Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN HUONG DUNG 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm Vật quyên 1. Định nghĩa vật quyên Con người từ thời kì sơ khai, khi mà ý thức xã hội vẫn còn hạn chế thì người nguyên thủy đã biết chiếm giữ những vật chất trong tự nhiên như hoa quả, săn bắt thú rừng, sáng tạo ra công cụ lao động tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra của cải, vật chất dé phục vụ cho những nhu cầu cơ bản nhất của mình.
Xã hội loài người không ngừng phát triển, con người dé chống lại sức ép của tự nhiên và tìm kiếm sự an toàn, họ buộc phải liên kết với nhau bằng sự thỏa hiệp tương hỗ hình thành nên một liên minh gọi là Nhà nước'. Khi con người từ bỏ trạng thái tự nhiên thì pháp quyền xuất hiện. Sự ra đời của Nhà nước và pháp luật đã buộc những chủ thé trong quan hệ xã hội phải từ bỏ các quyền mà họ giữ ở trạng thái tự nhiên để được hưởng các quyền khác. Trong quan hệ tài sản, con người can sự công nhận từ xã hội để xác lập quyền sở hữu của họ lên những của cải mà họ làm ra, cần được pháp luật bảo vệ và được tôn trọng từ các chủ thể khác trong xã hội là một tất yếu khách quan trong đời sống xã hội dân sự.
Nhà nước bằng công cụ quản lý xã hội của mình là pháp luật, phải thừa nhận khi một người có tài sản thì họ được xử sự với tài sản của mình như thế nào? Họ được thực hiện những quyền gì trên tài sản đó? Có những cơ chế nào bảo vệ địa vị chủ sở hữu của họ đối với tài sản? Với vị trí quan trọng, vấn đề sở hữu luôn là vẫn đề then chốt trong pháp luật dân sự không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với tất cả các nước khác trên thế giới. Soi chiếu trong chiều dai lịch sự pháp luật thé giới, các học giả pháp luật của bat cứ quốc gia nào trên thế giới cũng thường quay về tìm hiểu những chế định pháp luật xa xưa từ thời La Mã cô đại. Bởi lẽ Luật La Mã được xem là một biểu tượng cổ điển nhất về mặt pháp luật của những biến động trong ! Nguyễn Thị Hồi (2006), Mét số quan điểm về nguén gốc của Nhà nước , Hội thảo khoa học bàn về Sự ra đời của Nhà nước, tr.5 đời sống kinh tế - chính trị của người La Mã. Nói về luật La Mã, Gomsten cho răng: “Nghiên cứu luật pháp phải bat dau từ luật La Mã, bởi vì nếu không nghiên cứu luật La Mã thì tốn phí biết bao công sức một cách vô ích để tim thấy cái người ta đã tìm thấy từ lâu”.
Cũng không nam ngoài sức ảnh hưởng của Luật La Mã, nhiều quốc gia trên thé giới cho đến ngày nay cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc về việc quy định các cách thức xử sự gắn với nhóm hành vi cụ thé tác động lên tài sản. Khái niệm vật quyền xuất hiện trong Luật La Mã và được biết đến dưới tên goi jus in re (quyén trên vật), Luật La Mã cũng không đưa ra được một định nghĩa hoàn chỉnh về vật quyền như đối với trái quyền (jus ad rem). Song, lý thuyết vật quyền đã được hoàn thiện trong học thuyết pháp lý Latin vào đầu thế kỉ XIX, sau khi Bộ luật Napoleon - Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới ra đời, song song với sự hoàn thiện của lý thuyết về trái quyền. Tại Bộ luật Napoleon (1984) vật quyền được quy định ngay trong phần thứ 2.
Trong BLDS của Nhật Bản vật quyền được quy định tại phần hai (trái quyền tại phần ba). BLDS của Đức gồm 5 quyên và vật quyền được quy định tại Quyền 3. Theo luật vật quyền Trung Quốc định nghĩa: Vat guyên là việc độc quyên được hưởng thụ hưởng trực tiếp và kiểm soát các thuộc tính cụ thể bao gom cả quyên sở hữu, hưởng hoa lợi và an toàn ngay trong quyên sở hữu”. Do lý thuyết về vật quyền xuất phát từ Luật La Mã nên để hiểu khái niệm vật quyền ta phải đi từ cách hiểu về “vá/” của các luật gia La Mã.
Thuật ngữ “vat” (res) được sử dụng trong ngôn ngữ pháp ly Latin dé chỉ một vat tồn tại theo tính chất của nó, một vật có biểu hiện vật chất và cu thé. Mặc khác, “res” cũng được hiểu như một quyên trừu tượng mà con người có được đối với vật”. Nếu vật là đối tượng của quyền thì con người là chủ thé của quyền. Chính trong quan hệ đó mà vật được coi là tài sản.
Do vậy, hiểu theo cách cắt nghĩa chung nhất thì vật quyên là quyền đối với tài sản. ? Bùi Lê Thu (2016), Những điểm mới trong chế định quyền sở hữu và các quyên khác đối với tài sản trong BLDS năm 2015 phục vụ hoại động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, Luận văn thạc siluat học, Hà Nội, tr.36 3 Nguyễn Ngọc Điện (2009), Giáo trinh Luật La Ma, NXB.Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.11 trích trong tài liệu: Ngô Thùy Dương (2016), Hệ thống vật quyền trong BLDS năm 2015, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.6 Trong khoa học pháp lý, vật quyền được hiểu theo hai góc độc khác nhau: Tứ nhất: vật quyền được hiểu là quyên thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật. Người có vật quyền thực hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác từ người khác”. Mặc dù trong Luật La Mã không đưa ra khái niệm vật quyền một cách hoàn chỉnh, tuy nhiên lý thuyết vật quyền lại được xây dựng từ kết quả phân tích các đặc điểm của quyền sở hữu trong Luật La Mã”.
Khái niệm quyền sở hữu xuất hiện với ý nghĩa ghi nhận quyền năng của con người đối với tài sản của họ. Nó có nhiệm vụ xác lập và bảo vệ quyền của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối tượng tài sản thuộc quyền sở hữu của chính mình. Còn theo nghĩa hẹp thì quyền sở hữu được hiểu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thé được thực hiện các quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt với những điều kiện nhất định. Các luật gia La Mã đã nhận xét về bản chất của các quan hệ tài sản do tính xác định của các quan hệ đó.
Dé dap ứng một nhu cầu nào đó, một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua. Khi đã trở thành chủ sở hữu tài sản, họ có toàn quyền đối với tài sản đó, thực hiện tất cả những hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không phụ thuộc vào ý chí cũng như hành vi của người khác. Ngoài ra, họ cũng có thé thỏa thuận với người khác (người là chủ sở hữu của tài sản) dé sử dụng tài sản trong một thời hạn nhất định, trong trường hợp này họ sử dụng tài sản trong khuôn khổ đã thỏa thuận và phải trả lại tài sản khi hết thời hạn sử dụng. Trong trường hop thứ nhất, họ là người có quyên tuyệt đối với tài sản, quyền tài sản dang này được gọi là vật quyền (quyền đối vật).
Ở trường hợp thứ hai, quyên tài sản bị hạn chế bởi sự thỏa thuận và chỉ tồn tại trong một * Nguyễn Ngọc Điện (2010),”Sự cần thiết của việc vận dụng lý thuyết về vật quyền bảo đảm vào quá trình sửa đổi Bộ luật dân sự”, Tap chí Nghiên cứu lập pháp, (02), tr.39 ‹ > Ngo Thùy Dương (2016), Hệ thong vật quyên trong BLDS năm 2015, Luận văn thạc sĩ luật học,Hà Nội, tr.9 10 thời hạn nhất định, họ thực hiện quyền của mình phụ thuộc vào hành vi của người khác hoặc bị chi phối bởi hành vi của người khác, quyền tài sản dạng này được gọi là trái quyền (quyền đối nhân). Từ sự phân biệt trên người ta nhận thấy sự khác nhau giữa vật quyền và trái quyền được thê hiện ở chỗ đối tượng của vật quyền là một vật xác định, chủ thể quyền trực tiếp tác động lên vật (“attached to a thing”). Còn trái quyền chính là hành vi chủ thể quyền, có quyền yêu cầu phía bên kia thực hiện hay không được thực hiện một hành vi nao đó. Quyền đối vật được bảo vệ tuyệt đối, bất cứ ai có hành vi cản trở nguoi có quyền thực hiện của họ đều bị coi là bất hợp pháp.
Thứ hai, vật quyền được hiểu là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về vật với tư cách là đối tượng của vật quyên, nội dung của các loại vật quyền, căn cứ phát sinh, cham dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật quyền, các hạn chế mà người có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền năng của mình. Nói cách khác, theo góc độ này thì vật quyên chính là pháp luật về vật, về các quyền của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu đối với vật. Trong pháp luật dân sự Việt Nam, xét trong mối quan hệ giữa chế định quyên tài sản (vật quyên, trái quyền) với bản thân khái niệm tài sản, nếu việc xây dựng chế định vật quyên dựa trên lý thuyết quyên trực tiếp đối với vật sẽ không phù hợp trong điều kiện tài sản hiện nay không chỉ gồm vật mà còn gồm tiền, giấy tờ có giá, quyên tài sản. Đồng thời, néu xác định quyền sở hữu là vật quyền trung tâm, thì giới hạn của quyền sở hữu càng không thể chỉ ở sở hữu đối với vật.
Quyên tài sản là một cách nhìn nhận tai sản như một khái niệm pháp lý. Về mặt pháp lý, tài sản có thể được nhận biết như là một vật hoặc một quyên. Việc phân loại tài sản chỉ được thực hiện sau khi việc lựa chọn cách tiếp cận — vat hay quyền — đã ngã ngũ. Tài sản được phân loại theo những cách khác Dương Đăng Huệ (2015), “Nên sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật Dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, sô 13 (293), Tr.
11 nhau tuỳ theo nó được hiểu là vật hay quyén’: — Là vật, tài sản được phân loại theo tiêu chí vật lý: vật có thể nhận biết được băng giác quan tiếp xúc gọi là vật hữu hình; trong trường hợp ngược lại ta có vật vô hình. — Là quyền, theo đó, quyền tai sản được chia thành hai lọai quyền là quyền đối vật và quyền đối nhân.