Tổng quan luận án

Sản xuất nông nghiệp Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng từ 4% đến 5%/năm, đóng góp khoảng 20% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và chiếm 30% kim ngạch xuất khẩu của cả nước (Phạm Thị Định, 2013). Trong đó, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) giữ vị trí trọng điểm khi sản xuất trên 50% tổng sản lượng lúa và đáp ứng hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2021). Tuy nhiên, sản xuất lúa tại ĐBSCL chịu tác động tiêu cực bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng, lũ lụt, hạn hán và xâm nhập mặn (Wassmann và cộng sự, 2004). Theo World Bank (2009), Việt Nam xếp thứ 6 trong danh sách các quốc gia chịu tổn thất nặng nề do thiên tai và dịch bệnh mùa màng, ước tính thiệt hại lên đến 1,5% GDP và hơn 70% dân số nông thôn đối mặt với rủi ro khí hậu.

Mặc dù có vai trò thiết yếu, thị trường bảo hiểm nông nghiệp (BHNN) tại Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ. Năm 2010, doanh thu phí BHNN chỉ chiếm 0,05% tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ, diện tích cây trồng và số lượng vật nuôi tham gia bảo hiểm chỉ đạt xấp xỉ 1% (Phạm Thị Định, 2013). Sau thất bại của chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa (BHCL) năm 1982 tại huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định do Bảo Việt triển khai, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 thực hiện thí điểm BHNN giai đoạn 2011–2013 tại 20 tỉnh thành. Tại ĐBSCL, hai tỉnh An Giang và Đồng Tháp được lựa chọn thí điểm bảo hiểm cây lúa theo phương pháp bảo hiểm chỉ số (BHCS) năng suất vùng. Kết quả đạt 19.152 lượt hộ tham gia với diện tích 12.000 ha, tổng phí bảo hiểm thu được là 10.982,8 triệu đồng (nông hộ đóng 2.319 triệu đồng, chiếm 21,1%; ngân sách nhà nước hỗ trợ 8.663 triệu đồng), số tiền chi trả bồi thường là 2.013 triệu đồng, tương ứng tỷ lệ bồi thường 18,3% (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2014; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh An Giang, 2014). Sau khi chương trình kết thúc, dịch vụ BHCL chưa được duy trì và nhân rộng do tồn tại hiện tượng thông tin bất đối xứng, lựa chọn sai lầm khi áp dụng một tỷ lệ phí cố định (2,19%) cho tất cả các vùng và mùa vụ, rủi ro cơ bản của sản phẩm chỉ số và sự hạn chế trong nhận thức của nông hộ.

Khoảng trống nghiên cứu thực tiễn và học thuật cho thấy các đề tài trước đây chủ yếu tiếp cận theo khía cạnh cầu (đo lường mức sẵn lòng trả của nông dân), trong khi khía cạnh cung (thiết kế kỹ thuật và tính toán tỷ lệ phí bảo hiểm công bằng dựa trên rủi ro thực tế của từng tiểu vùng) chưa được giải quyết đồng bộ. Do đó, luận án "Nghiên cứu phát triển dịch vụ bảo hiểm cây lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long" được thực hiện nhằm giải quyết đồng thời cả hai khía cạnh cung và cầu để đưa ra các cơ sở khoa học phát triển thị trường BHCL.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Phát triển dịch vụ bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL trên cơ sở đánh giá thực trạng, kết quả tính phí bảo hiểm chỉ số năng suất vùng và mức sẵn lòng trả của nông hộ, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tháo gỡ các điểm nghẽn kỹ thuật và chính sách.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích thực trạng về bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL.
    2. Thiết kế và tính phí sản phẩm bảo hiểm chỉ số năng suất vùng cho cây lúa ở ĐBSCL.
    3. Xác định mức sẵn lòng trả và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của nông hộ trồng lúa.
    4. Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển dịch vụ bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Tình hình bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL trong thời gian qua diễn ra như thế nào?
  2. Sản phẩm bảo hiểm chỉ số năng suất vùng được thiết kế và tính phí cần có các điểm tích cực nào so với sản phẩm hiện đang có?
  3. Nông hộ trồng lúa ĐBSCL có nhu cầu tham gia bảo hiểm chỉ số năng suất vùng không? Mức sẵn lòng trả của nông hộ là bao nhiêu và các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của nông hộ?
  4. Các vấn đề nào đã ảnh hưởng đến sự thành công của dịch vụ bảo hiểm cây lúa và giải pháp nhằm giúp phát triển dịch vụ này ở ĐBSCL là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL.
  • Đối tượng khảo sát: 505 nông hộ trồng lúa (trong đó 463 hộ đồng ý tham gia chương trình bảo hiểm khi được giới thiệu), cùng cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương và đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH).
  • Phạm vi không gian: 4 tỉnh đại diện cho 3 vùng sinh thái nông nghiệp tại ĐBSCL gồm: tỉnh Hậu Giang (vùng phù sa nước ngọt), tỉnh Sóc Trăng (vùng ven biển chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn), tỉnh An Giang và tỉnh Đồng Tháp (vùng ngập lũ sâu).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu sơ cấp nông hộ được thu thập trong năm khảo sát; dữ liệu thứ cấp về năng suất lúa cấp xã được thu thập liên tục trong chuỗi thời gian 12 năm (2007–2018) cho vụ Đông Xuân (vụ sản xuất chính trong năm của vùng).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế xoay quanh ba mảng nội dung chính:

Bản chất rủi ro nông nghiệp và sự chuyển dịch phương pháp bảo hiểm: Rủi ro nông nghiệp gồm rủi ro sản xuất, giá cả, kỹ thuật và chính sách (Sonka và Patrick, 1984; Hanson và cộng sự, 2004; Lê Khương Ninh, 2016). Các hiện tượng thời tiết cực đoan tạo ra "rủi ro hệ thống" trên diện rộng, làm thất bại phương pháp bảo hiểm truyền thống dựa trên đánh giá tổn thất từng cá nhân do chi phí quản lý cao, lựa chọn sai lầm và động cơ lệch lạc (Hazell, 1992; Nguyễn Tuấn Sơn, 2008; AgRisk, 2009; Binswanger-Mkhize, 2012). Để khắc phục, phương pháp bảo hiểm chỉ số (BHCS) gồm chỉ số thời tiết và chỉ số năng suất vùng được phát triển (Halcrow, 1949; Miranda, 1991; Skees và cộng sự, 1999; Carter và cộng sự, 2007, 2017; Smith và Watts, 2009). BHCS năng suất vùng thực hiện bồi thường khi năng suất trung bình thực tế của đơn vị bảo hiểm giảm xuống dưới mức năng suất ngưỡng định trước, giúp giảm thiểu chi phí giám định và hạn chế hành vi trục lợi bảo hiểm.

Thiết kế và phương pháp định phí bảo hiểm mùa màng: Các kỹ thuật ước lượng phân phối năng suất cây trồng để xác định tỷ lệ phí thuần được phát triển qua nhiều giai đoạn: phương pháp tham số, bán tham số và phi tham số (Ker và Coble, 2003); ước lượng phi tham số Bayes (Ker và Goodwin, 2000; Ramadan, 2011); mô hình phân phối theo thời gian (Zhu và cộng sự, 2008); mô hình phân tích tồn tại Survival Analysis (Wang và cộng sự, 2010); mô hình khuếch tán Diffusion Model (Jie và cộng sự, 2013); mô hình phân cấp Bayes Bayesian Hierarchical Model (Ozaki và cộng sự, 2008; Ozaki, 2009). Đặc biệt, Clarke và cộng sự (2012) áp dụng lý thuyết hệ số tin cậy Bayes kết hợp dữ liệu không gian và thời gian theo khung chương trình bảo hiểm nông nghiệp quốc gia sửa đổi của Ấn Độ (mNAIS) từ nền tảng Bühlmann (1967) và Syroka (2007), giúp nâng cao hiệu quả thống kê khi cỡ mẫu lịch sử bị giới hạn.

Ước lượng mức sẵn lòng trả (WTP) và các yếu tố ảnh hưởng: Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) dạng câu hỏi nhị phân kép (DBDC) được áp dụng rộng rãi để đo lường WTP cho bảo hiểm nông nghiệp (Fraser, 1992; Deng và cộng sự, 2015; Brånstrand và Wester, 2014; Ali, 2013; Abbas và cộng sự, 2015; Arshad và cộng sự, 2016; Zhang và Fan, 2016; Seth và cộng sự, 2009; Danso và cộng sự, 2014; Okoffo và cộng sự, 2016; Abugri và cộng sự, 2017; Addey và cộng sự, 2019). Các nghiên cứu khẳng định WTP chịu tác động bởi mức phí đề xuất, học vấn, diện tích đất, chi phí sản xuất, quy mô hộ, thu nhập ngoài nông nghiệp, tiếp cận tín dụng và mức độ ngại rủi ro của nông dân.

Tác giả và năm Địa bàn / Đối tượng Phương pháp tiếp cận Phát hiện / Kết quả chính
Ker và Goodwin (2000) Hoa Kỳ / Cây trồng Ước lượng phi tham số Bayes Nâng cao độ chính xác ước lượng mật độ năng suất, nhưng yêu cầu chuỗi dữ liệu dài (35 năm).
Clarke và cộng sự (2012) Ấn Độ (mNAIS) / Cây lương thực Lý thuyết tin cậy Bayes (Không gian - Thời gian) Tối ưu hóa tính phí BHCS năng suất vùng, giảm bóp méo trợ cấp và giải quyết bồi thường kịp thời.
Abbas và cộng sự (2015) Pakistan / Bảo hiểm lũ lụt CVM dạng DBDC WTP trung bình chiếm 0,27% thu nhập tháng; sở hữu đất và thu nhập ngoài nông nghiệp tác động thuận chiều.
Phan Đình Khôi và Bùi Tuấn Khanh (2015) ĐBSCL / Bảo hiểm lúa QĐ 315 Phân tích thống kê, định tính Tồn tại lựa chọn sai lầm giữa các vụ mùa do áp dụng đồng nhất một mức phí 2,19%.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết:

  1. Khắc phục sự mất cân đối khi kết hợp hoàn chỉnh cả hai khía cạnh cung (thiết kế, tính phí bảo hiểm chỉ số năng suất vùng bằng kỹ thuật định lượng) và cầu (ước tính WTP và phân tích kinh tế lượng về hành vi nông hộ) trong cùng một nghiên cứu tại Việt Nam.
  2. Áp dụng lý thuyết hệ số tin cậy Bayes kết hợp không gian - thời gian (theo khung mNAIS) để xử lý chuỗi số liệu năng suất ngắn (12 năm) cấp xã, tính toán tỷ lệ phí thuần và phí thương mại cho từng huyện tại ĐBSCL.
  3. Nhận diện các điểm nghẽn cụ thể giữa mức phí bảo hiểm kỹ thuật và khả năng chi trả thực tế của nông hộ theo từng vùng sinh thái đặc thù.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên các lý thuyết kinh tế học vi mô và kinh tế học rủi ro:

  • Lý thuyết nông hộ và sự lựa chọn trong điều kiện không chắc chắn: Mô hình Chayanov (Singh và cộng sự, 1986; Mendola, 2007; Bardhan và Udry, 1999) và lý thuyết an toàn đầu tiên "Safety-first" (Roumasset, 1976; Dasgupta, 1993; Morduch, 1994, 1995; Ellis, 1993; Binswanger, 1980), giải thích các chiến lược bình ổn thu nhập và phân bổ nguồn lực của nông hộ thu nhập thấp trước các cú sốc tự nhiên.
  • Lý thuyết thông tin bất đối xứng, lựa chọn sai lầm và động cơ lệch lạc: Dựa trên nghiên cứu kinh điển của Akerlof (1970) và các phát triển trong bảo hiểm nông nghiệp của Barnett (2014), Lê Khương Ninh (2016), chỉ ra nguyên nhân thất bại thị trường khi DNBH không thể phân loại chính xác mức độ rủi ro giữa các vùng và cá nhân.
  • Lý thuyết cầu bảo hiểm: Mô hình hóa lượng cầu bảo hiểm phụ thuộc vào mức phí, thu nhập, giá cả hàng hóa thay thế/bổ sung và nhận thức rủi ro (Lê Khương Ninh, 2015; Smith và Goodwin, 2010).
  • Lý thuyết hệ số tin cậy Bayes: Mô hình Bühlmann (1967) và Clarke và cộng sự (2012), kết hợp thông tin lịch sử của từng đơn vị bảo hiểm (xã) với thông tin tập hợp của khu vực (huyện/tỉnh) để ước tính tỷ lệ tổn thất kỳ vọng.
             [ Khung tính phí mNAIS & Tin cậy Bayes ]
             1. Loại bỏ xu hướng công nghệ (Detrending)
             2. Xác định năng suất dự kiến (PY) và ngưỡng (TY)
             3. Tính tỷ lệ phí thuần (PPR) & thương mại (CPR)
             [ Phương pháp CVM dạng DBDC - Ước lượng ML ]
             - Xác định xác suất đồng ý các mức phí Bid
             - Ước lượng WTP trung bình và các yếu tố ảnh hưởng

Phương pháp thu thập và phân tích số liệu:

  1. Phương pháp thu thập số liệu:
    • Số liệu sơ cấp: Điều tra ngẫu nhiên 505 nông hộ tại 4 tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp bằng bảng câu hỏi phỏng vấn trực tiếp, cấu trúc gồm thông tin nhân khẩu, chi phí sản xuất, thái độ đối với rủi ro và các kịch bản trả lời giá ngẫu nhiên.
    • Số liệu thứ cấp: Chuỗi dữ liệu năng suất lúa vụ Đông Xuân cấp xã 12 năm (2007–2018) thu thập từ Cục Thống kê và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng.
  2. Phương pháp phân tích số liệu:
    • Thiết kế và tính phí bảo hiểm: Thực hiện qua 4 bước: (i) Kiểm tra sai số và loại bỏ xu hướng công nghệ trong năng suất bằng hồi quy tuyến tính; (ii) Tính năng suất dự kiến (PY) trung bình 7 năm liền kề và xác định năng suất ngưỡng ($TY = IL \times PY$) ứng với các mức bồi thường ($IL$) gồm 70%, 80%, 90%; (iii) Áp dụng hệ số tin cậy Bayes để tính tỷ lệ tổn thất trung bình (ALC), chi phí vượt giới hạn (CEL) và tỷ lệ phí thuần cơ sở (BPR), từ đó xác định tỷ lệ phí thuần (PPR); (iv) Xác định tỷ lệ phí thương mại (CPR) có tính đến chi phí quản lý và dự phòng rủi ro.
    • Ước lượng cầu bảo hiểm: Sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) với cấu trúc lựa chọn nhị phân kép (DBDC). Ước lượng hàm WTP thông qua phương pháp hợp lý cực đại (Maximum Likelihood - ML) để xác định mức sẵn lòng trả trung bình và kiểm định tác động của các biến độc lập.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài dựa trên bối cảnh tổn thất nông nghiệp do biến đổi khí hậu tại ĐBSCL và sự đình trệ của các chương trình bảo hiểm cây lúa trước đây. Tác giả xác định mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, 4 câu hỏi nghiên cứu, phạm vi khảo sát tại 4 tỉnh (Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Đồng Tháp) và nêu rõ 3 đóng góp mới về lý luận cùng 5 đóng góp mới về thực tiễn.

Chương 2: Tổng quan tài liệu

Chương 2 tổng hợp cơ sở lý thuyết về rủi ro trong nông nghiệp, phân tích ưu nhược điểm của bảo hiểm truyền thống so với bảo hiểm chỉ số (thời tiết và năng suất vùng). Chương này điểm luận chi tiết các nghiên cứu quốc tế và trong nước về định phí bảo hiểm mùa màng, phương pháp CVM đo lường WTP, lý thuyết thông tin bất đối xứng của Akerlof, lý thuyết lựa chọn an toàn đầu tiên và khung lý thuyết tin cậy Bayes của Bühlmann phục vụ việc xây dựng mô hình nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày khung phân tích tích hợp cung - cầu của luận án. Nội dung chương mô tả chi tiết quy trình chọn mẫu điều tra 505 nông hộ, thiết kế kịch bản phỏng vấn DBDC, nguồn dữ liệu chuỗi thời gian năng suất lúa 12 năm (2007–2018) và các công thức toán học - thống kê để loại bỏ xu hướng năng suất, tính toán chỉ số bồi thường và ước lượng kinh tế lượng đối với mức sẵn lòng trả.

Chương 4: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

Chương 4 phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và kết quả sản xuất lúa giai đoạn 2014–2019 của 4 tỉnh nghiên cứu. Chương này đánh giá chi tiết chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa theo Quyết định 315/QĐ-TTg tại An Giang và Đồng Tháp (2011–2013), chỉ ra việc áp dụng cố định tỷ lệ phí 2,19% dẫn đến tỷ lệ bồi thường thực tế chỉ đạt 18,3%, gây mất cân đối tài chính và dẫn đến sự rút lui của các doanh nghiệp bảo hiểm khi hết thời gian trợ cấp.

Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 5 trình bày các kết quả định lượng trọng tâm của luận án:

  • Đặc điểm sản xuất và nhận thức rủi ro: Nông hộ có quy mô đất canh tác bình quân nhỏ, học vấn ở mức trung bình; dịch hại và thời tiết bất lợi là hai nguồn rủi ro lớn nhất; phần lớn nông dân thể hiện thái độ ngại rủi ro trong hoạt động sản xuất.
  • Kết quả tính phí bảo hiểm chỉ số năng suất vùng: Tỷ lệ phí bảo hiểm thương mại (CPR) tính toán có sự khác biệt rõ rệt giữa các tỉnh nhưng tương đối đồng nhất giữa các huyện trong cùng một tỉnh. Tỉnh An Giang có tỷ lệ phí thấp nhất vùng (0,5%), thấp hơn đáng kể so với mức phí thí điểm 2,19% của Quyết định 315. Tỉnh Hậu Giang và Sóc Trăng có mức phí cao hơn, trong đó huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang) ghi nhận tỷ lệ phí cao nhất là 2,1%.
  • Kết quả ước lượng WTP của nông hộ: Trong 505 hộ khảo sát, có 463 hộ đồng ý tham gia khi được giới thiệu. Phản ứng của nông hộ với mức phí tuân thủ quy luật cầu. Phân phối phản ứng qua hai lần hỏi: 47,5% hộ đồng ý với cả mức phí thứ nhất và mức phí thứ hai (cao hơn); 17,1% hộ từ chối cả hai mức phí; 35,4% thuộc các nhóm phản ứng hỗn hợp (đồng ý - từ chối hoặc từ chối - đồng ý). Mức sẵn lòng trả trung bình của nông hộ ước tính đạt 68.633 đồng/1.000m2/vụ (tương đương 68.000 đồng/công/vụ).
Tỉnh / Huyện Mức bồi thường (IL) Năng suất ngưỡng TY (tấn/ha) Tỷ lệ phí thuần PPR (%) Tỷ lệ phí thương mại CPR (%) Tỷ lệ phí thí điểm QĐ 315 (%)
An Giang (Châu Phú, Thoại Sơn,...) 80% 5,78 - 6,12 0,38% 0,50% 2,19%
Sóc Trăng (Mỹ Tú, Thạnh Trị,...) 80% 5,10 - 5,45 1,12% 1,45% Chưa triển khai
Hậu Giang (Châu Thành A, Vị Thủy) 80% 5,30 - 5,60 1,25% 1,60% Chưa triển khai
Hậu Giang (Huyện Phụng Hiệp) 80% 5,15 1,65% 2,10% Chưa triển khai
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến WTP: Kết quả ước lượng hợp lý cực đại (ML) chỉ ra các biến có tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến WTP bao gồm: trình độ học vấn của chủ hộ, chi phí sản xuất trung bình, sự hiện diện của hệ thống đê bao khép kín, tiếp cận vốn vay tín dụng, thu nhập ngoài lúa và thái độ sợ rủi ro.

Chương 6: Kết luận và kiến nghị

Chương 6 đúc kết các phát hiện chính, tổng kết 5 nhóm vấn đề cản trở dịch vụ bảo hiểm cây lúa tại ĐBSCL và đề xuất hệ thống giải pháp chính sách tương ứng cho các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.


Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  1. Luận án đã xây dựng và chuẩn hóa quy trình 4 bước tính tỷ lệ phí sản phẩm bảo hiểm chỉ số năng suất vùng cho cây lúa dựa trên lý thuyết hệ số tin cậy Bayes và khung mNAIS, thích ứng với điều kiện dữ liệu chuỗi thời gian ngắn tại các nước đang phát triển.
  2. Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam kết hợp đồng thời lý thuyết hệ số tin cậy Bayes (phân tích khía cạnh cung) và phương pháp CVM dạng DBDC (phân tích khía cạnh cầu), tạo lập cơ sở phân tích toàn diện hành vi của cả nhà cung cấp dịch vụ và bên mua bảo hiểm.
  3. Cung cấp luận cứ khoa học có tính đặc thù sinh thái vùng miền cao, phản ánh chính xác tương quan giữa điều kiện tự nhiên, năng suất và mức độ rủi ro tại ĐBSCL.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  1. Xác định được tỷ lệ phí bảo hiểm kỹ thuật thực tế cho từng địa bàn: An Giang đạt 0,5% (chứng minh mức 2,19% của Quyết định 315 là quá cao, gây triệt tiêu nhu cầu), trong khi huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang) là 2,1%. Kết quả này khẳng định việc áp dụng tỷ lệ phí cào bằng là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hiện tượng lựa chọn sai lầm.
  2. Lượng hóa được mức sẵn lòng trả trung bình thực tế của nông dân ĐBSCL là 68.633 đồng/1.000m2/vụ, làm căn cứ định giá cho các doanh nghiệp bảo hiểm.
  3. Luận án nhận diện và hệ thống hóa 5 điểm nghẽn cơ bản cản trở sự phát triển dịch vụ BHCL ở ĐBSCL:
    • Hiện tượng thông tin bất đối xứng và lựa chọn sai lầm trong xác định phí bảo hiểm.
    • Rủi ro cơ bản của sản phẩm bảo hiểm chỉ số năng suất vùng.
    • Đặc điểm sản xuất quy mô nhỏ và hạn chế về nhân khẩu học của nông hộ.
    • Hạn chế trong nhận thức của nông hộ về rủi ro và công cụ bảo hiểm.
    • Sự thiếu ổn định và thiếu linh hoạt trong các chính sách hỗ trợ từ Chính phủ.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đối với DNBH: Phân loại rủi ro theo từng tiểu vùng địa lý để áp dụng các mức phí bảo hiểm tương ứng; thiết kế sản phẩm BHCS năng suất vùng ở cấp đơn vị bảo hiểm nhỏ (cấp xã) nhằm giảm thiểu rủi ro cơ bản; đẩy mạnh liên kết với các hội đoàn thể và tổ chức tín dụng để triển khai phân phối sản phẩm.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Duy trì chính sách hỗ trợ phí bảo hiểm có phân hóa theo mức độ rủi ro vùng sinh thái và đối tượng nông hộ; hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê năng suất cây trồng chuẩn hóa ở cấp cơ sở; tăng cường công tác thông tin truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của nông dân về quản lý rủi ro nông nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Dữ liệu chuỗi thời gian 12 năm (2007–2018) cấp xã chỉ thu thập đầy đủ và liên tục cho vụ Đông Xuân tại 3 tỉnh (Hậu Giang, An Giang, Sóc Trăng). Các vụ Hè Thu và Thu Đông chưa thể đưa vào mô hình định phí do số liệu thống kê tại địa phương bị gián đoạn.
  • Địa bàn khảo sát nông hộ mới tập trung tại 4 tỉnh đại diện, chưa bao phủ toàn bộ 13 tỉnh thành vùng ĐBSCL.
  • Phạm vi sản phẩm bảo hiểm mới chỉ giới hạn ở cây lúa, chưa mở rộng sang các cây trồng hàng năm và lâu năm khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng thu thập dữ liệu thống kê để tính phí bảo hiểm chỉ số cho toàn bộ các vụ mùa trong năm (vụ Hè Thu và Thu Đông) khi hệ thống số liệu cấp xã được hoàn thiện.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu định phí và khảo sát nhu cầu bảo hiểm cho toàn vùng ĐBSCL và các vùng kinh tế nông nghiệp khác trên cả nước.
  • Ứng dụng lý thuyết tin cậy Bayes để thiết kế và định phí bảo hiểm cho các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cây ăn trái, hoa màu và thủy sản.
  • Nghiên cứu mô hình bảo hiểm kết hợp giữa chỉ số năng suất vùng và chỉ số thời tiết nhằm tối ưu hóa việc giảm thiểu rủi ro cơ bản.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu phục vụ các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Tài chính - Bảo hiểm, Kinh tế Phát triển: Tham khảo phương pháp luận kết hợp lý thuyết tin cậy Bayes trong định phí bảo hiểm và kỹ thuật ước lượng mô hình DBDC bằng phương pháp Maximum Likelihood trong đánh giá kinh tế tài nguyên/nông nghiệp (nội dung chi tiết tại Chương 2, Chương 3 và Chương 5).
  • Các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân các tỉnh ĐBSCL: Sử dụng kết quả phân tích về các điểm nghẽn và cơ cấu phí theo vùng sinh thái để xây dựng các nghị định, quyết định hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp phù hợp với thực tiễn ngân sách và địa phương (nội dung tại Chương 4 và Chương 6).
  • Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: Ứng dụng trực tiếp quy trình kỹ thuật 4 bước tính phí bảo hiểm chỉ số năng suất vùng và dữ liệu mức sẵn lòng trả WTP của nông hộ để thiết kế các gói sản phẩm bảo hiểm thương mại có tính cạnh tranh và giảm thiểu tổn thất nghiệp vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa theo Quyết định 315/QĐ-TTg bộc lộ hiện tượng lựa chọn sai lầm tại ĐBSCL?
Chương trình áp dụng một tỷ lệ phí bảo hiểm cào bằng là 2,19% cho tất cả các địa phương và mọi vụ mùa trong năm. Mức phí này quá cao đối với các vùng ít rủi ro như An Giang (nơi mức phí kỹ thuật chỉ là 0,5%), khiến nông dân vùng an toàn từ chối tham gia. Ngược lại, nông dân tập trung mua bảo hiểm ở các vụ có rủi ro cao (vụ Thu Đông năm 2012 có 855 lượt hộ tham gia với hơn 1.000 ha, trong khi vụ Đông Xuân ít rủi ro chỉ có 26 hộ tham gia với 20 ha), vi phạm nguyên tắc số đông bù số ít của bảo hiểm.

2. Phương pháp lý thuyết tin cậy Bayes được ứng dụng trong luận án nhằm giải quyết vấn đề gì?
Lý thuyết tin cậy Bayes kết hợp thông tin chuỗi thời gian của từng xã với thông tin không gian của toàn huyện/tỉnh, giúp ước tính chính xác tỷ lệ phí thuần và phí thương mại cho bảo hiểm chỉ số năng suất vùng trong điều kiện chuỗi số liệu năng suất lúa lịch sử bị ngắn (12 năm) mà không làm mất đi tính minh bạch và tính linh hoạt của mô hình.

3. Tỷ lệ phí bảo hiểm thương mại (CPR) tính toán trong luận án tại các tỉnh ĐBSCL chênh lệch như thế nào?
Tỷ lệ phí thương mại có sự phân hóa rõ giữa các vùng sinh thái: tỉnh An Giang có tỷ lệ phí thấp nhất (0,5%); các tỉnh Hậu Giang và Sóc Trăng có mức phí cao hơn, trong đó địa bàn có tỷ lệ phí cao nhất là huyện Phụng Hiệp thuộc tỉnh Hậu Giang với mức 2,1%.

4. Mức sẵn lòng trả (WTP) trung bình của nông hộ trồng lúa tại ĐBSCL là bao nhiêu và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố nào?
Mức sẵn lòng trả trung bình của nông hộ ước tính đạt 68.633 đồng/1.000m2/vụ. Mức WTP này chịu tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê bởi các yếu tố: trình độ học vấn của chủ hộ, chi phí sản xuất trung bình, hệ thống đê bao khép kín, tiếp cận vốn vay tín dụng, thu nhập ngoài lúa và mức độ ngại rủi ro của nông dân.

5. Năm điểm nghẽn chính cản trở sự phát triển dịch vụ bảo hiểm cây lúa ở ĐBSCL được luận án chỉ ra là gì?
Năm điểm nghẽn gồm: (i) Thông tin bất đối xứng và lựa chọn sai lầm; (ii) Rủi ro cơ bản của sản phẩm bảo hiểm chỉ số; (iii) Đặc điểm sản xuất quy mô nhỏ và học vấn nông hộ; (iv) Nhận thức hạn chế của nông dân về rủi ro và bảo hiểm; (v) Tính bền vững và cơ chế hỗ trợ từ phía Chính phủ.


Kết luận

Luận án đã giải quyết toàn diện bài toán phát triển dịch vụ bảo hiểm cây lúa tại ĐBSCL thông qua việc tích hợp phương pháp định phí chỉ số năng suất vùng bằng lý thuyết hệ số tin cậy Bayes và ước lượng mức sẵn lòng trả của nông hộ bằng mô hình định giá ngẫu nhiên. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc áp dụng mức phí đồng nhất 2,19% trước đây là không phù hợp với mức độ rủi ro thực tế của từng vùng sinh thái (tỷ lệ phí kỹ thuật dao động từ 0,5% tại An Giang đến 2,1% tại Phụng Hiệp, Hậu Giang), đồng thời xác định mức WTP trung bình của nông hộ là 68.633 đồng/1.000m2/vụ. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và giải pháp thực tiễn có giá trị cao nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp quốc gia và định hướng kinh doanh cho các doanh nghiệp bảo hiểm.