Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định" được tác giả Nguyễn Thị Minh Thu thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Đình Thao, bảo vệ năm 2020 tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam, thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp (mã số: 9 62 01 15).
Về tính cấp thiết, theo số liệu từ Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 2015), Việt Nam là một trong ba quốc gia sản xuất thủy hải sản lớn nhất thế giới và là quốc gia cung cấp tôm lớn thứ hai toàn cầu. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) ghi nhận năm 2019, sản phẩm tôm xuất khẩu của Việt Nam hiện diện tại 100 quốc gia, chiếm khoảng 15% sản lượng giao dịch toàn cầu và đóng góp gần 50% kim ngạch xuất khẩu thủy sản quốc gia. Ngành tôm hướng tới mục tiêu đạt kim ngạch 10 tỷ USD (Bảo Hân, 2018). Tuy nhiên, nghề nuôi trồng thủy sản ven biển tại Việt Nam đang chịu tổn thương nghiêm trọng do biến đổi khí hậu (BĐKH), với ước tính thiệt hại đến năm 2030 có thể lên tới gần 2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) (Quách Thị Khánh Ngọc, 2018). Thống kê của Trần Đức Quỳnh (2018) cho thấy hàng ngàn hécta nuôi tôm bị thiệt hại, trong đó có 9.035 ha không xác định được nguyên nhân cụ thể, phần còn lại do suy thoái môi trường và thời tiết cực đoan. Tỉnh Nam Định sở hữu 72 km bờ biển, trung bình mỗi năm chịu ảnh hưởng trực tiếp của 4 đến 6 cơn bão hoặc áp thấp nhiệt đới; điển hình là cơn bão số 1 (Mirinae) năm 2016 đã gây thiệt hại 3.100 tỷ đồng, ảnh hưởng nặng nề nhất đến các vùng đầm nuôi tôm ven biển (Tam Diệp, 2018). Năm 2014, hiện tượng tôm thẻ chân trắng chết hàng loạt sau 35 đến 42 ngày thả nuôi diễn ra trên diện rộng; cùng với đó là sự xuất hiện thường xuyên của các bệnh hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng, phân trắng và vi bào tử trùng (EHP).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Mặc dù rủi ro trong nuôi tôm ven biển xảy ra thường xuyên và mang tính liên đới cao, nhưng công tác quản lý rủi ro tại địa phương trong giai đoạn trước năm 2020 còn thụ động, chủ yếu tập trung xử lý tình thế sau thiên tai hoặc dịch bệnh. Các nghiên cứu chuyên sâu về quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tiếp cận dưới góc độ kinh tế nông nghiệp theo chu trình chức năng quản lý, phân loại cấp độ rủi ro bằng chuỗi số liệu thực nghiệm và đánh giá sự phối hợp giữa cơ sở nuôi, thị trường và cơ quan quản lý nhà nước tại miền Bắc còn hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu chung: Phân tích thực trạng rủi ro và các biện pháp quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định; từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
- Mục tiêu cụ thể:
- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về rủi ro và quản lý rủi ro trong nông nghiệp nói chung và nuôi tôm nói riêng;
- Phân tích thực trạng rủi ro và các biện pháp quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua;
- Đề xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định trong thời gian tới.
Câu hỏi nghiên cứu:
- (i) Có những loại rủi ro nào xảy ra với nuôi tôm ven biển ở tỉnh Nam Định? Mức độ xuất hiện, mức độ ảnh hưởng và thiệt hại như thế nào? Cấp độ của các rủi ro xảy ra trong nuôi tôm ven biển tại các cơ sở nuôi?
- (ii) Các biện pháp quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển ở Nam Định được thực hiện như thế nào bởi: Cơ sở và cộng đồng nuôi; điều tiết từ thị trường; can thiệp từ chính sách của chính phủ và chính quyền địa phương?
- (iii) Yếu tố nào ảnh hưởng tới quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định?
- (iv) Những giải pháp nào cần thực hiện để quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển sao cho hiệu quả, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển bền vững nuôi tôm ven biển ở Nam Định trong điều kiện BĐKH?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về rủi ro, quản lý rủi ro trong nông nghiệp nói chung và nuôi tôm ven biển nói riêng. Đối tượng khảo sát gồm: cơ sở nuôi tôm; tác nhân cung ứng đầu vào và tiêu thụ đầu ra; cán bộ chính quyền và nhân viên chuyên trách; ngân hàng, tổ chức bảo hiểm; các cơ quan quản lý chuyên môn.
- Phạm vi không gian: Vùng ven biển nước lợ thuộc địa bàn 3 huyện ven biển của tỉnh Nam Định gồm Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng.
- Phạm vi đối tượng loài nuôi: Tôm thẻ chân trắng (Penaeus vannamei) và tôm sú (Penaeus monodon).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2010 – 2018; số liệu sơ cấp điều tra lặp lại từ năm 2014 đến năm 2018; các định hướng và giải pháp đề xuất định vị cho giai đoạn 2020 – 2025.
- Phạm vi nội dung: Luận án tiếp cận quản lý rủi ro theo các chức năng quản lý (nhận diện, phân tích, xác định cấp độ rủi ro và phân tích chiến lược quản lý rủi ro). Nghiên cứu không bóc tách thiệt hại tài chính của từng biến cố rủi ro đơn lẻ mà sử dụng biến động về năng suất, kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế để phản ánh thiệt hại chung.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam:
Về lý thuyết rủi ro và bất định: Frank Knight (1921) phân định rủi ro là tình huống có nhiều biến cố xảy ra với xác suất và kết quả đã biết, còn bất định là trường hợp xác suất và kết quả không thể lượng hóa. Hardaker và cộng sự (1997) hoàn thiện luận điểm này khi xác định bất định là trạng thái thiếu thông tin hoàn hảo, còn rủi ro là các hệ quả bắt nguồn từ sự bất định đó. Dercon (1998) kết nối rủi ro với tính dễ bị tổn thương sinh kế của nông hộ. Newbery và Stiglitz (1981) cùng Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 2009) phân loại rủi ro thành rủi ro hệ thống (lặp lại theo thời gian, có thể ước tính) và rủi ro phi hệ thống (diễn ra ngắn hạn, khó dự báo).
Về phân loại rủi ro nông nghiệp và thủy sản: Siegel và Alwang (1999) tổng kết 8 loại rủi ro chính. Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2000, 2001) chia rủi ro thành 6 nhóm (sản xuất, thị trường, thể chế/chính sách, con người, công nghệ, tài chính) và 3 cấp độ tác động: vi mô (riêng biệt tại nông hộ), trung gian (cộng đồng/khu vực) và vĩ mô (hệ thống trên toàn vùng hoặc quốc gia). Trong nuôi trồng thủy sản, Arthur (2008) phân chia rủi ro theo mầm bệnh, an toàn thực phẩm, sinh thái, di truyền, môi trường, tài chính và xã hội; Silva và Davy (2012) nhấn mạnh tính chất tương quan phức tạp giữa suy thoái môi trường nước và dịch bệnh.
Về chiến lược và công cụ quản lý rủi ro: Khung phân tích của Holzman và Jorgensen (2001), Anderson (2005) và OECD (2009) phân nhóm chiến lược quản lý rủi ro thành 3 hướng can thiệp: giảm thiểu rủi ro (risk reduction - tác động trước khi rủi ro xảy ra nhằm hạ thấp tần suất), giảm nhẹ tác động (risk mitigation - chia sẻ hoặc phân tán thiệt hại) và khắc phục rủi ro (risk coping - ứng phó, phục hồi sau thiệt hại), được vận hành qua hai cơ chế: phi chính thống (nông hộ, cộng đồng) và chính thống (thị trường điều tiết, chính phủ can thiệp).
Về nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam: Đặng Kim Sơn (2001) phân tích hợp đồng nông nghiệp như công cụ quản lý rủi ro thị trường. Trần Tiến Khai (2007) khảo sát các giải pháp phát triển bền vững nuôi tôm trong điều kiện rủi ro tại Bạc Liêu. Le Cong Tru (2011) xây dựng khung quản lý rủi ro cho chuỗi cá tra. Cao Thị Lệ Quyên (2015) nghiên cứu tác động của BĐKH tới nghề nuôi tôm nước lợ tại Thanh Hóa. Ngô Thị Phương Lan (2017) phân tích hành vi giảm thiểu và phân tán rủi ro của hộ nuôi tôm vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Kim Văn Vạn và Ngô Thế Ân (2017) đánh giá mô hình kỹ thuật xen ghép tôm thẻ chân trắng với cá diêu hồng thích ứng BĐKH tại Giao Thủy (Nam Định). Ngoài ra, các cơ sở lý luận kinh tế nông nghiệp của Đỗ Kim Chung (2009, 2011, 2014a, 2014b), Trần Đình Thao (2010, 2013) và Đoàn Thị Hồng Vân (2013) được kế thừa trực tiếp.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Đa phần các nghiên cứu trước đây tại miền Bắc tiếp cận nuôi tôm thuần túy dưới khía cạnh kỹ thuật nuôi hoặc đánh giá thiệt hại thiên tai đơn lẻ; thiếu vắng nghiên cứu kinh tế nông nghiệp toàn diện theo chu trình chức năng quản lý rủi ro (từ nhận diện, phân tích, đánh giá cấp độ đến chiến lược ứng phó kết hợp cơ chế chính thống và phi chính thống).
- Luận án lấp đầy khoảng trống dữ liệu thực nghiệm thông qua phương pháp điều tra lặp lại trong 5 năm liên tiếp (2014 – 2018) trên cùng một mẫu 120 cơ sở nuôi tại 3 huyện ven biển Nam Định, kết hợp lập sổ theo dõi ao nuôi để xác định tần suất xuất hiện và xác suất ảnh hưởng của từng loại rủi ro trên thang đo 5 bậc, đồng thời lượng hóa các yếu tố tác động thuộc về cơ sở nuôi bằng mô hình hồi quy Logit.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng tiêu chuẩn quản lý rủi ro AS/NZS 4360:1995 kết hợp hướng dẫn ISO/IEC 73:2002 và khung phân tích quản lý rủi ro nông nghiệp của OECD (2009) để thiết kế khung phân tích theo 4 chức năng:
| Chức năng quản lý |
Nội dung phân tích cụ thể |
Công cụ / Phương pháp thực hiện |
| Nhận diện rủi ro |
Sàng lọc, theo dõi và phán đoán các nguy cơ từ mối quan hệ "Đầu vào – Sản xuất – Đầu ra" |
Phân tích chuỗi sản xuất, cây vấn đề, ghi chép sổ nhật ký ao nuôi |
| Phân tích rủi ro |
Đo lường tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng của rủi ro sản xuất, thị trường, tài chính, rủi ro lồng ghép |
Thang đo 5 bậc (rất thấp đến rất cao); phân tích biến thiên năng suất, giá trị sản xuất và thu nhập |
| Xác định cấp độ rủi ro |
Phân loại rủi ro thành 3 cấp độ: Lớn, Trung bình và Nhỏ |
Ma trận đánh giá rủi ro (kết hợp xác suất xuất hiện và xác suất gây ảnh hưởng) |
| Chiến lược quản lý rủi ro |
Phân tích việc áp dụng 3 chiến lược: Giảm thiểu, Giảm nhẹ tác động và Khắc phục rủi ro |
Ma trận 3 chiến lược đối chiếu qua 2 cơ chế: Phi chính thống (nông hộ, cộng đồng) và Chính thống (thị trường, nhà nước) |
Đặc điểm kỹ thuật nghề nuôi tôm nước lợ được tích hợp vào khung phân tích: chu kỳ sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng là 90 ngày, tôm sú là 120 ngày; yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải có ao lắng chiếm từ 15% đến 20% tổng diện tích mặt bằng để xử lý nguồn nước cấp và diệt tạp; tuân thủ khung mùa vụ thả giống miền Bắc (tôm sú từ tháng 4 đến tháng 6; tôm thẻ chân trắng vụ 1 và 2 từ tháng 3 đến tháng 8, vụ đông từ giữa tháng 9 đến tháng 10).
Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê tỉnh Nam Định, báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nam Định, Chi cục Thủy sản Nam Định, Tổng cục Thủy sản, Cục Thú y và VASEP giai đoạn 2010 – 2018.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát lặp lại trên cỡ mẫu 120 cơ sở nuôi tôm phân bổ tại 3 huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng liên tục trong giai đoạn 2014 – 2018; kết hợp đặt sổ theo dõi nhật ký ao nuôi; tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung (FGD) và tham vấn sâu với người nuôi, đại lý cung ứng giống, thức ăn, thuốc thú y, thương lái thu gom, cán bộ quản lý thủy sản cấp tỉnh, huyện và khuyến nông viên cấp xã.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Thống kê mô tả và thống kê so sánh: Tính toán tốc độ tăng trưởng bình quân, số tương đối, số tuyệt đối, hệ số biến thiên ($CV$).
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế: Giá trị sản xuất ($GO$), Chi phí trung gian ($IC$), Giá trị gia tăng ($VA$), Thu nhập hỗn hợp ($MI$).
- Mô hình hồi quy Logit: Dùng để xác định các yếu tố thuộc về cơ sở nuôi tác động đến xác suất áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro. Biến phụ thuộc nhận giá trị bằng 1 nếu cơ sở nuôi chủ động áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro và bằng 0 nếu ngược lại. Các biến độc lập gồm: diện tích đầm nuôi, kinh nghiệm của chủ hộ, tham gia tập huấn kỹ thuật, hình thức nuôi (thâm canh/bán thâm canh, chuyên tôm/nuôi ghép), vị trí nuôi (trong hay ngoài vùng quy hoạch), sử dụng tôm giống có nguồn gốc kiểm định, và tiếp cận hỗ trợ từ nhà nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 2: Tổng quan về rủi ro và quản lý rủi ro trong nông nghiệp, nuôi tôm ven biển
Chương 2 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và tổng hợp thực tiễn. Tác giả phân tích bản chất của rủi ro nông nghiệp là sự bất định có thể ước lượng được xác suất xảy ra và mức độ tổn thất. Rủi ro được phân loại theo nguồn phát sinh gồm rủi ro sản xuất (thiên tai, dịch bệnh, con giống, nguồn nước), rủi ro thị trường (biến động giá đầu vào, giá đầu ra, tỷ giá cánh kéo), rủi ro tài chính (lãi suất tín dụng, nợ xấu, mua chịu vật tư) và rủi ro thể chế. Về hành vi ứng xử, nông dân được phân thành ba nhóm: chịu rủi ro (chấp nhận đầu tư công nghệ mới để tìm kiếm lợi nhuận cao), tránh rủi ro (đầu tư tối thiểu để bảo toàn vốn) và trung lập với rủi ro.
Chương này làm rõ chu trình quản lý rủi ro AS/NZS 4360:1995 gồm 7 bước: tham vấn thông tin, thiết lập bối cảnh, xác định rủi ro, phân tích rủi ro, đánh giá rủi ro, xử lý rủi ro, kiểm tra và giám sát. Tác giả tổng thuật kinh nghiệm quốc tế và bài học từ các nước đang phát triển (theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới và OECD), khẳng định cơ chế thị trường (bảo hiểm nông nghiệp, hợp đồng tương lai) thường khó vận hành hiệu quả ở quy mô nông hộ nhỏ lẻ do chi phí giao dịch cao và vấn đề bất đối xứng thông tin, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các biện pháp tự vệ của nông hộ với sự hỗ trợ công của nhà nước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 trình bày các đặc điểm địa bàn nghiên cứu và thiết kế kỹ thuật thực hiện đề tài. Tỉnh Nam Định có vùng ven biển thuộc ba huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng với chiều dài bờ biển 72 km, mạng lưới sông ngòi dày đặc tạo nên vùng nước lợ rộng lớn nhưng chịu biên độ thủy triều lớn và nguy cơ xâm nhập mặn cao.
Quy trình chọn mẫu điều tra được thực hiện có chủ đích kết hợp phân tầng ngẫu nhiên với quy mô 120 cơ sở nuôi đại diện cho các phương thức nuôi thâm canh, bán thâm canh, nuôi chuyên tôm và nuôi ghép tôm. Tác giả chi tiết hóa các công cụ thu thập thông tin gồm phiếu điều tra định lượng lặp lại hàng năm, sổ nhật ký theo dõi thông số kỹ thuật ao nuôi (nhiệt độ, độ mặn, pH, dịch bệnh, thức ăn), và khung tham vấn chuyên gia. Chương 3 cũng xác lập công thức tính các chỉ tiêu kinh tế ($GO$, $IC$, $VA$, $MI$), nguyên tắc xây dựng ma trận đánh giá rủi ro 5 cấp bậc, và cấu trúc phương trình mô hình Logit với bảng định nghĩa các biến độc lập.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu về quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tại tỉnh Nam Định
Chương 4 là chương thực nghiệm trọng tâm của luận án, trình bày các kết quả phân tích theo 3 phân mục lớn:
1. Thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định
Biến động diện tích và kết quả sản xuất: Giai đoạn 2014 – 2018, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của Nam Định giảm bình quân 0,86%/năm, diện tích nước mặn lợ giảm 0,83%/năm; tuy nhiên, diện tích nuôi tôm vẫn duy trì mức tăng trưởng 1,04%/năm. Năng suất và hiệu quả kinh tế biến động mạnh giữa các năm do tác động của rủi ro thời tiết và dịch bệnh.
Nhận diện và phân tích rủi ro:
- Rủi ro sản xuất: Là nhóm rủi ro nghiêm trọng nhất với xác suất xuất hiện đạt 77,09% và xác suất gây ảnh hưởng lên tới 80,83%. Các yếu tố rủi ro chính gồm:
- Dịch bệnh: Tỷ lệ tôm chết tăng vọt khi mắc bệnh hoại tử gan tụy cấp, đốm trắng, phân trắng và vi bào tử trùng (EHP). Thời điểm xuất hiện bệnh phổ biến nhất trên tôm thẻ chân trắng tập trung vào tuần nuôi thứ 4 đến thứ 6 (30 – 45 ngày sau khi thả giống).
- Thời tiết: Nam Định chịu ảnh hưởng bình quân 4 – 6 cơn bão/áp thấp nhiệt đới mỗi năm, cùng các đợt rét đậm, nắng nóng kéo dài làm biến động đột ngột nhiệt độ nước ao.
- Nguồn nước và con giống: Nguồn nước cấp ven biển bị ô nhiễm cục bộ do hệ thống mương cấp và mương thoát nước chưa tách biệt; tỷ lệ cơ sở nuôi tiếp cận được nguồn tôm giống có kiểm dịch và truy xuất nguồn gốc rõ ràng còn thấp.
- Rủi ro thị trường: Biểu hiện rõ nét qua biến động giá đầu vào và giá tôm thương phẩm. Tốc độ tăng giá của thức ăn công nghiệp và tôm giống cao hơn tốc độ tăng giá xuất bán tôm tại cổng trại, tạo nên hiện tượng "tỷ giá cánh kéo" bất lợi, bào mòn giá trị gia tăng ($VA$) và thu nhập hỗn hợp ($MI$) của cơ sở nuôi.
- Rủi ro tài chính: Phần lớn cơ sở nuôi phụ thuộc vào vốn tự có hoặc vay tín dụng phi chính thức; tình trạng mua chịu thức ăn và vật tư từ đại lý với mức giá chênh lệch cao làm gia tăng áp lực trả nợ khi mùa vụ thất bát.
- Rủi ro lồng ghép: Các rủi ro không diễn ra độc lập mà có tính tương quan hệ thống; ví dụ, thời tiết bất thường làm suy giảm chất lượng nước ao, kích hoạt dịch bệnh bùng phát, dẫn đến mất mùa và gây mất khả năng thanh toán nợ vay.
Tổng hợp cấp độ rủi ro qua ma trận đánh giá:
| Cấp độ rủi ro |
Nhóm rủi ro cụ thể trong nuôi tôm ven biển Nam Định |
Đặc điểm tần suất và phạm vi ảnh hưởng |
| Cấp độ Lớn |
Bệnh dịch trên tôm, thời tiết cực đoan/bão, ô nhiễm nguồn nước, chất lượng tôm giống |
Xác suất xuất hiện rất cao (77,09%), ảnh hưởng diện rộng, mang tính rủi ro vĩ mô/hệ thống |
| Cấp độ Trung bình |
Rủi ro tài chính (lãi suất, khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức, nợ đọng vật tư) |
Tần suất xuất hiện ở mức trung bình, tác động trực tiếp đến khả năng tái đầu tư chu kỳ sau |
| Cấp độ Nhỏ |
Rủi ro thiết bị kỹ thuật nuôi, biến động cục bộ của thị trường tiêu thụ |
Tần suất thấp, phạm vi ảnh hưởng mang tính vi mô tại từng cơ sở nuôi riêng biệt |
Thực trạng chiến lược và biện pháp quản lý rủi ro:
- Biện pháp phi chính thống (cơ sở và cộng đồng): Người nuôi chủ yếu tập trung vào các biện pháp phòng chống rủi ro kỹ thuật như xây ao lắng xử lý nước, tuân thủ lịch thả giống, dùng men vi sinh, xả đáy và tiêu hủy tôm chết khi có dịch. Khi gặp tổn thất, hộ nuôi tự khắc phục bằng cách cắt giảm chi tiêu, vay mượn người thân hoặc chuyển đổi phương thức nuôi.
- Điều tiết của thị trường: Rất hạn chế. Tỷ lệ cơ sở nuôi ký kết hợp đồng tiêu thụ bao tiêu sản phẩm với doanh nghiệp chế biến đạt mức rất thấp. Sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp đối với nuôi tôm ven biển gần như chưa vận hành được trên thực tế do phí bảo hiểm cao và quy trình giám định tổn thất phức tạp.
- Can thiệp của nhà nước: Các chính sách hỗ trợ thiệt hại sau thiên tai và dịch bệnh còn bộc lộ nhiều bất cập về định mức hỗ trợ thấp, thủ tục giải ngân kéo dài và chưa mang tính kịp thời để giúp người dân tái sản xuất.
2. Các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định
- Yếu tố thuộc về cơ sở nuôi (Kết quả mô hình Logit): Các biến có ý nghĩa thống kê tác động thuận chiều đến việc áp dụng biện pháp quản lý rủi ro gồm quy mô diện tích đầm nuôi, hình thức nuôi thâm canh, và việc lựa chọn tôm giống có nguồn gốc kiểm định. Đáng chú ý, cơ sở nuôi có tham gia các lớp đào tạo, tập huấn kỹ thuật có xác suất áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro cao hơn 6,5% so với nhóm không tham gia tập huấn.
- Yếu tố cơ chế chính sách: Tồn tại nhiều khoảng trống trong quy hoạch chi tiết vùng đầm nuôi tôm ven biển, thiếu hụt các dòng vốn tín dụng ưu đãi chuyên biệt cho thủy sản, và cơ chế kiểm soát chất lượng con giống, vật tư lưu thông trên thị trường còn lỏng lẻo.
- Yếu tố năng lực quản lý nhà nước tại địa phương: Sự phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, huyện với chính quyền cơ sở còn thiếu đồng bộ. Kết quả điều tra thực tế chỉ ra gần 70% cán bộ chuyên trách tại cấp xã chưa nắm rõ các quy định pháp lý về điều kiện vùng nuôi, danh mục thuốc thú y thủy sản, hóa chất xử lý môi trường, thức ăn chăn nuôi và các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.
3. Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định
Luận án xác lập 6 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ:
- Hoàn thiện quy hoạch vùng nuôi và quy hoạch chi tiết đầm nuôi tôm nước lợ;
- Nâng cấp và kiên cố hóa cơ sở hạ tầng vùng nuôi, đặc biệt là hệ thống kênh cấp nước và thoát nước thải độc lập, bảo đảm tỷ lệ diện tích ao lắng;
- Thực thi các chính sách tài chính - tín dụng linh hoạt, mở rộng đối tượng vay vốn ưu đãi và nghiên cứu thí điểm sản phẩm bảo hiểm tôm nuôi phù hợp;
- Nâng cao năng lực hệ thống khuyến nông - khuyến ngư, chú trọng tập huấn kỹ thuật quản lý ao nuôi thực hành tốt;
- Xây dựng liên kết chuỗi giá trị tôm gắn với hoạt động của các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi tôm trong cộng đồng;
- Triển khai mô hình quản lý môi trường vùng nuôi và giám sát dịch bệnh dựa vào cộng đồng dân cư ven biển.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận:
- Bổ sung và phát triển khung lý luận về quản lý rủi ro trong nông nghiệp áp dụng cho tiểu ngành nuôi tôm ven biển nước lợ. Luận án làm rõ luận điểm rủi ro không chỉ mang ý nghĩa tiêu cực gây tổn thất mà còn kích thích sự đổi mới công nghệ và tổ chức lại sản xuất nếu được nhận diện và kiểm soát đúng quy trình.
- Thiết lập khung phân tích quản lý rủi ro theo chu trình chức năng quản lý hoàn chỉnh kết hợp ma trận 3 chiến lược (giảm thiểu, giảm nhẹ tác động, khắc phục) với 2 cơ chế vận hành (phi chính thống và chính thống) trong bối cảnh nuôi tôm ven biển.
Đóng góp mới về mặt phương pháp:
- Kết hợp phương pháp xác định tần suất xuất hiện và xác suất ảnh hưởng trên thang đo 5 bậc từ chuỗi dữ liệu thực nghiệm điều tra lặp lại 5 năm (2014 – 2018) trên mẫu 120 cơ sở nuôi, giúp lượng hóa chính xác tọa độ các loại rủi ro trên ma trận đánh giá.
- Luận án không tách rời thiệt hại tài chính của từng rủi ro riêng biệt mà sử dụng hệ thống chỉ tiêu kết quả ($GO$, $IC$, $VA$, $MI$) và biến thiên năng suất để phản ánh mức độ thiệt hại chung do tính chất lồng ghép, tương quan của rủi ro sản xuất nông nghiệp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về quản lý rủi ro nuôi tôm tại 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định: khẳng định rủi ro sản xuất (dịch bệnh, thời tiết, nguồn nước, con giống) thuộc cấp độ Lớn và mang bản chất rủi ro hệ thống, với xác suất xuất hiện 77,09% và xác suất ảnh hưởng 80,83%.
- Chỉ ra các bằng chứng định lượng về yếu tố ảnh hưởng: việc tham gia tập huấn kỹ thuật giúp gia tăng 6,5% xác suất áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro tại cơ sở nuôi; đồng thời phát hiện rào cản nhận thức tại cấp cơ sở khi có gần 70% cán bộ chuyên trách cấp xã chưa nắm vững các quy định và danh mục quản lý kỹ thuật thủy sản.
- Xây dựng hệ thống 6 nhóm giải pháp có tính khả thi nhằm củng cố năng lực phòng ngừa và thích ứng với rủi ro cho người nuôi tôm ven biển Nam Định giai đoạn 2020 – 2025.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế của đề tài:
- Do tính chất lồng ghép phức tạp và sự tương quan đa chiều giữa các biến cố rủi ro trong môi trường nước lợ, luận án chưa bóc tách được giá trị thiệt hại tài chính tuyệt đối của từng biến cố rủi ro riêng lẻ (như chi phí thiệt hại riêng của dịch đốm trắng so với thiệt hại do bão lụt) mà phải đo lường gián tiếp qua sự sụt giảm năng suất và các chỉ tiêu giá trị kinh tế tổng hợp.
- Địa bàn khảo sát tập trung tại 3 huyện ven biển tỉnh Nam Định (vùng Đồng bằng sông Hồng), do đó một số phát hiện đặc thù về chế độ thủy văn và mức độ ảnh hưởng của rét đậm vụ đông chưa thể khái quát hóa hoàn toàn cho các vùng sinh thái nuôi tôm nước lợ duyên hải Nam Trung Bộ hoặc Đồng bằng sông Cửu Long.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi khảo sát so sánh liên vùng ven biển giữa các tỉnh phía Bắc để làm rõ sự khác biệt về năng lực quản lý rủi ro giữa các địa phương;
- Đi sâu nghiên cứu thiết kế cơ chế và định phí bảo hiểm chỉ số thời tiết hoặc dịch bệnh trong nuôi tôm ven biển nhằm thúc đẩy sự tham gia của thị trường bảo hiểm thương mại;
- Đánh giá sâu hơn các mô hình liên kết chuỗi giá trị khép kín giữa doanh nghiệp chế biến xuất khẩu và các tổ hợp tác nuôi tôm cộng đồng nhằm tìm kiếm giải pháp phân tán rủi ro thị trường hữu hiệu.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh tế phát triển và Quản lý thủy sản: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu quản lý rủi ro theo chức năng, kỹ thuật thiết kế sổ nhật ký theo dõi ao nuôi, phương pháp xây dựng ma trận đánh giá rủi ro kết hợp chuỗi dữ liệu lặp lại và ứng dụng mô hình hồi quy Logit trong phân tích hành vi nông hộ.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và PTNT, Tổng cục Thủy sản, UBND tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Nam Định, Chi cục Thủy sản, và UBND các huyện Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng): Các số liệu thực chứng của luận án cung cấp căn cứ trực tiếp để điều chỉnh quy hoạch vùng nuôi tôm mặn lợ, xây dựng phương án đầu tư công cho hệ thống kênh cấp - thoát nước riêng biệt, thiết kế chương trình tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chuyên trách cấp xã, và cải cách cơ chế hỗ trợ tài chính, khắc phục thiên tai.
- Đối với các chủ cơ sở nuôi tôm và tổ hợp tác cộng đồng ven biển: Luận án gợi mở các yêu cầu kỹ thuật then chốt cần tuân thủ như duy trì tỷ lệ diện tích ao lắng từ 15% đến 20%, ghi chép nhật ký ao nuôi để phát hiện sớm dịch bệnh ở tuần nuôi thứ 4 đến thứ 6, và tăng cường liên kết chia sẻ nguồn nước, thông tin dịch tễ trong cộng đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xếp hạng các loại rủi ro trong nuôi tôm ven biển tỉnh Nam Định thành những cấp độ nào?
Qua ma trận đánh giá rủi ro dựa trên tần suất xuất hiện và mức độ ảnh hưởng, luận án phân chia rủi ro thành 3 cấp độ:
- Cấp độ Lớn: Rủi ro bệnh dịch trên tôm, rủi ro thời tiết cực đoan/bão, rủi ro ô nhiễm nguồn nước cấp và rủi ro chất lượng con giống.
- Cấp độ Trung bình: Rủi ro tài chính (tiếp cận vốn vay tín dụng chính thức và chi phí nợ đọng vật tư).
- Cấp độ Nhỏ: Rủi ro hỏng hóc thiết bị kỹ thuật nuôi và rủi ro biến động thị trường tiêu thụ.
2. Xác suất xuất hiện và xác suất gây ảnh hưởng của nhóm rủi ro sản xuất được luận án ghi nhận cụ thể là bao nhiêu?
Kết quả khảo sát thực nghiệm 120 cơ sở nuôi tôm giai đoạn 2014 – 2018 xác định nhóm rủi ro sản xuất có xác suất xuất hiện là 77,09% và xác suất gây ảnh hưởng tổn thất lên tới 80,83%. Đây là nhóm rủi ro mang tính hệ thống, có quy mô tác động vĩ mô và là mối quan ngại hàng đầu của các hộ nuôi tôm tại địa phương.
3. Hoạt động tập huấn kỹ thuật có tác động như thế nào đến việc áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro của cơ sở nuôi?
Theo kết quả ước lượng từ mô hình hồi quy Logit, biến tham gia tập huấn kỹ thuật có ý nghĩa thống kê và mang hệ số dương. Cụ thể, chủ cơ sở nuôi tôm được tham gia các lớp tập huấn, đào tạo kỹ thuật có xác suất áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro cao hơn 6,5% so với các cơ sở nuôi mà chủ hộ không tham gia đào tạo.
4. Luận án chỉ ra thực trạng gì về nhận thức chính sách của đội ngũ cán bộ quản lý thủy sản cấp xã tại Nam Định?
Luận án phát hiện sự hạn chế đáng kể trong nhận thức thực thi chính sách ở cấp cơ sở: có gần 70% cán bộ chuyên trách thủy sản tại cấp xã không nắm rõ các quy định về điều kiện vùng nuôi, quy chuẩn quản lý thức ăn chăn nuôi, con giống, danh mục hóa chất, thuốc thú y thủy sản được phép lưu hành và các chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong ngành thủy sản.
5. Luận án đề xuất mấy nhóm giải pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tại Nam Định?
Tác giả đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp thực thi đồng bộ: (1) Hoàn thiện quy hoạch vùng nuôi và quy hoạch đầm nuôi; (2) Phát triển kết cấu hạ tầng vùng nuôi và ao lắng; (3) Hoàn thiện chính sách tài chính, tín dụng và nghiên cứu bảo hiểm tôm; (4) Tăng cường công tác khuyến nông - khuyến ngư; (5) Phát triển chuỗi giá trị gắn với tổ hợp tác cộng đồng; (6) Quản lý môi trường và dịch tễ dựa vào cộng đồng.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Minh Thu là công trình nghiên cứu kinh tế nông nghiệp có hệ thống về thực trạng rủi ro và quản lý rủi ro trong nuôi tôm ven biển tại tỉnh Nam Định giai đoạn 2014 – 2018. Thông qua chuỗi số liệu khảo sát lặp lại trên 120 cơ sở nuôi và mô hình hồi quy Logit, luận án đã định lượng được xác suất xuất hiện, mức độ ảnh hưởng của các rủi ro hệ thống, đồng thời xác lập vị trí trọng tâm của rủi ro sản xuất ở cấp độ lớn. Công trình đã chỉ rõ những mắt xích yếu kém trong điều tiết thị trường và năng lực thực thi chính sách ở cấp xã, từ đó cung cấp 6 nhóm giải pháp thực tiễn có ý nghĩa khoa học và giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhà hoạch định chính sách, giới nghiên cứu và người nuôi tôm ven biển trong bối cảnh biến đổi khí hậu.