Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN 1. Khái quát về quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, pháp luật về hình phạt và quyết định hình phạt gắn liền với pháp luật hình sự. Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, các Nhà nước phong kiến Việt Nam đã xây dựng nhiều Bộ luật như Bộ luật hình thư thời Lý, Bộ luật hình thư thời Trần, Bộ luật Hồng Đức thời Hậu Lê và Bộ luật Gia Long thời Nguyễn (Quốc Triều hình luật). Trong các Bộ luật này đều quy định về hình phạt tù và các nguyên tắc quyết định hình phạt.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, pháp luật nước ta chịu ảnh hưởng của luật pháp phong kiến và luật tư sản Pháp. Thực dân Pháp không những thực hiện chính sách chia để trị trong tổ chức chính quyền mà còn áp dụng cả trong việc thi hành chế độ pháp luật khác biệt giữa ba miền Nam kỳ, Trung kỳ và Bắc kỳ. Thực dân Pháp đặt Nam kỳ là chế độ "thuộc địa" và áp dụng một số chế độ cai trị hà khắc theo luật tư sản Pháp. Còn Bắc kỳ, Trung kỳ, thời kỳ đầu vẫn áp dụng Bộ luật Gia Long.
Cách mạng tháng Tám thành công, quy định về hình phạt tù có thời hạn trong giai đoạn này nằm rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật hình sự mang tính chất đơn lẻ và là hình phạt được áp dụng hầu hết với các loại tội phạm. Hình phạt tù có thời hạn hầu như được quy định với hình thức trong điều khoản cuối cùng của một văn bản pháp luật, nó được quy định cùng với chế tài khác khi có sự vi phạm điều cấm nêu ra trong một văn bản quy phạm pháp luật. Nghiên cứu các văn bản kể trên và một số văn bản khác được ban hành trong những năm đầu thập kỷ 50 cho thấy việc quy định thời hạn hình phạt tù chưa 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống nhất, mức thời hạn hình phạt tù có thời hạn rất ngắn từ 3 ngày đến 10 ngày (Sắc lệnh 157 ngày 16-8-1946), 15 ngày đến 3 năm (Luật số 103 ngày 20- 5-1957), 01 tháng đến 01 năm (Luật số 102 ngày 20-5-1957)… Từ năm 1945 đến trước khi BLHS năm 1985 ra đời. Trong giai đoạn này, việc quyết định hình phạt của Toà án trong thực tiễn đã được dựa trên các căn cứ pháp lý nhất định.
Theo Bản tổng kết về thảo luận báo cáo công tác ngành Toà án năm 1959 của TAND tối cao, việc quyết định hình phạt đã được dựa trên những căn cứ nhất định là căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hại của hành vi phạm pháp, căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, có tiền án hay không, khả năng cải tạo, thành tích.), căn cứ vào pháp luật hiện có, vào đường lối chính sách chung, vào án lệ, kinh nghiệm. Đến Báo cáo tổng kết công tác năm 1962 của TAND tối cao đã khẳng định việc quyết định hình phạt cũng căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS. Đánh giá chung, các căn cứ này đã không chỉ giúp cho Toà án lượng hình một cách chính xác, góp phần giải quyết vụ án hình sự theo đúng đường lối, chính sách, mà còn là cơ sở cho việc hoàn thiện các căn cứ quyết định hình phạt trong BLHS năm 1985. Năm 1985, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Bộ luật hình sự năm 1985 thì 100% các điều, khoản quy định về tội phạm đều có chế tài là hình phạt tù, trong đó gần 64% các điều, khoản có chế tài là hình phạt tù có thời hạn và các hình phạt khác nặng hơn hình phạt tù có thời hạn.
Chỉ có khoảng 30% điều, khoản có chế tài lựa chọn giữa hình phạt tù có thời hạn và các hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù. Điều đó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định hình phạt của Toà án các cấp trong thực tiễn xét xử. Dẫn đến số người bị kết án tù có thời hạn chiếm đa số trong tổng số người bị kết án và có chiều hướng năm sau cao hơn năm trước. Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời đánh dấu một bước tiến lớn trong 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch sử phát triển của luật hình sự nước ta.
Bộ luật Hình sự năm 1985 là sự kế thừa và phát triển luật hình sự của Nhà nước ta từ Cách mạng tháng Tám, tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm ở nước ta trong mấy chục năm trước. Lần đầu tiên các loại tội phạm, hình phạt và các căn cứ quyết định hình phạt được tập hợp lại quy định thống nhất trong một văn bản là Bộ luật Hình sự. Với sự ra đời của BLHS năm 1985, lần đầu tiên, các căn cứ quyết định hình phạt đã được chính thức quy định Điều 37 bao gồm: “ các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự” [26, tr. Có thể nói, nội dung của Điều 37 chính là sự kế thừa trên cơ sở hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ quyết định hình phạt từ năm 1945 đến giai đoạn này.
Việc quy định căn cứ quyết định hình phạt trong BLHS sẽ đảm bảo cho quyết định hình phạt được thực hiện một cách chính xác và thống nhất trong cả nước. Kể từ năm 2000 đến nay, Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009) đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, một loạt các văn bản hướng dẫn về các vấn đề thuộc Phần chung và Phần các tội phạm cụ thể được ban hành, mà điển hình là các nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các Thông tư liên tịch hướng dẫn về một số nhóm tội phạm cụ thể như: Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4.2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15.2001 hướng dẫn áp dụng một số quy 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 BLHS năm 1999; Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17.2003 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS; Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12.2006 hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02.2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt; Để đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động quyết định hình phạt, Điều 45 BLHS năm 1999 (được sửa đổi và bổ sung năm 2009) quy định các căn cứ quyết định hình phạt mà Toà án bắt buộc phải dựa vào khi quyết định hình phạt, đó là:“quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [28, tr. Quy định của BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Toà án định tội danh và xác định khung hình phạt, yêu cầu đầu tiên của việc lựa chọn đúng loại và mức hình phạt cụ thể.
Việc quy định căn cứ “quy định của bộ luật hình sự” nhằm đảm bảo tính thống nhất, đúng pháp luật khi áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự vào quyết định hình phạt. Nếu không dựa vào quy định của BLHS sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện hoặc lạm dụng các quy phạm pháp luật hình sự khi quyết định hình phạt, đồng thời hình phạt được quyết định cũng khó có thể tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Theo đó, những quy định của BLHS hiện hành về quyết định hình phạt bao gồm: Các quy định có tính định hướng chung cho việc quyết định hình phạt: Nguyên tắc xử lý… Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra [28, tr. Quy định tại Điều 3 BLHS ; Miễn trách nhiệm hình sự trong quy định Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: “ Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm. Nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này” [28, tr.47] tại Điều 19 BLHS và Điều 25 BLHS quy định ba trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự theo luật định [28, tr.50]; Mục đích của hình phạt: Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm [28, tr.
Quy định tại Điều 27 BLHS; Các hình phạt quy định tại Điều 28 BLHS [28, tr.51]; những quy định về nội dung, phạm vi, điều kiện áp dụng của từng hình phạt (từ Điều 29 đến Điều 40 của Bộ luật hình sự); Căn cứ quyết định hình phạt :“… quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự” [28, tr.