CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Theo Nguyễn Văn Thiện, Nguyễn Khánh Quắc (1997) [45]: Tổ tiên xa xưa của tất cả các loài vật nuôi hiện nay đều là các động vật hoang dã được con người thuần hoá, chọn lọc và nhân giống mà thành. Đặc điểm của một giống thường được xác định qua 3 tính trạng: - Tính trạng hình thái học hoặc ngoại hình: màu sắc lông da, hình dạng đầu, sừng. - Tính trạng sinh lý và năng suất: đó là các tính trạng phản ánh khả năng sản xuất của con vật như khả năng sinh sản, sinh trưởng và cho thịt.
- Tính trạng sinh vật học và bệnh học như nhóm máu, các gen chống đỡ bệnh tật. Nguồn gốc và sự thuần hóa giống lợn Theo Trần văn Phùng và cs (2004) [31]: Nguồn gốc lợn nhà hiện nay là do lợn rừng tiến hoá mà thành và bắt nguồn từ hai nhóm lợn rừng hoang dại, đó là lợn rừng Châu Âu (Sus scrofa ferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus, Sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành. Theo Nguyễn Thiện và cs (2005) [47] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ nhất là thân hình bé hẳn đi, nên các loại lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ.
Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, mãi về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về hình dáng, cao chân, móng phát triển. Vào thế kỷ 20, ở Việt Nam chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản từ nhiều nơi trên thế giới trong từng thời kỳ khác nhau. Ở Miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Bershire, Yorkshire, Large white, Landrace. Miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân Kim, Tân Cương.
từ Trung Quốc. Sau đó, vào những năm 70 - 80 toàn quốc đã nhập các n 5 giống có tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Large white. và vài chục năm trở lại đây các dòng Hybrid, các tổ hợp siêu nạc từ các nước Đông Âu, Tây Âu, Mỹ. để phát triển lợn lai các loại.
Các giống lợn lai cao sản thường được dùng để cho lai với các giống lợn địa phương như: Đại Bạch x Ỉ, Landrace x Móng Cái, Yorkshire x Ba Xuyên. hoặc để pha máu với các dòng lợn cao sản khác. Đặc điểm sinh học của loài lợn Lợn là một loài gia súc có nhiều đặc điểm quý phù hợp với nhu cầu của con người, tuy nhiên phải tạo ra những điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý thì những đặc điểm quý ấy mới có thể phát huy tốt nhất. Muốn vậy, chúng ta phải hiểu biết sâu sắc các đặc điểm sinh vật học của lợn, để khai thác ứng dụng trong sản xuất cho có hiệu quả.
Đặc điểm về di truyền Theo Trần Văn Phùng và cs (2004)[31] cho biết hệ số di truyền đối với một số tính trạng quan trọng của lợn như sau: - Số con đẻ ra 0,10 - 0,15 - Khối lượng sơ sinh 0,15 - 0,20 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 0,35 - 0,45 - Dài thân thịt 0,45 - 0,50 - Tỷ lệ thịt xẻ 0,55 - 0,60 - Tuổi thành thục về tính 0,30 - 0,40 Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc nhiều vào môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn. Vì thế, trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất lượng tốt, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật. Đặc điểm về cấu tạo hệ tiêu hoá và sinh lý tiêu hoá Lợn là loài gia súc có dạ dày thuộc loại trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép, bao gồm 5 phần: dạ dày đơn vùng thực quản (nhỏ), vùng manh nang, vùng thượng vị, vùng thân vị và vùng hạ vị. Theo Nguyễn Thiện (1998) [43] ruột non của lợn dài gấp 14 lần chiều dài cơ thể bao gồm 3 phần: phần tá tràng, không tràng và hồi tràng.
Ruột già dài khoảng 4 - 5m gồm 3 phần: manh tràng, kết tràng và trực tràng. Dựa vào các đặc điểm sinh học của hệ tiêu hoá nói trên chúng ta có thể nghiên cứu phối hợp khẩu phần ăn cho phù hợp với hệ tiêu hoá của lợn nhằm nâng cao năng suất trong chăn nuôi lợn. Lợn là loài gia súc có khả năng sinh trưởng, năng suất thịt cao và chất lượng thịt mỡ tốt Lợn là loài gia súc có khả năng thành thục sớm, nhất là các giống lợn nội của Việt Nam, do quá trình chọn lọc, nuôi dưỡng, tập quán chăn nuôi và ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, khí hậu nhiệt đới. Lợn đực 40 - 50 ngày tuổi đã có biểu hiện động dục và có khả năng giao phối, cơ quan sinh sản có khả năng sản sinh ra tinh trùng.
Lợn cái 3 - 4 tháng tuổi đã biểu hiện động dục. Như vậy, nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn nội thành thục rất sớm. Lợn không những có khả năng sản xuất thịt cao mà phẩm chất thịt cũng tốt. Thịt lợn có năng lượng trong 1 kg thịt cao đạt tới 2680 Kcal/kg, trong khi đó 1 kg thịt bò có 1710 Kcal.
Trong thành phần dinh dưỡng của thịt lợn, protein chiếm tỷ lệ tương đối cao. Protein của thịt lợn có chứa tất cả các axít min cần thiết cho cơ thể con người. Thành phần lipit trong thịt vừa làm cho thịt có giá trị năng lượng cao hơn vừa tăng mùi vị thơm ngon của thịt. So với thịt của một số loài gia súc khác, thịt lợn có hàm lượng protein tương đương (đạt 19% trong thịt nạc).
Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn Sinh sản là một chức năng trọng yếu của sự sống. Đó là quá trình sinh học rất phức tạp và tinh tế, đáp ứng cho sự sinh sôi nảy nở của động vật. n 7 Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng. Trong chăn nuôi người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ.
Nhất là các giống lợn nội, con đực 30 ngày tuổi có phản xạ nhảy, 40 ngày tuổi đã có thể có tinh trùng non, 50 - 60 ngày tuổi cho phối thì con cái đã có thể có chửa. Lợn cái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục. Như vậy, nếu đem so sánh với các giống lợn khác trên thế giới thì lợn nội thành thục rất sớm. Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa.
Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn Mục đích cuối cùng của người chăn nuôi là hiệu quả kinh tế. Để xây dựng được những khẩu phần ăn tiêu chuẩn cho lợn ở từng giai đoạn sinh trưởng khác nhau, phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của con vật, ta cần nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng của lợn, từ đó có cơ sở khoa học để tác động vào quá trình sinh trưởng của chúng nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất 1. Sự phát triển của lợn Sự thay đổi ở một cá thể từ khi còn là hợp tử đến giai đoạn già cỗi được gọi là sự phát triển của gia súc, gia cầm. Quá trình phát triển bao gồm hai mặt có liên quan chặt chẽ với nhau đó là: sinh trưởng và phát dục.
Theo Trần Đình Miên và cs (1974) [28] sinh trưởng là một quá trình tích luỹ các chất hữu cơ do đồng hoá và dị hoá, là sự tăng về chiều dài, bề ngang, khối lượng của các cơ quan bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước. Sinh trưởng mang tính chất giai đoạn, biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Khi nói đến sự sinh trưởng là nói đến sự phát dục vì 2 quá trình này là đồng thời diễn ra trong cơ thể sinh vật, nếu như sinh trưởng là sự tích luỹ về lượng thì phát dục là sự tích luỹ về chất. n 8 Phát dục diễn ra trong quá trình thay đổi về cấu tạo, chức năng, hình thái, kích thước các bộ phận cơ thể.
Phát dục của cơ thể con vật là quá trình phức tạp trải qua nhiều giai đoạn từ khi trứng rụng tới khi trưởng thành. Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng */ Tốc độ sinh trưởng Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [31]: Tốc độ sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi lợn thịt. Tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ góp phần giảm tiêu tốn thức ăn trên 1 kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt nạc trong thịt xẻ, giảm chi phí trong chăn nuôi… Khả năng sinh trưởng được tính theo gam/ngày hay kg/tháng. Khả năng tăng khối lượng g/ngày tính theo công thức sau: KL lúc kết thúc (g) - KL lúc bắt đầu nuôi (g) Tăng khối lượng (g/ngày) = Số ngày nuôi Các chỉ tiêu sinh trưởng thường dùng khi nghiên cứu khả năng sinh trưởng của vật nuôi là: - Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận cơ thể tại các thời điểm khảo sát.
Biểu thị sinh trưởng của gia súc tại một thời điểm nào đó, chính là kết quả sinh trưởng tích lũy tại thời điểm nghiên cứu. - Sinh trưởng tuyệt đối (A): Là khối lượng, kích thước, thể tích của toàn bộ cơ thể hoặc của từng bộ phận của cơ thể được tăng lên trong một đơn vị thời gian (tháng, tuần, ngày). - Sinh trưởng tương đối (R): Là phần khối lượng, kích thước, thể tích của cơ thể hoặc từng bộ phận cơ thể tại thời điểm sinh trưởng sau tăng lên so với thời điểm sinh trưởng trước. Độ sinh trưởng tương đối được tính bằng số phần trăm.
*/ Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng Tiêu tốn thức ăn trên 1kg tăng khối lượng là một chỉ tiêu kinh tế quan trọng, cùng với chỉ tiêu về tốc độ sinh trưởng của lợn quyết định sự thành công hay thất bại của một cơ sở chăn nuôi.