Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM TRONG NHÓM NĐT 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu NĐT và sức khỏe tâm thần của nhóm NĐT đã được quan tâm và nghiên cứu từ lâu, các nghiên cứu đã đề cập đến lịch sử ra đời của nhóm NĐT, quá trình đấu tranh công nhận người đồng tính, các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan. Sự ra đời nhóm NĐT Đồng tính trong xã hội đã tồn tại từ lâu và vấn đề nhóm đồng tính phải đối diện là sự kỳ thị của xã hội liên quan đến khuynh hướng quan hệ tình dục của nhóm này. Vào khoảng trước thế kỉ thứ 19, hiện tượng đồng tính không được xã hội chấp nhận như một điều tự nhiên mà bị coi như một vấn đề bệnh lý liên quan đến sức khỏe tâm thần và cần phải chữa trị. Sau đó một thời gian dài cho đến thập niên 1960, bắt đầu xuất hiện cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng của những nhóm đồng tính nam đã xảy ra song hành cùng với nhiều cuộc đấu tranh khác tiêu biểu như cuộc cách mạng về quyền của người phụ nữ và quyền công dân.
Biểu trưng cho cuộc đấu tranh về quyền lợi của nhóm gay được đánh dấu bằng cuộc bạo loạn xảy ra tại Greenwich Village tại thành phố New York năm 1969 sau khi cảnh sát tấn công bất ngờ vào quán Stonewall. Trong suốt khoảng thời gian từ giữa cho đến cuối thập niên 1960, rất nhiều nhóm đồng tính nam đã phát triển và bắt đầu tạo áp lực với ngành Y tế và Hội tâm thần liên quan đến việc coi đồng tính như một bệnh. Trước những áp lực về chính trị và xã hội, năm 1970 Hội tâm thần Hoa Kỳ đã nhìn nhận và đánh giá lại hiện tượng đồng tính luyến ái. Vào tháng 12 năm 1973, hội tâm thần Hoa Kỳ đã quyết định loại bỏ hiện tượng “đồng tính” ra khỏi danh sách các bệnh lý tâm thần mà đã được đề xuất trước đó [47].
Đến ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố loại bỏ đồng tính luyến 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần. Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004. Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu Âu và rất nhiều nhà chức trách địa phương. Liên Hiệp quốc đã chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là "Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) - IDAHO" (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia) [20].
Tuy nhiên, đồng tính nam không phải xã hội nào cũng chấp nhận, họ chịu sự kỳ thị của cộng đồng và là nhóm yếu thế trong xã hội. Từ khi dịch HIV xuất hiện được phát hiện trên những người nam giới có quan hệ tình dục đồng tính, nhóm đồng tính nam được coi là một trong những nhóm có nguy cơ cao liên quan đến lây nhiễm HIV bởi hành vi quan hệ tình dục của họ [30].1 Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có các nghiên cứu tìm hiểu vê vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT, các yếu tố liên quan và hệ quả của các vấn đề sức khỏe tâm thần lên nhóm NĐT. Hướng nghiên cứu về tỷ lệ rối loạn lo âu và trầm cảm của nhóm NĐT Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra những vấn đề sức khỏe tâm thần mà quần thể NĐT phải đối mặt như vấn đề trầm cảm, lo âu khá phổ biến. Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian tại Ấn Độ cho thấy trong số 150 nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM- Men who have sex with men), 29% có nguy cơ trầm cảm và 24% có bất kỳ một rối loạn lo âu.
Kết quả này gợi ý cần có dịch vụ chăm sóc về sức khỏe tâm thần cho nhóm MSM ở Mumbai [42]. Nghiên cứu của Louis F. Graham và cộng sự năm 2011 trên quần thể NĐT da đen tại Mỹ cho thấy tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm là 30% và lo âu là 33% [40]. Trong nghiên cứu của Yan và cộng sự khi so sánh sự hỗ trợ xã hội và triệu chứng trầm cảm giữa nhóm nam có quan hệ tình dục đồng tính và nhóm 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nam bán dâm cho thấy triệu chứng trầm cảm trong nhóm nam bán dâm là 70% cao hơn nhóm MSM là 46% [33].
Nghiên cứu của Tomori điều tra trên 11000 MSM cho thấy 11% gặp vấn đề trầm cảm trong đó 1,1% trầm cảm nặng và 9,9% trầm cảm trung bình. Tỷ lệ có ý tưởng tự tử tương đối phổ biến trong nhóm nghiên cứu chiếm 34%. Tỷ lệ trầm cảm cao hơn trong nhóm MSM biết được tình trạng bị nhiễm HIV của mình là 55,6% và điều này cho thấy nhóm MSM nhiễm HIV dễ gặp vấn đề trầm cảm hơn so với nhóm không bị nhiễm HIV [26]. Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu và trầm cảm ở nhóm NĐT Có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố phân biệt kỳ thị có liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần trong quần thể nhóm NĐT.
Trong một nghiên cứu khác của tác giả Guanzhi Chen và cộng sự nghiên cứu trên 710 MSM chỉ ra rằng khoảng gần 1/2 MSM tham gia nghiên cứu này có những trải nghiệm với các hình thức khác nhau liên quan đến phân biệt đối xử và kỳ thị sau khi tiết lộ khuynh hướng tình dục bản thân. Và 44-60% trong số này cho biết cảm thấy đau khổ buồn phiền bởi khuynh hướng tình dục của bản thân và có hoặc không liên quan đến hành vi tình dục nguy cơ [32]. Nghiên cứu của Louis F. Graham trên quần thể NĐT da mầu cũng chỉ ra mối liên quan chặt chẽ giữa sự phân biệt đối xử liên quan đến vấn đề đồng tính.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy phân biệt chủng tộc và nhận thức của bạn bè những người đồng tính về tư tưởng chống đối lại những người đồng tính có liên quan đến tình trạng trầm cảm và lo âu của đối tượng tham gia nghiên cứu [40]. Nghiên cứu của Kyung-Hee Choi trên quần thể MSM gốc Phi, Á cũng chỉ ra nhận thức của cộng đồng về chủ nghĩa phân biệt người đồng tính là yếu tố liên quan đến trầm cảm của người tham gia nghiên cứu [37]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kết quả nghiên cứu của Tomori trên nhóm MSM chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa việc tiết lộ tình trạng xu hướng tình dục đồng giới của bản thân, tiết lộ tình trạng HIV bản thân và việc sử dụng chất gây nghiện làm tăng nguy cơ trầm cảm trong nhóm này. Việc thiếu hỗ trợ về tâm lý sau khi MSM tiết lộ xu hướng tình dục và tình trạng HIV của bản thân với người khác có thể đóng vai trò quan trọng làm tăng nguy cơ trầm cảm trong nhóm này.
Điều này cho thấy các dịch vụ hỗ trợ về sức khỏe tâm thần là cấu phần không thể thiếu cho các chương trình chăm sóc sức khỏe cho các nhóm MSM nói chung và MSM nhiễm HIV [26]. Bên cạnh các yếu tố làm tăng nguy cơ cao với trầm cảm và lo âu thì cũng có những yếu tố làm giảm các nguy cơ này trên nhóm MSM đã được các nghiên cứu chỉ ra. Một hướng nghiên cứu khác tìm hiểu các yếu tố bảo vệ giúp cho người đồng tính có thể đối phó với vấn đề trầm cảm và lo âu. Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian trên 150 MSM ở Ấn Độ nhận thấy rằng yếu tố tự tin vào bản thân và biết đến những dịch vụ hỗ trợ xã hội thì ít gặp vấn đề trầm cảm và lo âu [42].
Trong nghiên cứu của Yan trên nhóm MSM và nam bán dâm đồng tính cho thấy hỗ trợ xã hội là yếu tố bảo vệ với nguy cơ trầm cảm cụ thể nam bán dâm đồng tính nhận được nhiều dịch vụ hỗ trợ xã hội thì giảm nguy cơ gặp các dấu hiệu trầm cảm. Kết quả này gợi ý tới việc thiết kế các chương trình hỗ trợ tâm lý cho quần thể này [33]. Hướng nghiên cứu về hậu quả của các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm đồng tính Nghiên cứu của Salomon đề cập đến tác động của trầm cảm ảnh hưởng đến lòng tự trọng, sự tự tin, hành vi tự bảo vệ và có thể tăng nguy cơ sử dụng chất gây nghiện trong nhóm NĐT. Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện của nhóm MSM từ kết quả nghiên cứu này khá phổ biến bao gồm tài mà (60%), các loại 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ma túy gây ảo giác (40%) và amphetaminenhư (18%) [46].
Việc sử dụng chất gây nghiện như một chiến lược giúp MSM vượt qua các vấn đề về tâm thần mà họ đang gặp phải tuy nhiên họ cũng đối diện với các nguy cơ từ tác động gây hại của chất gây nghiện lên cơ thể trong quá trình sử dụng. Với nhóm MSM nhiễm HIV, các nghiên cứu cũng đề cập tới các vấn đề sức khỏe tâm thần mà nhóm gặp phải nếu không được hỗ trợ sẽ ảnh hưởng đến việc gắn kết nhóm này với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tuân thủ điều trị HIV [26]. Hệ quả nguy hại nhất của trầm cảm nếu không được hỗ trợ kịp thời có thể dẫn đến tự tử. Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm MSM ở Mumbai rất cao và 45% có ý tưởng về tự tử trong đó 66% nguy cơ thấp, 19% nguy cơ trung bình và 15% nguy cơ cao [42].2 Các nghiên cứu tại Việt Nam Các nghiên cứu tại Việt Nam bắt đầu quan tâm đến quần thể MSM trong đó có nhóm NĐT từ những thập niên 1990.
Tuy nhiên, từ những năm 2000 trở đi mới có những nghiên cứu quan tâm đến vấn đề sức khỏe tâm thần của quần thể MSM. Hướng nghiên cứu về đặc điểm nhóm NĐT ở Việt Nam và nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.