CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN SỨC KHOẺ TÂM THẦN ̣ sức khỏe tâm thần 1. Khái niêm Sức khoẻ tâm thầ n (SKTT) là một trạng thái không chỉ không có rối loạn tâm thần mà còn là một trạng thái tâm thần hoàn toàn thoải mái; muốn có một trạng thái tâm thần thoải mái cần phải có chất lượng cuộc sống tốt, có được sự cân bằng và hòa hợp giữa cá nhân, người xung quanh và môi trường xã hội [22]. Thực chất của SKTT là sự phát triển hài hòa của cá nhân với môi trường, đây là một phần không thể thiếu đối với sức khỏe và hạnh phúc nói chung.
Cá nhân có SKTT tốt nghĩa là có khả năng kết nối, hoạt động, ứng phó và phát triển tốt hơn. Những người khỏe mạnh về mặt tâm thần nghĩa là họ có cuộc sống độc lập và có tính tự quyết, có cái nhìn thực tế về khả năng và những thiếu sót, khuyết điểm của bản thân cũng như của người khác, có khả năng tự hàn gắn để duy trì cân bằng khi có các sự cố gây mất thăng bằng. SKTT tồn tại trên một phạm vi liên tục phức tạp, với những trải nghiệm từ trạng thái hạnh phúc tối ưu đến trạng thái suy nhược vì đau khổ và đau đớn về mặt cảm xúc. Tại bất kỳ thời điểm nào, một tập hợp đa dạng các yếu tố cá nhân, gia đình, cộng đồng có thể kết hợp để bảo vệ hoặc làm suy yếu SKTT của chúng ta.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, chăm sóc SKTT có tầm quan trọng đặc biệt, mỗi người muốn có sức khỏe tốt đồng nghĩa phải có SKTT tốt. Một số các rối loạn SKTT thường gặp nhất hiện nay như lo âu, trầm cảm, stress, rối loạn giấc ngủ [33][34]. Rối loạn lo âu 1. Khái niệm lo âu Lo âu là một trạng thái căng thẳng cảm xúc, là hiện tượng phản ứng tự nhiên của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua, tồn tại, hướng tới.
Lo âu có thể được coi là một hành vi chống lại một nguy hiểm không tồn tại trong thực tế hoặc đáp ứng lại một số kích thích đó tạo ra sợ trong tiền sử [4]. Do đó, lo âu còn là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa. 3 Rối loạn lo âu là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động quá mức hoặc vô lý. Rối loạn lo âu còn là sự đáp ứng không phù hợp với các kích thích của cơ thể và môi trường (cường độ và thời gian).
Rối loạn lo âu là sự đáp ứng cả về tâm thần (các triệu chứng chủ quan) và cơ thể (rối loạn thực vật, trương lực cơ…). Nguyên nhân gây lo âu Rối loạn lo âu là rối lọa có nguyên nhân bệnh sinh phức tạp, do nhiều nhân tố tác động qua lại tạo thành. Theo ICD10, rối loạn lo âu nằm trong mục các rối loạn bệnh tâm căn có liên quan đến stress và dạng cơ thể, bao gồm các nhóm như rối loạn lo âu ám ảnh; rối loạn lo âu liên quan đến sang chấn tâm lý, nhân cách người bệnh và một số rối loạn lo âu khác [4][21]. Có nhiều giả thiết được nghiên cứu để chỉ ra nguyên nhân của lo âu, trong đó tập trung vào một số nguyên nhân chính gồm: - Yếu tố di truyền: rối loạn lo âu có thể ảnh hưởng tới nhiều thành viên trong một gia đình liên quan đến cơ chế di truyền.
- Điện hóa trong não: rối loạn lo âu có thể xảy ra do sự rối loạn các chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ khiến người bệnh mất khả năng kiểm soát cảm xúc và nỗi lo lắng. - Môi trường: sự căng thẳng quá mức hoặc kéo dài, nhất là trong giai đoạn thơ ấu có thể dẫn đến chứng rối loạn lo âu khi trưởng thành. - Lạm dụng chất gây nghiện: nhiều người sử dụng các chất gây nghiện như rượu bia, ma túy để cải thiện cảm xúc tiêu cực. Song nếu lạm dụng các chất này có thể gây rối loạn lo âu và nhiều bệnh tâm thần khác.
- Bệnh lý khác: một số bệnh lý tim mạch hay hô hấp có thể làm xuất hiện triệu chứng tương tự như rối loạn lo âu. Ngoài ra, khi người bệnh không hiểu rõ các bệnh lý mà mình đang mắc phải có thể dẫn đến lo lắng quá mức và gây ra rối loạn lo âu. Đặc điểm lâm sàng của lo âu Lo âu có thể phân biệt với sợ hãi ở chỗ sự sợ hãi là một phản ứng rõ ràng với một mối đe dọa và chắc chắn đến từ bên ngoài, trong khi đó lo âu là một tín hiệu cảnh báo phát sinh từ một xung đột nội tâm. 4 Rối loạn lo âu có xu hướng khác với lo âu thông thường ở việc kéo dài dai dẳng, quá mức, suy nhược và khó chịu.
Từ đó gây ra một loạt các triệu chứng thực thể, bao gồm: - Triệu chứng tâm thần: + Thời gian: Kéo dài lặp đi lặp lại, thường trên 6 tháng, gây khó chịu nhiều. + Cơ bản là lo âu, hoảng sợ, trạng thái bồn chồn bất an ở bất kỳ mức độ nào, thường phát sinh cấp, thời gian diễn biến bệnh kéo dài nhiều ngày nhiều tuần. + Chủ đề: Không có chủ đề rõ ràng mang tính chất vô lý, mơ hồ như lo lắng về tương lại, một số ít có thể có chủ đề biệt định. - Những biểu hiện cơ thể: + Hô hấp: khó thở đa dạng như nghẹt thở, nặng tức vùng ngực.
+ Tim mạch: đánh trống ngực, mạch nhanh, đau vùng trước tim được mô tả như nóng bỏng, đau nhói hoặc bóp chặt lại… thường kèm theo với rối loạn cảm giác. + Tiêu hóa: co thắt dạ dày và ruột kèm theo đau nhói, nôn, buồn nôn, ỉa chảy, mót rặn hoặc khô miệng. + Tiết niệu: rối loạn tiểu tiện, tiểu rắt, tiểu nhiều lần trong ngày… + Thần kinh cơ: run, rung mặt đặc biệt rung mí mắt và run chân tay. + Giác quan và cảm giác: tăng và loạn cảm giác, sởn da gà, tiết nhiều mồ hôi, đau nhói, nghe kém, nhìn mờ, đau đầu, chóng mặt… Rối loạn lo âu lan tỏa thường phổ biến nhất trong các dạng rối loạn lo âu (chiếm khoảng 2-8% dân số) và thường gặp trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.
Các triệu chứng cơ thể của lo âu không thể giải thích và không phù hợp với tổn thương cơ thể bên dưới. Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn lo âu Theo ICD-10, một số tiêu chuẩn để chẩn đoán rối loạn lo âu bao gồm: A. Trạng thái căng thẳng, lo sợ kéo dài >= 6 tháng về các sự kiện thường ngày (sức khỏe, công việc, tài chính, người thân. Có ít nhất 4 triệu chứng sau - Kích thích thần kinh thực vật - Triệu chứng liên quan vùng ngực bụng - Triệu chứng liên quan trạng thái tâm thần - Các triệu chứng toàn thân 5 - Các triệu chứng căng thẳng - Các triệu chứng không đặc hiệu khác C.
Không đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu ám ảnh sợ, ám ảnh nghi thức [21]. * Ngoài ra: Để chẩn đoán rối loạn lo âu lan tỏa, ngoài tiêu chuẩn các triệu chứng lâm sàng còn có thể tham khảo kết quả trắc nghiệm tâm lý đánh giá lo âu. * Xác định lo âu cần lưu ý: - Khi người bệnh mô tả các triệu chứng lo âu cần hỏi bệnh chi tiết để xác định rõ các vấn đề : + Có phải là lo âu bình thường đáp ứng với các stress của cuộc sống không? + Có phải là lo âu đáp ứng với stress của cuộc sống nhưng quá mức không? + Lo âu có thường xuyên không (phân biệt với nhân cách lo âu)? + Có phải triệu chứng này là một phần của trạng thái tâm thần khác như loạn thần, trầm cảm hoặc sa sút trí tuệ không? + Có dấu hiệu để khẳng định lo âu liên quan đến sử dụng các chất kích thích không? (rượu, các chất ma túy…) - Các rối loạn cần lưu ý không bỏ qua: + Lo âu do có một bệnh thực thể nằm bên dưới như rối loạn nhịp tim, viêm họng, viêm phổi… có thể gây khó thở, trống ngực, khó chịu ở ngực. + Cơn lo âu là biểu hiện của bệnh lý khác như động kinh, cường giáp… + Các thuốc điều trị bệnh cơ thể gây lo âu: thuốc giãn phế quản (theophylin, hạ huyết áp chẹn kênh canxi…) - Khi các rối loạn lo âu gây ra bởi các bệnh lí cơ thể và liên quan sử dụng chất kích thích đã loại trừ được cần hỏi thêm: + Có tiền sử cơn hoảng sợ không? + Lo âu tự phát hay gợi ý? + Tiền sử có né tránh, ám ảnh sợ không? + Có ám ảnh cưỡng bức không? + Có sang chấn thúc đẩy không? + Người bệnh này có phải là lo âu lan tỏa không? 6 1.
Rối loạn trầm cảm 1. Khái niệm trầm cảm Thuật ngữ trầm cảm hay sầu uất được Hippocrate dùng để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loạn khí sắc. Rối loạn trầm cảm là một bệnh lý rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi một hoặc nhiều giai đoạn trầm cảm. Theo WHO, trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến, đặc trưng bởi sự buồn bã, mất hứng thú hoặc niềm vui, cảm giác tội lỗi hay tự đánh giá thấp giá trị bản thân, rối loạn giấc ngủ hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi và kém tập trung [5].
Sự ức chế dẫn tới làm giảm sút các mặt hoạt động tâm thần và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh hoạt, hiệu suất lao động và học tập của con người. Nguyên nhân gây trầm cảm Một số nguyên nhân chính của trầm cảm như sang chấn tâm lý; trầm cảm thực tổn và không tìm được nguyên nhân (nội sinh). Theo ICD-10 trầm cảm có các giai đoạn như nhẹ, vừa, nặng không kèm triệu chứng loạn thần và nặng kèm loạn thần [21]. Một số nguyên nhân chính gồm: - Nội sinh: Có thể do di truyền, yếu tố tự miễn, môi trường sống, xã hội… - Trầm cảm do căng thẳng: Do áp lực từ nhiều phía như công việc, gia đình, con cái, phá sản hay do những điều đột ngột xảy đến như mất tiền của… - Trầm cảm có thể xuất hiện sau các bệnh lý hay chấn thương tác động trực tiếp đến não bộ.
- Trầm cảm có thể không rõ nguyên nhân.