Nghiên Cứu Thành Phần Nhóm Sâu Miệng Nhai Gây Hại Trên Cam Quýt Tại Cao Phong, Hòa Bình

Nghiên cứu về sâu miệng nhai hại cam quýt, đặc điểm sinh học và biện pháp phòng trừ bướm phượng vàng Papilio demoleus tại Cao Phong, Hòa Bình.

Chuyên ngành

Bảo vệ thực vật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ nông nghiệp

2011

107
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TÊN VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

1. Mục đích và yêu cầu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

3. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. TÌNH HÌNH CANH TÁC VÀ SỬ DỤNG THUỐC BVTV TẠI CAO PHONG - HÒA BÌNH. THÀNH PHẦN CÁC LOÀI SÂU MIỆNG NHAI ĂN LÁ VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOÀI SÂU ĂN LÁ CÓ MỨC ĐỘ PHỔ BIẾN TẠI CAO PHONG, HÒA BÌNH. NHÓM BƯỚM PHƯỢNG HẠI CAM QUÝT TẠI CAO PHONG, HÒA BÌNH

5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu sâu miệng nhai gây hại trên cam quýt tại Cao Phong

Nghiên cứu về sâu miệng nhai gây hại trên cam quýt tại Cao Phong, Hòa Bình là một vấn đề quan trọng trong nông nghiệp hiện nay. Cam quýt là loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều loại sâu bệnh. Việc tìm hiểu về thành phần và tác hại của các loài sâu này sẽ giúp nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

1.1. Tình hình sản xuất cam quýt tại Cao Phong

Cao Phong, Hòa Bình là vùng trồng cam quýt nổi tiếng với diện tích ngày càng tăng. Theo số liệu thống kê, diện tích cây có múi tại đây đã tăng từ 352,09 ha năm 2007 lên 592 ha năm 2010. Sản lượng cam quýt cũng đạt gần 9.000 tấn vào năm 2009.

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu sâu miệng nhai

Nghiên cứu này không chỉ giúp xác định thành phần sâu hại mà còn cung cấp thông tin về mối quan hệ cạnh tranh giữa các loài sâu ăn lá. Điều này có thể giúp nông dân áp dụng các biện pháp bảo vệ cây trồng hiệu quả hơn.

II. Vấn đề và thách thức trong việc bảo vệ cam quýt khỏi sâu hại

Sự gia tăng diện tích trồng cam quýt tại Cao Phong cũng đồng nghĩa với việc gia tăng áp lực từ sâu miệng nhai. Các loài sâu như bướm phượng vàng (Papilio demoleus) đã gây ra thiệt hại lớn cho cây trồng. Việc nhận diện và đánh giá mức độ gây hại của chúng là rất cần thiết.

2.1. Tác hại của sâu miệng nhai trên cam quýt

Các loài sâu ăn lá như bướm phượng vàng không chỉ làm giảm năng suất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng quả. Sự tấn công của chúng có thể dẫn đến việc cây không phát triển tốt, từ đó giảm sản lượng.

2.2. Thách thức trong việc phòng trừ sâu hại

Việc phòng trừ sâu hại trên cam quýt gặp nhiều khó khăn do sự đa dạng của các loài sâu và sự kháng thuốc của chúng. Nông dân cần có những biện pháp hiệu quả và bền vững để bảo vệ cây trồng.

III. Phương pháp nghiên cứu sâu miệng nhai trên cam quýt

Nghiên cứu này áp dụng các phương pháp điều tra thực địa để xác định thành phần và mật độ của sâu miệng nhai. Các mẫu sâu được thu thập và phân tích để đánh giá mức độ gây hại và đặc điểm sinh học của chúng.

3.1. Phương pháp điều tra và thu thập mẫu

Các mẫu sâu được thu thập từ các vườn cam quýt tại Cao Phong. Việc điều tra diễn ra trong nhiều thời điểm khác nhau để có cái nhìn tổng quát về sự biến động của sâu hại.

3.2. Phân tích đặc điểm sinh học của sâu

Đặc điểm sinh học của các loài sâu được nghiên cứu để hiểu rõ hơn về vòng đời và hành vi của chúng. Điều này giúp xác định thời điểm tấn công và biện pháp phòng trừ hiệu quả.

IV. Kết quả nghiên cứu về sâu miệng nhai trên cam quýt

Kết quả nghiên cứu cho thấy có nhiều loài sâu miệng nhai gây hại trên cam quýt tại Cao Phong. Đặc biệt, bướm phượng vàng là loài gây hại phổ biến nhất, với mật độ cao trong mùa vụ.

4.1. Thành phần loài sâu hại trên cam quýt

Nghiên cứu xác định được nhiều loài sâu hại khác nhau, trong đó bướm phượng vàng chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

4.2. Mối quan hệ cạnh tranh giữa các loài sâu

Mối quan hệ cạnh tranh giữa các loài sâu ăn lá cũng được nghiên cứu. Sự cạnh tranh này có thể ảnh hưởng đến mức độ gây hại của từng loài trên cây cam quýt.

V. Biện pháp phòng trừ sâu miệng nhai hiệu quả

Để bảo vệ cây cam quýt khỏi sâu miệng nhai, cần áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả. Các biện pháp này bao gồm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, biện pháp sinh học và canh tác hợp lý.

5.1. Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần được thực hiện đúng cách để đảm bảo hiệu quả và an toàn cho môi trường. Nông dân cần lựa chọn loại thuốc phù hợp với từng loại sâu hại.

5.2. Biện pháp sinh học trong phòng trừ sâu

Biện pháp sinh học như sử dụng thiên địch cũng là một giải pháp hiệu quả. Việc này không chỉ giúp kiểm soát sâu hại mà còn bảo vệ hệ sinh thái.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai trong nghiên cứu sâu hại

Nghiên cứu về sâu miệng nhai trên cam quýt tại Cao Phong đã chỉ ra nhiều vấn đề cần giải quyết. Việc áp dụng các biện pháp phòng trừ hiệu quả sẽ giúp bảo vệ cây trồng và nâng cao năng suất.

6.1. Tương lai của nghiên cứu sâu hại

Nghiên cứu sâu hại cần tiếp tục được thực hiện để cập nhật thông tin mới và phát triển các biện pháp phòng trừ hiệu quả hơn. Điều này sẽ giúp nông dân có thêm kiến thức trong việc bảo vệ cây trồng.

6.2. Đề xuất các biện pháp bảo vệ cây trồng

Cần có các chương trình đào tạo cho nông dân về biện pháp phòng trừ sâu hại. Việc này sẽ giúp nâng cao nhận thức và khả năng ứng phó với sâu bệnh trong sản xuất nông nghiệp.

16/06/2025
Nghiên cứu thành phần nhóm sâu miệng nhai ăn lá gây hại trên cam quýt đặc điểm sinh học sinh thái và biện pháp phòng trừ bướm phượng vàng papilo demoleus linnaeus tại cao phong hòa bình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, nghề trồng cây ăn quả trên thế giới cũng như Việt Nam đã phát triển không ngừng. Và cây ăn quả có múi trở thành loại quả quan trọng, có sản lượng cao nhất trong tổng số các loài cây ăn quả trên thế giới (theo FAO, 1991) [9]. Năm 2002, tổng sản lượng cây có múi đạt 103.516 triệu tấn (FAO, 2002) chiếm khoảng 20% tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới. Cây ăn quả có múi mang lại giá trị dinh dưỡng cao và được nhiều người ưa chuộng.

Trong thành phần thịt quả có chứa 6 - 12% đường (chủ yếu là đường Saccaroza), hàm lượng vitamin C có từ 40 - 90 mg/100g quả tươi và các axit hữu cơ từ 0,4 - 1,2% trong đó có nhiều chất có hoạt tính sinh học cao cùng với các chất khoáng và dầu thơm (Hoàng Ngọc Thuận 2005, [17]). Do có giá trị kinh tế cao nên diện tích cây ăn quả ngày càng gia tăng, ở nước ta diện tích tăng từ 426. Trong các loại cây ăn quả được trồng phổ biến thì nhóm cây có múi Citrus (Cam, quýt, chanh và bưởi) chiếm một diện tích rất lớn 73.394 ha, chỉ tính riêng khu vực miền Bắc Việt Nam trong năm 2009, diện tích của nhóm Citrus đã chiếm đến 25.485 ha với năng suất bình quân 84,3 tạ/ha [15]. Huyện Cao Phong tỉnh Hoà Bình, có điều kiện đất đai phù hợp cho nhóm cây có múi (cam, quýt, chanh và bưởi) sinh trưởng và phát triển, vì vậy nhóm cây có múi được trồng phổ biến.

Đặc biệt ở huyện Cao Phong trong giai đoạn 2007- 2009, diện tích cây có múi tăng lên rõ rệt, tổng diện tích năm 2007 là 352,09 ha, năm 2008 là 386,07 ha, năm 2009 là 527 ha và năm 2010 là 592ha. Sản lượng năm 2009 gần 9.000 tấn so với năm 2007 [13]. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản lượng cây có múi phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu, người dân đã thâm canh để tăng diện tích. Chính điều này 1 cũng tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh mẽ và có diễn biến phức tạp.

Thành phần sâu bệnh hại ghi nhận được trên cây có múi rất phong phú và đa dạng. Theo Phạm Văn Lầm, 2005 [10] có 169 loài sâu hại thuộc 45 họ, 9 bộ côn trùng và nhện nhỏ gây hại trên cây có múi. Trong đó nhóm sâu hại ăn lá như: Câu cấu xanh lớn, câu cấu nhỏ; Bướm phượng đen; Bướm phượng vàng; Sâu vẽ bùa; Sâu cuốn lá… là nhóm gây hại lớn cho cây cam quýt. Nhằm mục đích góp phần tìm hiểu về các loài sâu hại thuộc nhóm ăn lá và trọng tâm là loài bướm phượng vàng trên cây có múi để tìm ra biện pháp phòng trừ hiệu quả, được sự phân công của Viện đào tạo sau đại học và Bộ môn Côn trùng trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu thành phần nhóm sâu miệng nhai ăn lá gây hại trên cam quýt, đặc điểm sinh học - sinh thái và biện pháp phòng trừ bướm phượng vàng (Papilo demoleus Linnaeus.) tại Cao Phong, Hòa Bình’’ 1.

Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích - Xác định thành phần nhóm sâu miệng nhai ăn lá hại trên cam quýt; - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của bướm phượng vàng (Papilio demoleus Linnaeus.) và các biện pháp phòng trừ sâu bướm phượng vàng tại huyện Cao Phong - Hòa Bình, từ đó vận dụng vào việc đề xuất biện pháp phòng chống bướm phượng vàng một cách có hiệu quả. Yêu cầu - Nắm được thành phần nhóm sâu miệng nhai ăn lá hại trên cam quýt năm 2010 tại Cao Phong - Hòa Bình. - Tìm hiểu mối quan hệ cạnh tranh thức ăn giữa các loài sâu ăn lá có mức độ gây hại phổ biến trên cam quýt.

- Đánh giá mức độ phổ biến và diễn biến mật độ của nhóm bướm phượng trên cam quýt tại Cao Phong - Hòa Bình. 2 - Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của bướm phượng vàng gây hại trên cam quýt. - Nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ sâu bướm phượng vàng Papilio demoleus Linnaeus. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.

- Cung cấp một số hiểu biết về thành phần, tình hình gây hại và nắm được mối quan hệ canh tranh thức ăn giữa các loài sâu ăn lá phổ biến trên hai giống cam Xã Đoài và cam Đường Canh tại Cao Phong – Hòa Bình. - Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học của loài bướm phượng vàng. - Đề xuất một số biện pháp phòng trừ bướm phượng vàng hiệu quả mà thân thiện với môi trường. - Những kết quả nghiên cứu giúp người dân nhận biết được các loài sâu ăn lá cũng như tình hình gây hại của chúng trên cây cam.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam quýt Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng các giống cam quýt được trồng hiện nay có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á (Trần Thế Tục (1980) [18] ; (1995).[19], Tanaca (1979) [45] đã vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của chi Ctrus từ phía đông Ấn Độ (chân dãy núi Hymalaya) qua Úc, miền Nam Trung Quốc, Nhật Bản. Theo Trần Thế Tục (1980) nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ 3. Bên cạnh đó một số tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) là ở Miền Nam Việt Nam[19].

Cam quýt được trồng phổ biến ở những vùng có khí hậu khá ôn hòa thuộc vùng á nhiệt đới hoặc vùng khí hậu ôn đới ven biển chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Các nước xuất khẩu cam quýt chủ yếu đó là: Tây Ban Nha, Israel, Maroc, Italia. Các giống cam quýt trên thị trường được ưa chuộng là: Washington, Navel, Valenxia Late của Maroc, Samouti của Isarel, Maltaises của Tunisia, và các giống quýt Địa trung hải như: Clemention, quýt Đỏ Danxy và Unshiu được rất nhiều người ưa chuộng [41], [48]. Năm 2002, tổng sản lượng cây có múi đạt 103.289,516 triệu tấn (FAO production year Book 2002) chiếm khoảng 20% tổng sản lượng cây ăn quả trên thế giới.

Cam là thứ quả tiêu thụ nhiều nhất chiếm 73% quả có múi, tập trung ở các nước có khí hậu á nhiệt đới ở các vĩ độ cao hơn 20-22 0 Nam và Bắc bán cầu, giới hạn phân bố từ 35 vĩ độ Nam và Bắc bán cầu, có khi lên tới 40 vĩ độ Nam và Bắc bán cầu [14]. Nước ta là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh cây có múi (trung tâm Đông Nam Á), khí hậu nhiệt đới thích hợp với nhiều loại cây trồng trong đó có các loại cây ăn quả có múi. Theo Tổng cục thống kê tính đến năm 2005 cả nước có 87.200 ha với sản lượng 606. Diện tích và sản lượng cây có múi tập trung ở Đồng bằng sông Cửu long.

Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu, Lê Thị Thu Hồng thì 4 năng suất cam chanh là 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh 88 tạ/ha; bưởi 74 tạ/ha; Tuy nhiên cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh 237 tạ/ha; chanh 128 tạ/ha; quýt 240 tạ/ha; bưởi 177 tạ/ha. Lãi suất đối với một ha trồng cam là 84,2 triệu đồng, quýt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu đồng, bưởi 21 triệu đồng. Đồng bằng sông Cửu long có sản lượng lớn nhất toàn quốc nhưng năng suất còn quá thấp so với năng suất của nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tạ/ha). Tuy nhiên cũng có năng suất điển hình như ở Phủ Quỳ đạt 400 - 500 tạ/ha [10], [17].

Tình hình nghiên cứu ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu về thành phần các loài sâu ăn lá Với điều kiện địa lý khí hậu thích hợp, cam quýt thường bị rất nhiều loài côn trùng gây hại nghiêm trọng ở hầu khắp các vùng nhiệt đới cũng như á nhiệt đới, thành phần sâu hại cam quýt cũng rất phong phú. Trong đó nhóm sâu ăn là là nhóm gây hại lớn. Tại Nhật Bản ghi nhận được 217 loài côn trùng thuộc 8 bộ, 54 họ (dẫn theo Trần Thị Bình, 2002) [1].

ở Floriada có tới 148 loài gây hại trên cây có múi (Phạm Văn Lầm, 2005) [12]. ở Đài Loan, phòng kiểm dịch đã thu thập được 167 loài chủ yếu là sâu vẽ bùa, rầy chổng cánh, rệp sáp, rệp muội và sâu đục cành… Thái Lan đã ghi nhận có 28 loài sâu hại trên cam quýt tập trung ở 15 họ thuộc 6 bộ, riêng bộ cánh vảy là các loài ăn lá thu thập được 15 loài (Trần Thị Bình, 2002) [1]. Các nước khác nhau cũng đã tiến hành điều tra sự có mặt và mức độ gây hại của các loài côn trùng ăn lá gây hại trên cam quýt. Malayxia đã điều tra và thu thập được 174 loài sâu hại thuộc 57 họ của 10 bộ côn trùng.

Tại Indonexia cũng phát hiện được 68 loài thuộc 32 họ tập trung ở 7 bộ và 2 loài nhện hại. Myanma có 20 loài gây hại trên cam quýt trong đó có 2 loài gây hại nghiêm trọng là ruồi đục quả (Bactrocera dosalis) và sâu xanh bướm phượng (Papilio demoleus) (Trần Thị Bình, 2002) [1]. F, 1998 [48] ghi nhận có 54 loài côn trùng và nhện gây hại phổ biến trên cam quýt, trong đó có 15 loài ăn lá, 1 loài dòi đục lá, 9 loài dòi đục quả, 5 loài đục thân và 24 loài chích hút. ở Australia có 131 loài côn trùng và nhện hại trên cam quýt, chúng thuộc 10 bộ và 38 họ.

Trong thành phần sâu hại của cây có múi có những loài sâu ăn lá gây hại nghiêm trọng như sâu vẽ bùa, câu cấu, sâu bướm phượng, sâu cuốn lá. Sâu vẽ bùa là một dịch hại nghiêm trọng ở hầu hết các vùng trồng cam quýt trên toàn thế giới (Josep Anton, et al. [36] sự gây hại của sâu vẽ bùa tập trung trên các lá non của các cây thuộc chi Citrus. Sâu non các tuổi đục bên dưới biểu bì của lá, tạo nên đường ngoằn ngoèo trên lá làm cho cây chậm phát triển ảnh hưởng đến năng suất của cây trồng [52].

Bất cứ nơi đâu có trồng cây thuộc họ cam quýt đều thấy bướm phượng vàng xuất hiện gây hại. Tình hình nghiên cứu về bướm phượng vàng và biện pháp phòng trừ * Lịch sử phát hiện và vùng phân bố của bướm phượng vàng Bướm phượng vàng Papilio demoleus Linnaeus thuộc họ Papilionidae, bộ cánh vẩy Lepidoptera. Lefroy, 1906, [37] cho biết tìm thấy sâu non bướm phượng vàng gây hại trên cam quýt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Sâu Miệng Nhai Gây Hại Trên Cam Quýt Tại Cao Phong, Hòa Bình" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của sâu miệng nhai đối với cây cam quýt, một loại cây trồng quan trọng tại khu vực Cao Phong, Hòa Bình. Nghiên cứu này không chỉ chỉ ra các loại sâu hại mà còn phân tích mức độ thiệt hại mà chúng gây ra, từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa và quản lý hiệu quả. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách bảo vệ cây trồng, giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

Để mở rộng kiến thức về các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khóa luận tốt nghiệp ảnh hưởng của liều lượng phân bón và mật độ cấy đến sinh trưởng và năng suất giống lúa dcg66 trong vụ xuân 2021 tại lạng giang bắc giang, nơi nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến sự phát triển của cây lúa. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng và phát triển của giống ngô lai ht119 vụ thu đông năm 2016 tại huyện đan phượng cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về cách quản lý dinh dưỡng cho cây trồng. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và phân bón đến sinh trưởng và bệnh vàng lá thối rễ cây ba kích tại thái nguyên, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cây trồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và áp dụng vào thực tiễn trồng trọt hiệu quả hơn.