Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp hình sự, hoạt động quyết định hình phạt giữ vai trò then chốt nhằm hiện thực hóa công lý và bảo vệ quyền con người. Báo cáo thống kê công tác thụ lý và giải quyết án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong giai đoạn 5 năm (2014 - 2018) cho thấy hàng trăm vụ án hình sự dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị hoặc chưa đạt gặp nhiều lúng túng trong định lượng mức án. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là giải quyết những bất cập, thiếu thống nhất trong thực tiễn lượng hình đối với các hành vi chưa hoàn thành, bảo đảm sự phân hóa trách nhiệm hình sự chính xác và công bằng.

Mục tiêu cụ thể của luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 8380101.03) là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, hệ thống hóa lịch sử lập pháp từ năm 1945 đến nay, đồng thời đánh giá toàn diện các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 25 tội danh có quy định xử lý hành vi chuẩn bị phạm tội và thực tiễn xét xử tội phạm chưa đạt tại Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2018, kết hợp so sánh kinh nghiệm lập pháp của 4 quốc gia phát triển. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc chuẩn hóa hoạt động xét xử, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ các bản án bị hủy hoặc sửa do áp dụng sai quy tắc lượng hình xuống dưới 1,5%, đồng thời tối ưu hóa hiệu quả trừng trị và giáo dục người phạm tội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết cá thể hóa hình phạt và học thuyết mục đích của hình phạt trong khoa học luật hình sự hiện đại, kết hợp với lý thuyết về cấu thành tội phạm và các giai đoạn thực hiện tội phạm cố ý. Mô hình nghiên cứu phân tích quyết định hình phạt như một quy trình nhận thức logic hai bước: bước đầu tiên dựa trên các căn cứ chung và bước thứ hai áp dụng các nguyên tắc đặc thù cho hành vi chưa hoàn thành.

Khung lý thuyết làm rõ 4 khái niệm nền tảng:

  • Quyết định hình phạt là hoạt động tư pháp của Tòa án nhằm lựa chọn loại và mức chế tài tương xứng trong phạm vi luật định.
  • Chuẩn bị phạm tội là giai đoạn đầu tạo điều kiện vật chất hoặc tinh thần nhưng chưa thực hiện hành vi khách quan.
  • Phạm tội chưa đạt là trường hợp đã bắt đầu thực hiện tội phạm nhưng không hoàn thành do nguyên nhân ngoài ý muốn.
  • Căn cứ quyết định hình phạt bao gồm 4 yếu tố bắt buộc quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015: quy định pháp luật, tính chất nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội, cùng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ.

Nghiên cứu cũng phân biệt sâu sắc 2 trạng thái: phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành, làm cơ sở lượng hình đối với 25 tội danh theo Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được xây dựng từ tập dữ liệu thực tế gồm 300 vụ án hình sự sơ thẩm được khảo sát chuyên sâu tại Tòa án nhân dân một số tỉnh, thành phố trọng điểm, kết hợp với báo cáo tổng kết xét xử sơ thẩm toàn quốc tại 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 5 năm từ 2014 đến 2018.

Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp chọn mẫu điển hình đối với các nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, sở hữu và an toàn công cộng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm bảo đảm cỡ mẫu 300 vụ án phản ánh đầy đủ các tình huống chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt phổ biến trong thực tế.

Phương pháp phân tích dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phối hợp đồng bộ các phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu và so sánh luật học đối chiếu với pháp luật của 4 quốc gia gồm Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Thụy Điển và Nhật Bản. Việc lựa chọn các phương pháp phân tích này giúp nhận diện chính xác sự biến đổi của chế định qua các mốc lịch sử từ năm 1945, năm 1985, năm 1999 đến năm 2015 và tiến trình nghiên cứu được triển khai từ năm 2018 đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát 300 vụ án hình sự sơ thẩm giai đoạn 2014 - 2018 mang lại những phát hiện quan trọng:

  • Thứ nhất, hành vi phạm tội chưa đạt chiếm tỷ trọng áp đảo với khoảng 92,3% tổng số vụ án có giai đoạn chưa hoàn thành, trong đó tội giết người chưa đạt (Điều 123) chiếm 41,7% và tội cướp tài sản chưa đạt (Điều 168) chiếm 27,3%. Hành vi chuẩn bị phạm tội chỉ chiếm khoảng 7,7% do khó khăn trong việc phát hiện và thu thập chứng cứ.
  • Thứ hai, tỷ lệ áp dụng khung hình phạt khống chế theo Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 đạt 100% tại các bản án có hiệu lực pháp luật, trong đó mức phạt tù cho hành vi chuẩn bị phạm tội luôn được giới hạn không quá 1/2 và phạm tội chưa đạt không quá 3/4 mức phạt tù của điều luật tương ứng.
  • Thứ ba, việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 đạt tỷ lệ 86,5% trong các vụ án phạm tội chưa đạt, chủ yếu là tình tiết người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại.
  • Thứ tư, thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn tồn tại khoảng 4,2% số bản án có sự nhầm lẫn giữa chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành, đặc biệt là khi xác định hành vi đi liền trước hành vi khách quan, dẫn đến mức án chênh lệch từ 2 đến 3 năm tù đối với cùng một tính chất hành vi.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của các hạn chế trên xuất phát từ việc thiếu các hướng dẫn cụ thể về tiêu chí phân định ý chí chủ quan và tính chất nguy hiểm của hành vi chưa hoàn thành. So sánh với Bộ luật Hình sự năm 1999 vốn chỉ quy định chung chung về chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khiến khung hình phạt bị đẩy lên mức khởi điểm từ 5 đến 7 năm tù, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có bước tiến lớn khi thiết kế khung hình phạt riêng tại khoản cuối của 25 điều luật cụ thể. Tham chiếu mô hình tư pháp hình sự của Liên bang Nga và Trung Quốc cho thấy sự tương đồng trong việc bắt buộc giảm từ 25% đến 50% mức hình phạt tối đa đối với các trường hợp chưa hoàn thành nhằm bảo đảm tính nhân đạo.

Dữ liệu xét xử sơ thẩm của 63 tỉnh, thành phố giai đoạn 2014 - 2018 được tổng hợp thành biểu đồ cột phản ánh số lượng thụ lý hàng năm và bảng thống kê ma trận 300 vụ án theo nhóm tội. Cách trực quan hóa này giúp các Thẩm phán dễ dàng đối chiếu mức độ thực hiện ý định phạm tội, hậu quả thực tế đã xảy ra và nguyên nhân khách quan ngăn chặn để định lượng hình phạt một cách khoa học.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng quyết định hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  • Ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành 01 Nghị quyết hướng dẫn chi tiết Điều 14, Điều 15 và Điều 57 Bộ luật Hình sự trong thời gian 12 tháng tới, nhằm cụ thể hóa 100% các tiêu chí nhận diện hành vi đi liền trước và nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.
  • Tăng cường tập huấn kỹ năng định lượng hình phạt: Học viện Tòa án và các cơ sở đào tạo tư pháp cần triển khai định kỳ 2 khóa bồi dưỡng chuyên sâu mỗi năm trong lộ trình 2021 - 2025 cho 100% Thẩm phán, Kiểm sát viên, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ bản án bị kháng nghị hoặc sửa đổi về phần hình phạt xuống dưới mức 1,0%.
  • Đẩy mạnh nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa: Các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện cần bảo đảm 100% các phiên tòa xét xử vụ án chuẩn bị phạm tội hoặc chưa đạt dành đủ thời lượng tranh luận về mức độ thực hiện ý định phạm tội, kiểm tra kỹ lưỡng động cơ và phương tiện gây án trước khi tuyên án.
  • Tối ưu hóa cơ chế kiểm sát và giám sát án điểm: Viện kiểm sát nhân dân các cấp cần định kỳ 6 tháng một lần thực hiện kiểm sát chuyên đề đối với 25 tội danh có quy định xử lý chuẩn bị phạm tội, tập trung kiểm tra chặt chẽ 100% hồ sơ liên quan đến người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội theo quy định tại khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn và lý luận cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Kiểm sát viên: Nắm vững phương pháp lượng hình hai bước, áp dụng chuẩn xác 4 căn cứ định lượng mức án và tỷ lệ khống chế 1/2 hoặc 3/4 mức phạt tù theo Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 trong giải quyết các vụ án hình sự phức tạp.
  • Luật sư và chuyên viên trợ giúp pháp lý: Sử dụng nguồn dữ liệu thực chứng từ 300 hồ sơ vụ án để xây dựng luận cứ bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ dựa trên các tình tiết ngăn cản ngoài ý muốn và mức độ hoàn thành hành vi.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên luật: Khai thác tài liệu tham khảo giá trị thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 8380101.03), phục vụ học tập và nghiên cứu tiến trình 75 năm lập pháp hình sự Việt Nam (1945 - 2020) cùng kinh nghiệm quốc tế từ 4 quốc gia.
  • Cơ quan lập pháp và nghiên cứu chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp đánh giá hiệu quả thi hành 25 điều luật có chế tài chuẩn bị phạm tội, phục vụ công tác rà soát và hoàn thiện pháp luật hình sự trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định mức phạt tối đa đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội như thế nào? Theo khoản 2 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, mức hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội được quyết định trong phạm vi khung hình phạt do điều luật quy định; nếu điều luật có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt cao nhất là không quá 20 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quy định. Quy định này chỉ áp dụng đối với 25 tội danh được liệt kê cụ thể.

Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự khi chuẩn bị phạm tội trong những trường hợp nào? Căn cứ khoản 3 Điều 14 Bộ luật Hình sự năm 2015, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội đối với 2 tội danh đặc biệt nghiêm trọng gồm: Tội giết người (Điều 123) và Tội cướp tài sản (Điều 168). Quy định này thể hiện chính sách hình sự nhân đạo, thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý đối với người chưa thành niên.

Sự khác biệt cốt lõi giữa phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành và phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là gì? Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp người phạm tội vì nguyên nhân khách quan chưa thực hiện hết các hành vi cần thiết để gây ra hậu quả, ví dụ mới giơ dao lên thì bị giữ lại. Ngược lại, phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là trường hợp người phạm tội đã thực hiện hết mọi hành vi cần thiết nhưng hậu quả không xảy ra ngoài ý muốn, ví dụ đã chém nạn nhân nhưng nạn nhân được cấp cứu kịp thời nên không tử vong.

Tòa án phải dựa vào những căn cứ đặc thù nào khi quyết định hình phạt đối với hành vi chưa đạt? Bên cạnh 4 căn cứ chung quy định tại Điều 50, Tòa án bắt buộc phải xem xét các căn cứ đặc thù quy định tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015 bao gồm: tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mức độ thực hiện ý định phạm tội, cùng các tình tiết khách quan khác khiến tội phạm không thực hiện được đến cùng để quyết định mức án không quá 3/4 khung phạt tù.

Dữ liệu thực tiễn trong luận văn được thu thập từ những nguồn nào và quy mô ra sao? Dữ liệu nghiên cứu được thu thập toàn diện từ báo cáo tổng kết xét xử sơ thẩm của ngành Tòa án tại 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc trong giai đoạn 5 năm (2014 - 2018). Đồng thời, tác giả trực tiếp khảo sát và phân tích chuyên sâu hồ sơ 300 vụ án hình sự sơ thẩm thực tế tại một số địa phương trọng điểm để bảo đảm độ tin cậy khoa học cao.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện quá trình phát triển 75 năm của chế định quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt từ năm 1945 đến Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • Công trình làm sáng tỏ bản chất của 4 căn cứ chung và các căn cứ đặc thù, khẳng định nguyên tắc cá thể hóa hình phạt bắt buộc phải giảm nhẹ mức chế tài so với tội phạm hoàn thành.
  • Đánh giá thực chứng 300 vụ án hình sự sơ thẩm và dữ liệu của 63 tỉnh, thành phố giai đoạn 2014 - 2018, chỉ ra những vướng mắc thực tế trong phân định giai đoạn thực hiện tội phạm.
  • So sánh đối chiếu kinh nghiệm lập pháp tiến bộ của 4 quốc gia (Nga, Trung Quốc, Thụy Điển, Nhật Bản), tạo nền tảng lý luận vững chắc cho việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm chuẩn hóa hoạt động xét xử và hạn chế sai sót tư pháp trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Đóng góp chính của luận văn là hoàn thiện cơ sở lý luận và thực tiễn định lượng hình phạt đối với 25 tội danh chuẩn bị phạm tội và các trường hợp chưa đạt. Trong lộ trình cải cách tư pháp giai đoạn 2021 - 2025, các cơ quan tư pháp và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh ứng dụng các kết quả nghiên cứu của đề tài vào thực tế xét xử nhằm bảo đảm tính nghiêm minh, nhân đạo và bảo vệ vững chắc quyền con người.