Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU. Một số đặc điểm về các loài vượn ở Việt Nam 1. Phân loại họ vượn Các loài thú Linh trưởng Việt Nam thuộc 3 họ: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ (Cercopithecidae) và họ Vượn (Hylobatidae) (Nguyễn Xuân Đặng; Lê Xuân Cảnh, 2009). Các loài trong họ Vượn (Hylobatidae) phân bố chủ yếu ở các khu rừng thường xanh (Geissmann et al, 2000).
Theo Phạm Nhật (2002) vượn có nhiều đặc điểm đặc trưng và khác biệt với các nhóm linh trưởng khác. Về mặt hình thái vượn không có đuôi và chi trước dài hơn chi sau. Ngược lại, các loài linh trưởng khác ở Việt Nam đều có đuôi, một số loài có đuôi rất dài. vượn còn khác biệt các loài khác ở tập tính vận động, cấu trúc xã hội.
Các loài vượn sống cơ bản ở trên cây và chủ yếu ăn quả trong khi nhóm khỉ thì ăn tạp và có thể di chuyển xuống đất. Vượn di chuyển bằng 2 chi trước trong khi các loài khác thường di chuyển bằng 4 chi. Về mặt cấu trúc xã hội, vượn sống theo gia đình nhỏ và đây là một điểm tương đối riêng biệt so với các loài linh trưởng khác. Theo Geissmann T (1995) các nghiên cứu trước đây về phân loại vượn chia thành hai nhóm gồm Symphalangus và Hylobates.
Sự khác nhau dễ nhận thấy là nhóm Symphalangus có trọng lượng nặng hơn và chúng có giọng hót sâu hơn, có bao cổ họng bên ngoài và màng chân giữa các ngón 2 và 3. Hiện nay các nghiên cứu về di truyền học, các đặc điểm giải phẫu xương sọ và âm thanh đã phân họ vượn thành các giống Symphalangus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 50, giống Nomascus có bộ nhiễm sắc thể 2n = 52, giống Hoolock có 2n = 38 và giống Hylobates có 2n = 44, (Hình 1.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.ton 11 Symphalangus syndactylus Nomascus leucogenys Vượn mực trưởng thành, chụp ngày Vượn đen má trắng trưởng thành, chụp 19/3/2005 tại vườn thú Cincinnati, tháng 12/2012 tại vườn thú Denver, Cincinnati, Ohio, Hoa Kỳ, nguồn Denver, Colorado, Hoa Kỳ, nguồn Phil Myers (a) Tanya Dewey (b) Hoolock hoolock Hylobates lar Vượn mày trắng trưởng thành, chụp Vượn tay trắng, chụp năm 2002 tại năm 2006 tại Vường quốc gia vườn thú Vienna, Áo, Lawachara, Bangladesh, nguồn nguồn Eva Hejda (d) Sirajul Hossain (c) Hình 1. Đại diện 4 giống trong họ Vượn.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Một số đặc điểm của giống Nomascus 1.
Đặc điểm sinh học, sinh thái Kích thước cơ thể: Những cá thể vượn thuộc giống Nomascus có trọng lượng cơ thể từ 7 đến 12 kg (Nguyễn Xuân Đặng; Lê Xuân Cảnh, 2009). Đặc điểm hình thái: Có túm lông dựng đứng trên đỉnh đầu, ở con đực phát triển hơn tạo thành một cái mào, những con cái trưởng thành có đám lông đen trên đầu tương phản với phần lông màu nhạt ở xung quanh. Vượn đực và cái có đặc điểm hình thái khác biệt rõ ràng, thể hiện rõ ở những cá thể trưởng thành: con đực thường có màu lông đen (có hoặc không có các mảng lông má màu sáng), cá thể cái có lông màu vàng nhạt hoặc màu vàng da cam, thường có mảng lông chẩm màu đen, có hoặc không có đám lông bụng màu tối. Màu sắc bộ lông của các loài vượn cũng thay đổi theo quá trình phát triển.
Con non mới sinh, cả con đực và cái đều có màu vàng sáng, gần giống với màu lông của vượn cái trưởng thành. Đến một năm tuổi hoặc sang năm tuổi thứ 2, bộ lông chuyển sang màu đen giống lông của vượn đực trưởng thành. Riêng vượn cái mang bộ lông đen cho đến khi chuẩn bị trường thành sinh dục (5-8 tuổi) mới đổi sang màu vàng đặc trưng của vượn cái trưởng thành (Nguyễn Xuân Đặng; Lê Xuân Cảnh, 2009); (Phạm Nhật, 2002) Tiếng hót: Tất cả các loài vượn đều phát ra tiếng hót rất lớn vào buổi sáng sớm. Tiếng hót của vượn đực khác vượn cái.
Ở hầu hết các loài, mỗi cặp đực và cái thường phối hợp tiếng hót với nhau, con đực thường hót trước và con cái theo sau. Chức năng tiếng hót chủ yếu là tuyên bố vùng lãnh thổ của đàn. Ngoài ra, tiếng hót còn giúp thu hút bạn tình và duy trì mối quan hệ vợ chồng, gia đình (Nguyễn Xuân Đặng; Lê Xuân Cảnh, 2009). Trong điều tra vượn, người điều tra ghi nhận vị trí đàn vượn và số lượng đàn vượn dựa vào tiếng hót mà chúng phát ra.
Phân loại các loài vượn thuộc giống Nomascus Theo Phạm Nhật (2002) và Groves (2001) ở Việt Nam có 5 loài vượn (LUAN.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.ton 13 thuộc giống Nomascus, gồm: 1. Vượn đen tuyền Nomascus concolor 2. Vượn cao vít Nomascus nasutus 3. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 4.
Vượn siki Nomascus siki 5. Vượn má hung Nomascus gabriellae Tuy nhiên, bằng các phân tích về di truyền và âm sinh học, (Van Ngoc Thinh et al, 2010) đã tách Vượn má hung (Vượn má vàng hay Vượn đen má vàng) thành 2 loài riêng biệt là Vượn má vàng phía bắc hay Vượn má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) và Vượn má vàng phía nam (Nomascus gabriellae). Các tác giả đã kết luận có 6 loài thuộc giống Nomascus, bao gồm: 1. Vượn đen tuyền Nomascus concolor 2.
Vượn cao vít Nomascus nasutus 3. Vượn đen má trắng Nomascus leucogenys 4. Vượn siki Nomascus siki 5. Vượn má vàng trung bộ Nomascus annamensis 6.
Vượn má vàng phía nam Nomascus gabriellae 1. Vùng phân bố của giống Nomascus Các loài vượn thuộc giống Nomascus là các loài đặc hữu của vùng Đông Dương và vùng lân cận. Cụ thể, khu vực phân bố của các loài trong giống Nomascus bao gồm Việt Nam, Lào, phía Đông Campuchia và Tây - Nam Trung Quốc (tỉnh Vân Nam và đảo Hải Nam). Ở Việt Nam, 06 loài vượn đều thuộc giống Vượn mào (Nomascus).
Tuy nhiên, các khu vực phân bố hiện nay đã bị chia cắt mạnh thành những mảnh rừng biệt lập, rất nhiều quần thể chỉ còn rất ít cá thể và không có ý nghĩa cao về mặt bảo tồn. Phân bố của 6 loài này trải dài từ Bắc vào Nam cụ thể: Vượn cao vít (LUAN.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.ton 14 (Nomascus nasutus) phân bố tại khu vực Bắc và Đông Bắc Bộ về phía tả ngạn Sông Hồng; Vượn đen tuyền (Nomascus concolor) phân bố tại khu vực Tây Bắc nằm giữa hữu ngạn sông Hồng và tả ngạn sông Đà; Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) phân bố tại khu vực Tây Bắc và Bắc Trung Bộ từ tả ngạn sông Đà đến phía bắc sông Rào Nậy (thượng nguồn sông Gianh); Vượn siki (Nomascus siki) phân bố từ phía nam sông Rào Nậy đến phía bắc sông Thạch Hãn; Vượn đen má vàng trung bộ (Nomascus annamensis) phân bố từ phía nam sông Thạch Hãn đến phía bắc sông Ba và sông Srepok; Vượn má vàng phía Nam (Nomascus gabriellae) phân bố từ phía nam sông Ba, sông Srepok đến phía bắc sông Tiền. Phân bố của các loài vượn thuộc giống Nomascus (Van Ngoc Thinh et al, 2010) (LUAN.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Tình trạng bảo tồn của các loài vượn thuộc giống Nomascus ở Việt Nam Theo IUCN (2021) 06 loài vượn tại Việt Nam đều được xếp hạng ưu tiên bảo tồn rất cao, trong đó 04 loài được xếp hạng CR (Rất nguy cấp), 02 loài được xếp hạng EN (Nguy cấp); Theo Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2007), 6 loài vượn đều được xếp hạng bảo tồn EN (Nguy cấp); Theo CITES (2018) cả 6 loài vượn đều thuộc phụ lục I; Theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2019/NĐ-CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp cả 6 loài vượn đều thuộc nhóm IB, như vậy tất cả 06 loài vượn tại Việt Nam đều trong tình trạng cần được quan tâm và bảo tồn rất cao, chi tiết tại bảng 1.
Tình trạng bảo tồn các loài vượn tại Việt Nam Tình trạng bảo tồn Tên phổ Tên khoa TT NĐ thông học IUCN SĐVN CITES 84/2021 Vượn đen Nomascus 1 CR EN Phụ lục I Nhóm IB tuyền concolor Nomascus 2 Vượn cao vít CR EN Phụ lục I Nhóm IB nasutus Vượn đen má Nomascus 3 CR EN Phụ lục I Nhóm IB trắng leucogenys Nomascus 4 Vượn siki CR EN Phụ lục I Nhóm IB siki Vượn má Nomascus 5 EN EN Phụ lục I Nhóm IB vàng trung bộ annamensis Vượn má Nomascus 6 vàng phía EN EN Phụ lục I Nhóm IB gabriellae nam Ghi chú: CR: Rất nguy cấp; EN: Nguy cấp (LUAN.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail. Cấu trúc đàn của các loài vượn mào Đối với các loài vượn thuộc giống Nomascus, kiểu cấu trúc đàn theo gia đình 01 đực 01 cái và có thể có con non đã được nhiều tác giả ghi nhận, ví dụ như đối với loài Vượn đen má trắng (Ruppell, 2013). Với loài Vượn đen má vàng, Kenyon et al, (2011) cũng đã ghi nhận đa số đàn có 01 đực, 01 cái và các các thể chưa trưởng thành, tuy nhiên bên cạnh đó có những đàn có 01 cá thể đực và 02 cá thể cái. Gần đây, (Barca et al, 2016) đã chính thức xác nhận có kiểu cấu trúc đàn gồm 01 đực và 02 cái khi quan sát được 02 cá thể cái đang mang theo con non ngoài thực địa.
Như vậy, cấu trúc đàn vượn thuộc giống Nomascus khá thay đổi và có thể có nhiều dạng khác nhau. Một số đặc điểm của loài Nomascus leucogenys 1. Một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái của Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys) Theo Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998) Vượn đen má trắng nặng từ 6-10 kg, dài thân 530-600 mm, tay dài hơn thân, không có đuôi. Con đực có bộ lông đen, đám lông trắng ở má mọc tua ra xung quanh và rộng vượt lên trên chỏm vành tai.
Con cái màu vàng nâu, đậm ở vai, nhạt ở bụng, đám lông đen trên đầu rộng, bụng không có lông đen. Cá thể đực Vượn đen má trắng Cá thể cái Vượn đen má trắng trưởng thành trưởng thành Nguồn: Grendelkhan (2007) (a) Nguồn: Aflo (2018) (b) Hình 1. Vượn đen má trắng trưởng thành (LUAN.ton luan an tien si TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.ton 17 Theo Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998) Vượn đen má trắng chỉ sống trong các khu rừng lá rộng thường xanh, nhiều cây gỗ lớn. Sống thành đàn 2-4 con, hoạt động kiếm ăn ban ngày, tối ngủ trên các cây lớn.
Vượn đen má trắng trưởng thành sinh dục sau 4 - 4,5 năm tuổi.