ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là một nước nông nghiệp có lịch sử trồng lúa nước lâu đời và lúa gạo là nguồn lương thực chính của người dân. Từ một nước nghèo đói phải nhập khẩu lương thực, đến năm 1989 chúng ta đã bắt đầu xuất khẩu hạt gạo đầu tiên ra thế giới. Cho đến nay lúa gạo là một trong những cây trồng vô cùng quan trọng, góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên trong những năm gần đây, trước những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu mà trong đó Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất (IPCC, 2007).
Trong các ngành sản xuất, nông nghiệp đặc biệt ngành sản xuất lúa gạo là ngành chịu nhiều tác động nhất bởi các hiện tượng nắng nóng hạn hán kéo dài, rét đậm rét hại bất thường, nước biển xâm thực, sâu bệnh…, làm giảm năng suất, diện tích đất canh tác. Các số liệu thống kê cho thấy, hạn hán đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến canh tác lúa: Đợt hán hán kéo dài 9 tháng liền năm 2004-2005 đã gây tổn thất nhiều cho sản xuất nông lâm nghiệp ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, thiệt hại lên tới 1.700tỷ đồng; Vụ hè thu năm 2011 tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ diện tích cây trồng bị hán lên tới 47.250 ha không thể xuống giống. Các tỉnh bị hạn nặng gồm Quảng Nam 2.700ha, Bình Định 6.500ha, Phú Yên 741 ha, Ninh Thuận 607 ha, Bình Thuận 3.526ha, diện tích mất trắng là 300ha. Từ thực tiễn trên cho thấy, để ứng phó với các tác động tiêu cực của hạn hán do hiện tượng Elnino gây ra, giải pháp chọn tạo và sử dụng giống lúa chống chịu với điều kiện bất lợi của ngoại cảnh được xem là một trong những giải pháp hữu hiệu, tiết kiệm và ít bị chi phối bởi vấn đề kinh phí.
Tuy nhiên cùng với việc khí hậu biến đổi cũng sẽ dẫn tới sự thay đổi của các loài sinh vật gây hại, thay đổi vị trí vai trò gây hại thứ yếu thành loài gây hại chủ yếu, các loài có xu hướng phát triển mạnh hơn, vòng đời ngắn hơn… kết quả là có nhiều lứa sâu hại phát sinh, gây hại nghiêm trọng hơn trong một vụ gieo trồng. Trong các loài dịch hại trên lúa, những năm gần đây sâu cuốn lá được đánh giá là loài phát sinh gây hại mạnh ở các vùng trồng lúa chính trên cả nước. Theo báo cáo của Trung tâm Tin học và Thống kê, Bộ NN&PTNT, năm 2011 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dịch sâu cuốn trên lúa đông xuân vùng Đồng Bằng Bắc Bộ diện tích bị nhiễm gần 110.000 ha, trong đó diện tích bị nhiễm nặng khoảng 24. Tại vùng Duyên Hải Miền Trung sâu cuốn lá nhỏ tiếp tục phát sinh gây hại trên lúa xuân muộn tại các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa…diện tích lúa được phun thuốc phòng trừ lên đến gần 150.
Trong năm 2010, tại đồng bằng sông Cửu Long đã xảy ra dịch sâu cuốn lá nhỏ gây thiệt hại khoảng 400.000 ha lúa, khiến năng suất lúa giảm từ 30-70%. Với những lý do trình bày trên, để có được những dẫn liệu về thành phần sâu hại và đánh giá tác hại của sâu cuốn lá nhỏ hại lúa trên một số giống lúa chống chịu hạn hiện nay, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thành phần sâu hại; đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống loài sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis Guenee) hại các giống lúa chịu hạn, tại Khánh Hòa. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu chung Xác định được thành phần sâu hại, đặc điểm sinh học, sinh thái học của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis G.) trên các giống lúa chịu hạn, từ đó đề xuất biện pháp phòng chống sâu cuốn lá nhỏ đạt hiệu quả kinh tế, môi trường tại vùng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu miền Trung.
Mục tiêu cụ thể - Thu thập thành phần sâu hại lúa chịu hạn và xác định thành phần thiên địch của sâu cuốn lá nhỏ tại Khánh Hòa. - Xác định một số đặc điểm sinh học, một số yếu tố sinh thái học ảnh hưởng đến diễn biến mật độ và vai trò gây hại của sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis G.) trên các giống lúa chịu hạn. - Đánh giá phản ứng của một số giống lúa chịu hạn đang được sử dụng trong sản xuất tại khu vực miền Trung với sâu cuốn lá nhỏ. - Đánh giá hiệu lực phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ của một số thuốc sinh học và hóa học trong điều kiện nhà lưới và ngoài đồng ruộng.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các loài sâu hại, sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis) và thiên địch của chúng trên các giống lúa chịu hạn. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phạm vi nghiên cứu - Xác định thành phần sâu hại lúa chịu hạn và thiên địch của loài sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis - Một số đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis G.) hại các giống lúa chịu hạn.
-Địa điểm: Tại các vùng trồng lúa chịu hạn tại Khánh Hòa 1. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học Các kết quả của đề tài cung cấp các dẫn liệu về thành phần sâu hại các giống lúa chịu hạn được trồng phổ biến tại Khánh Hòa, góp phần bổ sung các dẫn liệu khoa học về một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu cuốn lá nhỏ (Cnaphalocrocis medinalis G.) trên các giống lúa chịu hạn. Đồng thời đưa ra những giải pháp phòng chống sâu cuốn lá nhỏ hiệu quả trong điều kiện canh tác của Khánh Hòa.
Ý nghĩa thực tiễn Trong bối cảnh nhu cầu về việc sử các giống lúa cạn ngày càng tăng ở khu vực Duyên Hải miền Trung trong đó có Khánh Hòa, việc tìm hiểu thành sâu hại trên các giống lúa này sẽ góp phần quan trọng trong công tác chỉ đạo phòng trừ trong sản xuất; Các dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài sâu CLN (Cnaphalocrocis medinalis G.) hại trên các giống lúa chịu hạn và thành phần thiên địch của chúng tại vùng nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho xây dựng chương trình phòng chống sâu CLN theo hướng IPM; Các nghiên cứu về biện pháp phòng chống sâu CLN có hiệu quả sẽ góp phần hạn chế sự gây hại của chúng cho sản xuất, giảm thiểu việc sử dụng hoá chất độc hại, góp phần tăng hiệu quả sản xuất và an toàn cho môi trường tại khu vực chịu ảnh hưởng bởi hạn hán Khánh Hòa. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI Việt Nam được xác định là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất bởi BĐKH (IPCC, 2007), trong đó nông nghiệp luôn được coi là ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất. Các ảnh hưởng do hạn hán kéo dài gây ra bởi hiện tượng Elnino đã dẫn đến những thiệt hại không nhỏ, đặc biệt là đối với sản xuất lúa gạo.
Theo dự báo, các hiện tượng thời tiết này sẽ xảy ra với cường độ, tần suất lớn hơn (Bộ TN và MT, 2009). Để thích nghi với hạn hán, việc sử dụng giống chống chịu được đánh giá là dễ dàng, kinh tế và thân thiện với môi trường, chính vì lẽ đó mà hiện nay việc chọn tạo và ứng dụng các giống lúa chịu hạn ngày được quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, với mỗi hệ sinh thái đồng ruộng khác nhau cũng tồn tại trong đó một thành phần côn trùng nhất định. Việc thay đổi cơ cấu cây trồng cũng kéo theo đó là sự thay đổi về thành phần sâu hại trên mỗi loại cây khác nhau.
Hay nói cách khác, việcthay đổi canh tác các giống lúa chịu hạn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi về thành phần loài côn trùng cũng như mức độ gây hại của chúng. Trong các loài côn trùng hại lúa, sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrocis medinalis Guenee là một trong những loài gây hại chính và quan trọng ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam (Phạm Văn Lầm, 2000). Trong những năm gần đây, sâu cuốn lá luôn gây ra những thiệt hại đáng kể trong sản xuất lúa gạo.Theo thống kê năm 2011, dịch sâu cuốn látrên lúa đông xuân vùng Đồng bằng Bắc bộ diện tích bị nhiễm gần 110.000 ha, tại vùng Duyên hải miền Trung sâu cuốn lá nhỏ tiếp tục phát sinh gây hại trên lúa xuân muộn tại các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Khánh Hòa…diện tích lúa được phun thuốc phòng trừ lên đến gần 150. Từ những lý đó việc tìm hiểu thành phần loài sâu hại trên lúa chịu hạn cũng như tìm hiểu các đặc điểm sinh học, sinh thái và các yếu tố ảnh hưởng đến sâu cuốn lá nhỏ sẽ là cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phòng chống loài sâu hại này một cách hiệu quả và thân thiện với môi trường trong bối cảnh nhu cầu sử dụng các giống lúa chịu hạn ngày càng tăng.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC 2. Khái quát về hạn hán và giải pháp thích ứng bằng việc chọn tạo giống cây trồng/vật nuôi chống chịu điều kiện bất thuận do hạn hán gây nên. Biến đổi khí hậu (BĐKH), một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại, đã, đang và sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Biến đổi khí hậu, theo định nghĩa của Uỷ ban Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển. Biến đổi khí hậu xuất phát từ sự thay đổi cán cân năng lượng của trái đất do thay đổi nồng độ các khí nhà kính, nồng độ bụi trong khí quyển, thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời. Các hiện tượng cực đoan của khí hậu/thiên tai như sóng thần, bão, lũ, hạn hán sẽ xảy ra với cường độ, tần suất và độ bất thường cao hơn.
Theo dự đoán, đến năm 2080 sẽ có thêm khoảng 1,8 tỷ người phải đối mặt với sự khan hiếm nước, 332 triệu người sống ở vùng ven biển và đất trũng bị mất nhà cửa và ngập lụt, khoảng 600 triệu người nữa sẽ phải đối mặt với nạn suy dinh dưỡng do nguy cơ năng suất trong nông nghiệp giảm, thêm khoảng 400 triệu người nữa phải đối mặt với nguy cơ bị sốt rét.