Chương 1: Giới thiệu. Chương này giới thiệu khái quát về vị trí, vai trò cũng như các khó khăn của ngành nông nghiệp nói chung và sản xuất lúa ở ĐBSCL nói riêng. Điều đó cũng chính là những cơ sở về tính cấp thiết trong thực tiễn của vấn đề cần nghiên cứu của luận án. Trình bày các mục tiêu nghiên cứu, nội dung và câu hỏi nghiên cứu.
Đồng thời, xác định đối tượng, phạm vi nghiên cứu, cấu trúc của luận án và những đóng góp mới của luận án. Chương 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu. Chương này tác giả trình bày tổng quan về BHNN, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến tính phí bảo hiểm, ước tính mức sẵn lòng trả và yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả. Hệ thống các cơ sở lý thuyết quan trọng như lý thuyết về rủi ro, thông tin bất đối xứng hay sự lựa chọn của nông hộ; trình bày các phương pháp tính phí bảo hiểm và ước tính mức sẵn lòng trả của nông hộ.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Trên cơ sở tổng quan các tài liệu liên quan, chương này sẽ thiết lập và trình bày khung nghiên cứu của luận án, phương pháp thu thập và phân tích số liệu sử dụng trong luận án. Chương 4: Tổng quan địa bàn nghiên cứu. Chương này giới thiệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu.
Phân tích tình hình sản xuất, định hướng phát triển cây lúa và tình hình triển khai BHCL ở ĐBSCL. Chương 5: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bài các nội dung chính như: Các đặc điểm và kết quả sản xuất của nông hộ trồng lúa ở địa bàn nghiên 6 luan an cứu. Kết quả tính phí sản phẩm BHCS năng suất vùng cho cây lúa ở ĐBSCL.
Xác định mức sẵn lòng trả và các yếu tố ảnh hưởng WTP của nông hộ. Từ đó, so sánh kết quả tính phí sản phẩm BHCL và mức sẵn lòng trả của nông hộ và chỉ ra các vấn đề cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ BHCL. Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Chương này tóm lại các kết quả đạt được trong nghiên cứu.
Từ đó, luận án đưa ra các hàm ý chính sách, giải pháp cho các vấn đề về BHCL. Đồng thời, luận án cũng chỉ ra những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo trong tương lai.7 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 1.1 Về lý luận Thứ nhất, dựa trên cơ sở lý thuyết hệ số tin cậy Bayes và khung thực hiện tính phí của mNAIS, luận án đã xây dựng các bước tính tỷ lệ phí sản phẩm BHCS năng suất vùng cho cây lúa phù hợp với đặc điểm sản xuất lúa của nông hộ ở ĐBSCL. Thứ hai, luận án là nghiên cứu đầu tiên áp dụng lý thuyết hệ số tin cậy Bayes để tính phí BHCS năng suất vùng cho cây lúa ở nước ta (Khía cạnh cung). Ngoài ra, luận án còn áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) để xác định WTP cho BHCL của nông hộ và các yếu tố ảnh hưởng đến WTP (Khía cạnh cầu).
Do đó, kết quả nghiên cứu đã phản ánh khá đầy đủ và toàn diện hơn về hành vi của cả bên mua và bên bán về bảo hiểm cây lúa. Thứ ba, ĐBSCL là vùng có những yếu tố thuận lợi như hệ thống sông ngòi, đất đai phù sa, thời tiết ôn hòa và là vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo của cả nước. Tuy nhiên, ĐBSCL bị ảnh hưởng nặng bởi xâm ngập mặn, khô hạn do sự biến đổi khí hậu, trình độ học vấn nông dân thấp, quy mô sản xuất nhỏ và một số đặc điểm khác. Do vậy, kết quả nghiên cứu của luận án là những cơ sở khoa học có tính đặc thù của vùng miền khá cao.2 Về thực tiễn Bên cạnh những đóng góp về lý luận, kết quả của luận án còn đóng góp quan trọng ở khía cạnh thực tiễn cụ thể như sau: Thứ nhất, luận án đã chỉ ra thực trạng sản xuất lúa và BHCL ở ĐBSCL, tính phí sản phẩm BHCS năng suất vùng cho cây lúa, ước tính WTP cho BHCL của nông hộ và các yếu tố ảnh hưởng đến WTP.
Các kết quả này đã cho thấy rõ các điểm nghẽn dẫn đến thất bại trong việc thực hiện BHCL ở nước ta, sự e ngại tham gia của các DNBH và sự cần thiết của việc hỗ trợ từ Chính phủ. Thứ hai, từ các điểm nghẽn được xác định trong thực hiện BHCL, luận án đã đề xuất các hàm ý chính sách nhằm khắc phục những vấn đề liên quan. Các hàm ý này là cơ sở khoa học góp phần vào việc thiết lập các chính sách điều hành của Chính phủ đối với BHNN ở nước ta. 7 luan an Thứ ba, hiện tượng thông tin bất đối xứng và sự hạn chế của mỗi sản phẩm bảo hiểm là hiện hữu.
Các vấn đề này đã dẫn đến sự e dè tham gia của các DNBH. Luận án đã đề xuất một số giải pháp về thiết kế, tính phí sản phẩm và áp dụng sản phẩm bảo hiểm phải phù hợp các đối tượng bảo hiểm thì các hiện tượng trên sẽ giảm và sản phẩm được cung cấp sẽ phát huy hiệu quả hơn. Thứ tư, ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo ở nước ta. Ngoài các yếu tố thuận lợi của vùng, ĐBSCL còn có khá nhiều đặc điểm bất lợi khác như quy mô sản xuất nhỏ, trình độ học vấn thấp, nhận thức về rủi ro và bảo hiểm còn nhiều hạn chế của nông hộ đã ảnh hưởng đến sản xuất cũng như thực hiện chương trình bảo hiểm.
Luận án đã đề xuất một số giải pháp về công tác truyền thông, giới thiệu sản phẩm, hay sự liên kết giữa DNBH và các đơn vị khác nhằm giúp nông hộ nâng cao nhận thức trong sản xuất và BHCL, từ đó sẽ tác động tích cực đến nhu cầu bảo hiểm của nông hộ. Thứ năm, trên cơ sở lý thuyết hệ số tin cậy Bayes và cách thức phân tích cả hai khía cạnh cung-cầu sản phẩm phản ánh khá đầy đủ và chi tiết của luận án, các nghiên cứu sau này có thể áp dụng một cách linh hoạt để tính phí bảo hiểm cho các cây trồng khác, nhằm đáp ứng đa dạng dịch vụ bảo hiểm cây trồng cung cấp cho nông hộ và góp phần sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL ngày càng phát triển theo hướng bền vững. 8 luan an CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TỔNG QUAN VỀ BHNN 2.1 Khái niệm về bảo hiểm nông nghiệp Theo Mahul và Stutley (2010), BHNN là công cụ tài chính mà nông hộ có thể sử dụng để giảm thiểu rủi ro liên quan đến các sự kiện thiên nhiên bất lợi. Abdul (2012) cho rằng bảo hiểm là một hình thức quản lý rủi ro được sử dụng để phòng ngừa tổn thất có thể xảy ra.
Riêng BHNN là một loại bảo hiểm tài sản đặc biệt được áp dụng như một công cụ tài chính để chuyển rủi ro sản xuất nông nghiệp cho bên thứ ba thông qua việc trả phí bảo hiểm, nó phản ánh chi phí dài hạn thật sự của công ty bảo hiểm với giả định về những rủi ro đó. Theo Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010: ‟Bảo hiểm nông nghiệp thuộc nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ, có đối tượng bảo hiểm là các rủi ro phát sinh trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa, nguyên liệu nhà xưởng”.2 Các loại rủi ro trong nông nghiệp Rủi ro nông nghiệp là sự liên quan đến những kết quả tiêu cực xuất phát từ những tác động về mặt sinh học, khí hậu và giá cả. Các biến này bao gồm sự biến đổi thời tiết, khí hậu, dịch bệnh không nằm trong sự kiểm soát của các nông hộ và nó cũng gồm những thay đổi bất lợi cả giá đầu vào và đầu ra trong sản xuất nông nghiệp (World Bank, 2005). Có nhiều cách thức phân loại rủi ro trong nông nghiệp và được các nhà nghiên cứu thực hiện.
Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp có thể chia ra thành các nhóm như rủi ro sản xuất, rủi ro giá, rủi ro tài chính, rủi ro về thể chế, rủi ro do con người (Sonka và Patrick, 1984; Hanson và cộng sự, 2004; Wang và Yeh, 2016). Để thuận tiện cho việc phân loại rủi ro trong sản xuất nông nghiệp nên nhìn từ quan điểm của nông hộ. Có thể chia ra thành 4 nhóm như rủi ro sản xuất, rủi ro giá, rủi ro kỹ thuật và rủi ro chính sách (Lê Khương Ninh, 2016). Rủi ro sản xuất liên quan đến số lượng và chất lượng sản phẩm do yếu tố đầu vào tạo ra hoàn toàn không thể biết trước một cách chắc chắn, do các yếu tố không thể kiểm soát (thị trường, thời tiết, khí hậu và dịch bệnh) đóng vai trò quyết định trong sản suất nông nghiệp.
Đồng thời, quá trình tăng trưởng của cây trồng và vật nuôi thường kéo dài nên sự biến động lớn và khó dự báo. Rủi ro giá do đặc tính của đối tượng sản xuất nông nghiệp (cây trồng và vật nuôi) ở đó quyết định sản xuất được hình thành trước khá lâu khi có sản phẩm. Khi đó, giá sản phẩm gần như không thể dự báo được vào thời điểm tiến hành sản xuất nên nông hộ sẽ gặp rủi ro giá. Trong dài hạn, nông hộ còn phải đối mặt với rủi ro kỹ thuật do sự tiến bộ 9 luan an của khoa học– kỹ thuật, khiến cho kỹ thuật mà nông hộ đang áp dụng trở nên lạc hậu và sản phẩm làm ra thiếu sức cạnh tranh.
Ngoài ra, việc tiếp cận các tiến bộ khoa học– kỹ thuật đối với nông hộ gặp không ít khó khăn, nên cần phải có thời gian và vốn đầu tư. Rủi ro chính sách liên quan đến chính sách ảnh hưởng đến nền kinh tế thông qua thuế, tỷ giá hối đoái, dịch vụ công. Chính phủ thường xuyên điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tế, nên sản xuất nông nghiệp chịu tác động mạnh. Chính vì yêu cầu điều chỉnh này đã mang đến rủi ro cho nông hộ, nhất là các quyết định đầu tư dài hạn.
Hiện nay, do biến đổi khí hậu nên tình trạng lũ lụt, hạn hán, nhiễm mặn và dịch bệnh với tần suất xuất hiện ngày càng tăng lên. Các hiện tượng thiên nhiên này thường gây thiệt hại trên diện rộng và ảnh hưởng đến số đông nông hộ trên các địa bàn hay còn gọi là “rủi ro hệ thống”. Do vậy, có thể nói rủi ro hệ thống thực sự là nghiêm trọng trong ngành nông nghiệp.