểu khu đai cao trên 1.400 m phía Tây và Tây Nam VQG Vũ Quang để làm rõ ranh giới phân bố trọn vẹn của quần thể.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với các nhóm đối tượng sau:
- Cán bộ quản lý và lực lượng kiểm lâm tại các khu rừng đặc dụng: Cung cấp phương pháp luận thực tế để thiết lập mạng lưới điểm thu âm tự động, quy trình phân tích âm thanh và cách lập kế hoạch giám sát đa dạng sinh học với chi phí hợp lý.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Sinh thái học: Cung cấp khung phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa công nghệ âm sinh học và mô hình khoảng cách (Distance sampling) cùng quy trình xử lý dữ liệu trên các phần mềm Raven, Distance và MapInfo.
- Các nhà hoạch định chính sách bảo tồn động vật hoang dã: Cung cấp số liệu tin cậy về quy mô quần thể Vượn đen má trắng tại Vũ Quang để đưa vào các chiến lược hành động bảo tồn linh trưởng cấp quốc gia và quốc tế.
Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất là hệ thống biểu mẫu điều tra thực địa, phương pháp xử lý file âm thanh trên phần mềm Raven và thuật toán ước lượng mật độ đàn hiệu chỉnh theo xác suất hót và cự ly.
Câu hỏi thường gặp
1. Kích thước và mật độ quần thể Vượn đen má trắng tại VQG Vũ Quang được xác định là bao nhiêu?
Dựa trên phương pháp khoảng cách và dữ liệu ghi âm tự động, luận án ước tính mật độ phân bố của loài là 0,42104 đàn/$\text{km}^2$. Quy mô toàn bộ quần thể tại VQG Vũ Quang vào khoảng 137 đàn với khoảng 270 cá thể, phân bố trên diện tích 32.432 ha thuộc 23 tiểu khu.
2. Cấu trúc đàn của Vượn đen má trắng tại khu vực nghiên cứu gồm những dạng nào?
Qua phân tích 32 file ghi âm tiếng hót, luận án xác định 4 kiểu cấu trúc đàn: đàn chỉ có 1 cá thể đực; đàn gồm 1 đực và 1 cái trưởng thành; đàn gồm 2 đực và 1 cái trưởng thành; đàn gồm 1 đực, 1 cái trưởng thành và 1 bán trưởng thành. Số cá thể bình quân trong một đàn là 1,97 cá thể.
3. Các yếu tố thời tiết ảnh hưởng như thế nào đến tập tính hót của loài?
Kiểm định Chi-bình phương cho thấy hiện tượng mưa trong thời gian điều tra và mưa vào tối hôm trước làm suy giảm đáng kể tần suất hót của vượn ($p < 0,05$). Ngược lại, các yếu tố sương mù và gió không tạo ra ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đối với tần suất hót.
4. Vì sao việc ứng dụng thiết bị ghi âm tự động lại ưu việt hơn phương pháp điều tra truyền thống bằng con người trong nghiên cứu vượn?
Phương pháp ghi âm tự động giúp giảm chi phí nhân công và hậu cần (vốn cần 5–7 người mỗi tuyến), có thể thu dữ liệu liên tục trong nhiều ngày tại các vùng địa hình hiểm trở xa xôi, khắc phục sai số chủ quan của người nghe và ghi lại dữ liệu âm thanh khách quan để phân tích phổ âm trên phần mềm chuyên dụng.
5. Giải pháp then chốt nào được đề xuất để bảo tồn loài tại VQG Vũ Quang?
Luận án đề xuất tập trung bảo vệ diện tích rừng tự nhiên lá rộng thường xanh giàu và trung bình tại 23 tiểu khu phân bố; ngăn chặn triệt để hoạt động săn bắt, bẫy bắt động vật rừng; bổ sung 13 biên chế cho VQG; và triển khai quy trình giám sát 4 bước định kỳ hàng năm bằng thiết bị ghi âm tự động kết hợp tuần tra kiểm lâm.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hữu Văn đã giải quyết thành công khoảng trống nghiên cứu về hiện trạng và phân bố của loài Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) tại Vườn quốc gia Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh. Bằng việc kết hợp kỹ thuật âm sinh học tự động và phương pháp khoảng cách, công trình đã xác định quy mô quần thể đạt khoảng 137 đàn (khoảng 270 cá thể) phân bố trên 32.432 ha rừng tự nhiên thường xanh giàu và trung bình. Luận án đã bổ sung các dẫn liệu định lượng về phổ âm thanh, cấu trúc đàn, tập tính hót và tác động của thời tiết, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp và quy trình giám sát khả thi cho công tác bảo tồn loài linh trưởng cực kỳ nguy cấp này.