Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. VAI TRÒ CÁC KBTTN TRONG BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC Thiên nhiên Việt Nam rất giàu về đa dạng sinh học. Hiện nay, hệ thực vật đã thống kê được 11.178 loài có mạch bậc cao (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997).300 loài đã được nhân dân ta sử dụng làm lương thực, thực phẩm và nhiều công dụng khác. Hệ thực vật Việt Nam có tính đặc hữu cao (Thái Văn Trừng, 1970).
Nhiều loài thực vật mới đang còn được thống kê, mô tả. Những năm gần đây có thêm nhiều loài thực vật mới được phát hiện trong đó đáng chú ý là các loài lan quý trong đó có một loài đã từng bị coi là tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Hệ động vật Việt Nam rất phong phú, các nhà động vật học đã thống kế được 322 loài và phân loài thú, 828 loài chim, 458 loài bò sát, 162 loài ếch nhái, 547 loài cá nước ngọt, 2.000 loài côn trùng và hàng chục ngàn loài động vật không xương sống (Nguyễn Xuân Đặng và cs., 2009; Võ Quý, 1997; Nguyễn Văn Sáng và cs. Số dạng đặc hữu cũng rất phong phú với hơn 100 loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú.
Rất nhiều loài có giá trị thực tiễn cao và ý nghĩa bảo tồn lớn. Cũng như thực vật, nhiều loài động vật vẫn đang tiếp tục được thống kê và mô tả mới cho Việt Nam và cho khoa học. Việt Nam rất đa dạng các hệ sinh thái, bao gồm nhiều kiểu rừng khác nhau từ kiểu rừng kín thường xanh đến kiểu rừng kín rụng lá ở các độ cao khác nhau và lập địa khác nhau. Tất cả đều giàu các loại động thực vật sinh sống.
c 4 Tuy nhiên do sự tàn phá của chiến tranh và việc khai thác sử dụng không hợp lý trong hiều thập kỷ qua mà tài nguyên đa dạng sinh học của Việt Nam đã và đang bị giảm sút nghiêm trọng. Diện tích rừng suy giảm, một số loài động vật đã bị diệt vong. Nhiều loài động thực vật khác có nguy cơ bị tuyệt chủng. Sách Đỏ Việt Nam (2007) đã thống kế tới 882 loài 418 loài động vật và 464 loài thực vật của nước ta đang đứng trước nguy cơ diệt vong.
Tài nguyên đa dạng sinh học cần được bảo vệ để đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày nay cúng như cho các thế hệ mai sau. Có 2 phương thức bảo tồn chính là: Bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ). Bảo tồn tại chỗ bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các quần thể và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tượng bảo tồn mà các hành động và cách thức quản lý thay đổi.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với từng điều kiện tự nhiên riêng có của khu vực ấy. Công ước Đa dạng sinh học (1992) mà Việt Nam là một thành viên đã xác nhận rằng thiết lập và quản lý hiệu quả hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên (trong đó có các RĐD) có hình thức bảo tồn đa dạng sinh học hữu hiệu nhất hiện nay và kêu gọi các nước thành viên của công ước phải thành lập hệ thống các khu bảo tồn thiên ở mỗi nước và thực hiện các biện pháp quản lý chúng một cách hiệu quả. Ở Việt Nam, khu RĐD đầu tiên của Việt Nam được thành lập ở Cúc Phương tỉnh Ninh Bình (Rừng cấm Cúc Phương, nay là VQG Cúc Phương) vào năm 1962. Cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn ĐDSH đã được đảng và nhà nước ta rất chú trọng.
Cho đến năm 2008, hệ thống KBTTN của Việt Nam đã bao gồm 125 khu, chiếm diện tích trên 2.5 triệu ha, chiếm gần 7.5% diện tích cả nước. TÌNH TRẠNG BẢO TỒN THÚ HOANG DÃ Ở VIỆT NAM Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tầm quan trọng cao nhất trong việc bảo tồn các loài thú. Cho đến nay đã có khoảng 310 loài đã được phát hiện và mô tả trên toàn bộ lãnh thổ, cả trên đất liền và ngoài biển khơi. Đặc biệt, trong những năm 90 của thế kỷ 20, có 5 loài thú lớn tiếp tục được phát hiện gồm: Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), mang lớn (Muntiacus vuquangensis), mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis), thỏ vằn (Nesolagus timminsii) và chà vá chân xám (Pygathryx cinera) đã thu hút hiều sự quan tâm của cộng đồng khoa học đối với khu hệ thú của Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng như các loài sinh vật khác, số lượng quần thể của các loài thú hoang dã ở Việt Nam đã và đang bị suy giảm nghiêm trọng từ các hiểm họa săn bắt, buôn bán, tiêu thụ và phá hủy hay làm phân mảnh sinh cảnh sống của chúng. Mặc dù trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực ngăn cản làn sóng suy giảm các loài sinh vật, nhưng do nhận thức của đại bộ phận công chúng về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc bảo tồn các loài còn hạn chế, làm cho công việc của các cơ quan chức năng và những nhà bảo tồn còn gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, việc thực thi luật pháp còn chưa hiệu quả do việc thiếu những công cụ và tư liệu cần thiết cho việc nhận dạng chính xác các loài để có những quyết định đúng đắn có lợi cho việc bảo tồn. Hiện nay, khu hệ thú Việt Nam có: + 94 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); + 88 loài có tên trong danh lục đỏ IUCN (2009); + 62 loài có tên trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
Công tác bảo tồn động vật hoang dã nói chung và thú nói riêng là một thách thức rất lớn. Mặc dù có tới 128 khu RĐD đã được thành lập, nhưng chưa được quản lý hiệu quả, chưa kết hợp giữa bảo tồn và phát triển. Các khu bảo tồn chưa thể hiện sự đóng góp cho nền kinh tế và cải thiện cuộc sống của c 6 cộng đồng trong vùng vành đai. Chính vì vậy, việc săn bắt, buôn bán trái phép động, thực vật hoang dã chưa thể ngăn chặn triệt để.
Các loài quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng. Mặc dù nhiều quy định về bảo tồn động, thực vật hoang dã đã được thể hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, nhưng thực tế thì việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý nhà nước cũng như việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật vẫn còn chậm. Nhiều nơi trong chỉ đạo, điều hành chỉ chú trọng tới các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế mà coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt là việc bảo vệ các động vật hoang dã. Thậm chí, có nơi còn có biểu hiện buông lỏng quản lý nhà nước.
Điều này khiến cho công tác bảo vệ môi trường và động vật hoang dã gặp những thách thức lớn cho cả trước mắt và lâu dài. Theo báo cáo của Cục cảnh sát môi trường thì tính riêng trong năm 2008, có 15 vụ mua bán trái phép động, thực vật hoang dã bị phát hiện, trong đó, vụ buôn bán, vận chuyển động vật hoang dã với số lượng lớn nhất từ trước tới nay bị phát hiện tại Quảng Ninh có tổng giá trị lô hàng lên tới trên 70. Ước tính, số lượng động, thực vật hoang dã cung cấp cho thị trường Việt Nam khoảng 3. c 7 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Xác định thành phần loài và các loài có giá trị bảo tồn cao của khu hệ thú ở KBTTN Hữu Liên; - Xác định các nhân tố đe doạ đối với khu hệ thú tại KBTN Hữu Liên; - Đề xuất các giải pháp để quản lý có hiệu quả tài nguyên thú nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung tại KBTTN Hữu Liên. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2. Khu hệ thú (Mammalia) tại KBTTN Hữu Liên; 2. Cộng đồng dân cư xã Hữu Liên, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn và những hoạt động có liên quan đến lớp thú trong khu vực.
Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ở KBTTN Hữu Liên 2. Điều kiện tự nhiên a) Vị trí địa lý Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Hữu Liên tỉnh Lạng Sơn bao gồm toàn bộ ranh giới tự nhiên của xã Hữu Liên và một phần ranh giới xã Yên Thịnh và Hoà Bình của huyện Hữu Lũng, một phần xã Vạn Linh huyện Chi Lăng và một phần xã Hữu Lễ huyện Văn Quan tỉnh Lạng Sơn. KBTTN Hữu Liên nằm ở phía tây nam tỉnh Lạng Sơn, phía bắc huyện Hữu Lũng, toạ độ địa lý: - Từ 63060' đến 64090' kinh độ đông; - Từ 24007' đến 23092' vĩ độ bắc; - Phía bắc giáp xã Trấn Yên huyện Bắc Sơn; - Phía Nam giáp xã Yên Thịnh huyện Hữu Lũng; c 8 - Phía Đông giáp xã Vạn Linh huyện Chi Lăng; - Phía Tây giáp xã Hoà bình huyện Hữu Lũng và xã Nhất Tiến huyện Bắc Sơn, xã Hữu Lễ huyện Chi Lăng. b) Địa hình KBTTN Hữu Liên nằm trên khu vực núi đá vôi với độ cao trung bình 300m so với mực nước biển, có nhiều đỉnh cao trên 500m cao nhất là đỉnh kheng cao 639m.
Độ cao tuyệt đối trung bình cho toàn khu vực là 300m. Độ cao tương đối trung bình nằm trong khoảng 100m -150m. Độ dốc bình quân 350 - 500 có nhiều vách núi dốc dựng đứng. Khu vực có địa hình tương đối hiểm trở, hiện tượng Karst diễn ra mạnh thể hiện ở việc trong KBTTN có rất nhiều suối cụt, suối ngầm và các hang động.
Địa hình toàn khu vực có hình dạng như một lòng chảo, bao bọc xung quanh bởi các đỉnh và các dãy núi đá vôi, xen kẽ có các núi đất. Trung tâm của khu bảo tồn là một khu vực núi đất với độ dốc thấp. Đây là khu vực núi đá vôi chiếm ưu thế do đó địa hình gồ ghề độ dốc cao, nhiều chỗ bề mặt lởm chởm. Đất thường có diện tích hẹp và thường xen với đá.
Càng lên cao tỷ lệ đất càng ít và ngược lại. Đất trên núi đá vôi thường có thành phần cơ giới nặng từ loại thịt nhẹ đến trung bình, tầng đất mỏng thường không có cấu trúc tầng thứ rõ rệt trong mặt cắt vì chủ yếu đất hình thành do quá trình tích tụ vật chất. c) Khí tượng - Thuỷ văn Theo số liệu thu thập được từ trạm khí tượng thuỷ văn Hữu Lũng chúng tôi đã tiến hành tổng hợp được kết quả như sau: - Nhiệt độ: Khu vực nghiên cứu có nhiệt độ bình quân hàng năm là 22,70C.