MỞ ĐẦU Đồng bằng Sông Cửu Long là vùng đất màu mỡ cho nhiều đối tượng nuôi thủy sản phổ biến như tôm sú, tôm thẻ, cua biển, cá chẽm, cá mú và các loài cá nước lợ khác. Trong những loài giáp xác được nuôi, bên cạnh tôm sú, tôm thẻ thì cua biển (Scylla spp.) đang được người dân chọn làm đối tượng nuôi ưa thích trong các ao đầm nước lợ ven biển, do tăng trọng nhanh, kích thước lớn, dễ nuôi, không đòi hỏi kỹ thuật cao và thu hoạch trong thời gian ngắn. Cua biển còn là đối tượng nuôi có nhiều tiềm năng kinh tế do chúng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là giá trị xuất khẩu và là nguồn thực phẩm được tiêu thụ trong nước một cách ổn định. Một số loài giáp xác nước mặn hay nước ngọt sau khi lột vỏ còn được gọi là giáp xác vỏ mềm hay lột vỏ, trong đó cua, tôm, ghẹ lột là những sản phẩm được ưa chuộng trên thế giới vào những năm 90 của thế kỉ XX cho đến nay do có hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là hàm lượng canxi và photpho cao, dễ hấp thụ giúp phục hồi nhanh chóng tình trạng thiếu hụt canxi ở trẻ em và người cao tuổi.
Bên cạnh đó, thịt cua lột còn chứa nhiều loại amino acids (Sudhakar và ctv, 2009). Hơn thế nữa vì cua lột có thể ăn được nguyên con nên nó ngày càng được khách hàng ưu chuộng. Ngoài ra, so với các sản phẩm giáp xác vỏ cứng thì các sản phẩm vỏ mềm có giá trị kinh tế cao hơn gấp 1,5 - 2 lần, sự chênh lệch giá giữa hai sản phẩm này là mối quan tâm của các nhà quản lý và kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc thủy sản. Cua lột (Scylla spp.) được nuôi từ những năm 1990 bắt đầu ở Long An, với phương thức nuôi trong bằng ao (100-200m2) với mật độ 10-20 con/m2, cho ăn thức ăn tươi từ còng và cá tạp xay nhỏ hoặc sử dụng thức ăn nuôi tôm cho giai đoạn đầu và thức ăn ít đạm cho giai đoạn thương phẩm.
Việc sử dụng cá tạp làm thức ăn trong nuôi các biển là một cách làm không mang tính bền vững, gây nhiều tác hại đến môi trường và đặc biệt là sẽ dẫn đến sự khan hiếm nguồn cá tạp tự nhiên do đánh bắt khai thác quá mức. Do đó, một trong những khó khăn chính của người nuôi cua hiện nay là thức ăn, nhất là đối với thức ăn cho cua lột. Vì vậy, để nghề nuôi cua trở thành một ngành công nghiệp bền vững, cần có chiến lược phát triền sản xuất thức ăn công nghiệp nuôi cua, thức ăn viên có lợi thế về việc chủ động được thành phần dinh dưỡng, tiện dụng, thời gian bảo quản lâu và dễ bổ sung thêm thuốc hay vitamin. Do đó, việc sử dụng Ecdysone bổ sung trong thức ăn nuôi cua lột là một trong những hướng đi mới mang lại hiệu quả nhằm nâng cao năng suất, 1 chất lượng của sản phẩm cua lột, góp phần rút ngắn thời gian nuôi cua và giảm được lượng thức ăn cho cua ăn, giúp tăng năng suất và lợi nhuận cho người nông dân, đồng thời cũng góp phần bảo vệ sức khỏe của con người cũng như là môi trường.
Nhiệm vụ “Nghiên cứu sản xuất thức ăn công nghiệp kích thích cua lột xác” tập trung vào việc nghiên cứu thiết lập công thức ăn cho giai đoạn cua lột thương phẩm nhằm nâng cao hiệu suất lột vỏ và tỷ lệ lột vỏ đồng loạt, giúp người nuôi chủ động trong quản lý, giảm thiểu công lao động, hiệu quả cao, tăng năng suất, tiến tới công nghiệp hoá, chuyên môn hoá nghề nuôi cua lột. Mục tiêu nhiệm vụ: a. Mục tiêu tổng quát: Nâng cao hiệu quả kinh tế và tính bền vững của nghề nuôi cua lột (Scylla spp.) thông qua giải pháp dinh dưỡng thức ăn, giúp người nuôi chủ động trong việc quản lý, thu hoạch, tiêu thụ tiến tới chuyên môn hoá nghề nuôi cua lột tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể: Tạo ra thức ăn đặc hiệu để nuôi cua lột thương phẩm, hiệu suất lột vỏ trên 85%, trong đó tỷ lệ lột vỏ đồng loạt cao trên 40%.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU Cua biển có tên tiếng Anh là mud-crab, green crab, hay mangrove crab; tiếng Việt thường gọi chung là cua biển, có nơi gọi là cua sen, cua lửa hoặc cua bùn. Theo (Keenan, 1999) và (Macintosh et al., 2002), cua biển phân bố ở vùng biển nước ta chủ yếu thuộc giống Scylla với các loài Scylla paramamosain (cua sen), Scylla olivacea (cua lửa), Scylla serrata (cua bùn). Các loài này có kích thước tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao với phẩm chất thịt ngon, được thị trường ưa chuộng. Nghề nuôi cua biển hiện nay được thực hiện với nhiều hình thức khác nhau như nuôi cua con thành cua thịt trong các đầm quảng canh, trong mô hình tôm rừng hay nuôi trong đăng quầng ở các bãi triều; nuôi cua gạch trong ao và lồng; nuôi cua lột và nuôi cua ốp thành cua chắc trong ao (Nguyễn T.
Thuỷ và ctv. Trong vòng đời của mình, để phát triển từ trứng lên cua thương phẩm, các loài giáp xác phải lột vỏ rất nhiều lần. Mỗi lần lột, lớp vỏ cứng tách ra thay vào là lớp vỏ mềm. Giáp xác sau khi lột vỏ còn được gọi là giáp xác vỏ mềm (soft shell) hay lột vỏ (peeler), trong đó cua, ghẹ, tôm lột vỏ là những sản phẩm được ưa chuộng trên thị trường thế giới do thành phần dinh dưỡng cao, đặc biệt là hàm lượng canxi và phospho cao và dễ hấp thu.
Thịt cua lột có hàm lượng đạm rất cao khoảng (57,02 – 65,95%), hàm lượng khoáng 10,41 – 16,71% cao gấp hai lần cua chắc 7,01%; hàm lượng lipid của cua lột (3,52 -9,45%) cũng cao hơn cua chắc rất nhiều (1,94%) (Hải và ctv, 2006). Tuy nhiên, cua lột không đều và hiệu suất lột thấp là những trở ngại chính khi sản xuất cua lột. Ở Đông Nam Á, sản xuất cua lột đã được phổ biến ở Thái Lan, Myanmar, Philippine, Malaysia, Indonesia và Việt Nam. Sau Trung Quốc, Philippin là nước đứng thứ hai thế giới về sản xuất cua lột, với sản lượng nuôi đạt 16.
Sản phẩm cua lột được bán cho các nhà hàng và xuất khẩu sang Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ và Châu Âu. Cua lột thành phẩm được phân loại theo khối lượng: loại đại (>200g), loại lớn (151-200g), loại trung (101-150g) và loại nhỏ (50-100g). Giá cua phụ thuộc vào kích cỡ và hiện trạng. Giá cao nhất thuộc về loại lớn hơn 200g.
Cua có thể được đóng gói nguyên con hoặc có hay không có các bộ phận khác như mắt, phần miệng, yếm, v. Cua lột thường có giá cao do có thể ăn nguyên con sau khi chế biến. 3 So với các sản phẩm giáp xác cứng vỏ thì các sản phẩm mềm vỏ có giá trị kinh tế cao hơn gấp 1,5 – 3,0 lần. Sự chênh lệch giá hai sản phẩm này là mối quan tâm của các nhà quản lý và kinh doanh thủy sản cũng như các nhà nghiên cứu với mục đích tạo ra công nghệ sản xuất giáp xác vỏ mềm, trong đó ghẹ lột và cua lột là hai đối tượng được chú ý hơn cả.
Ở nước ta, cua lột (Scylla spp.) được nuôi từ những năm 1990 bắt đầu ở Long An, với phương thức nuôi trong bằng ao (100-200m2) với mật độ 10-20 con/m2, cho ăn thức ăn tươi từ còng và cá tạp xay nhỏ (Nguyễn Chung, 2006). Từ đó đến nay, kỹ thuật nuôi cua lột đã được nghiên cứu và cải tiến nhiều. Năm 2003 – 2004, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản III đã cho sinh sản nhân tạo thành công cua biển (Scylla paramamosain) với tỷ lệ sống đạt tới 15%, mở ra giai đoạn chủ động khâu giống cho nuôi thâm canh cua biển. Việt nam trở thành một trong những nước dẫn đầu về sinh sản nhân tạo cua biển.
Hiện nay, nghề nuôi cua biển đã phát triển rộng ra nhiều tỉnh ven biển từ Quảng Ninh cho tới Cà Mau. Tuy vậy, một trong những khó khăn chính của người nuôi hiện nay là vần đề cung cấp thức ăn. Thức ăn tự nhiên ngày càng khan hiếm và có nhiều nhược điểm như dễ gây ô nhiễm và phụ thuộc thời tiết. Việc phát triển thức ăn công nghiệp phù hợp cho cua chưa theo kịp với phát triển của nghề nuôi cua.
Các mô hình nuôi cua lột phổ biến: i. Nuôi cua lột trong hộp Cua lột nuôi theo mô hình này thường có cỡ từ 25-60g/con. Hộp nuôi cua lột màu đen được làm từ nhựa PP chịu được va đập, nắng nóng. Thành hộp dày 1,2 – 2 mm.
Phần nắp hộp nằm trên mặt nước cao 5 – 5,5cm. Đáy hộp có khoảng 12 lỗ, mỗi lỗ 8- 10mm cho nước luân chuyển. Ngoài ra cần làm thêm hệ thống mái che, hệ thống cung cấp oxy, máy quạt nước để đảm bảo môi trường tốt cho cua phát triển. Nuôi cua lột trong hộp nhựa trên ao công nghiệp 4 Cho ăn 2 lần/ngày, thức ăn là cá tạp, còng, nhuyễn thể 2 mảnh, phụ phẩm sò lông, sò điệp, v.v… Thường xuyên kiểm tra cua 2-3 lần/ngày trong suốt quá trình cua lột.
Cua sau khi nuôi từ 28-30 ngày sẽ tiến hành lột. Cua lột vỏ nhiều nhất từ 34-40 ngày sau khi nuôi sau đó giảm dần. Thời gian cua lột từ 8h-0h. Cua lột sau khi bắt phải tiến hành thả vào nước ngọt 15-20 phút rồi mới đem đi bảo quản.
Mô hình được áp dụng tại trại cua Ba Sơn xã Bình Khánh huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh. Nuôi cua lột trong ao đất Ao nuôi cua lột có kích cỡ nhỏ (100 – 200 m²), hình chữ nhật nhưng độ rộng ao không quá 5m để tiện quản lý và thu hoạch. Giữa ao nên có trảng rộng 1m.
Đáy ao nên có dạng sét hay sét pha cát. Bờ ao không cần phải rào chắn, tuy nhiên, cần phải chắn cẩn thận ở cống. Duy trì nước ao ở mức 0,6-0,8m. Cải tạo ao kỹ trước khi nuôi.
Ngoài ra, cần có thêm một giai đóng bằng khung gỗ và lưới xanh kích cỡ 3 x1,5 x 0,5m đặt ngập 0,3 – 0,4m trong ao khi để chứa cua sắp lột khi thu hoạch từ ao nuôi. Mùa vụ nuôi cua lột có thể quanh năm, tuy nhiên tập trung nhất vào tháng 3 -7 dương lịch hàng năm. Cua giống có kích cỡ nhỏ khoảng 50 -100 g/con, do cua lớn sẽ chậm lột vỏ. Cua giống là những cua chắc thịt, cứng và màu sậm.
Trước khi thả cần loại bỏ càng và chân cua bằng cách chặt hay bẻ chót chân, chót càng rồi cua sẽ tự bỏ càng chân của chúng. Tuy nhiên, phải giữ đôi chân bơi lại để cua hoạt động. Biện pháp này có tác dụng kích thích cua lột xác sớm. Mật độ thả là 20con/m2 hay hơn tùy theo kích cỡ cua giống.