Đặt vấn đề Từ xưa đến nay, sinh, lão, bệnh, tử là vấn đề mà bất cứ ai cũng không thể tránh khỏi và có ai lại không muốn mình luôn sống vui vẻ, mạnh khoẻ đến trăm tuổi? Thế nhưng những loại bệnh mãn tính, các chứng bệnh do tuổi tác vẫn luôn đeo đẳng theo chúng ta. Đặc biệt, có một số bệnh không phải chỉ cần đi khám và uống thuốc là có thể trị khỏi được mà cần phải có thời gian điều dưỡng từ từ. Thế nhưng, chi phí thuốc men, viện phí điều trị v.v… lại là một gánh nặng cho mọi người. Vậy, chúng ta phải làm thế nào? Chẳng lẽ chịu bó tay ngồi chờ sao? Những năm gần đây, y học có xu hướng tìm về các loại cây cỏ trong thiên nhiên, điều đó làm cho mọi người tăng thêm sự hiểu biết về y học truyền thống.
Cách điều trị bệnh bằng trà là một trong những phương pháp tiện lợi và là liệu pháp đáng tin cậy. Sản phẩm trà được chế biến từ một số thực phẩm và các loại thảo dược có thể dùng để phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh, đặc biệt có tác dụng tốt đối với những bệnh mãn tính khó điều trị. Thời gian trị bệnh càng lâu thì người bệnh càng dễ dàng tiếp nhận. Hơn nữa, chỉ cần kiên trì uống trong thời gian dài, điều hoà tâm huyết, chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả khả quan.
Cũng chính vì những ưu điểm như tiện lợi, hiệu quả, tiết kiệm… mặt khác, còn có tính linh hoạt, cho nên trà thảo dược được mọi người đón nhận và trở thành thức uống thời thượng hiện nay, nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ con người. Từ xuất phát trên, đề tài ”Ngiên cứu quy trình sản xuất trà từ một số loại nguyên liệu có tác dụng giảm cholesterol trong máu” được thực hiện. Mục đích Nghiên cứu quy trình và chế biến sản phẩm trà từ một số loại nguyên liệu như vỏ cam quýt, vỏ dưa hấu,lá sen, gạo lứt, hoa hòe, gừng. Nâng cao giá trị sử dụng của các nguyên liệu Đa dạng hóa, làm phong phú thêm các sản phẩm trà thảo dược trên thị trường.
Cung cấp sản phẩm tốt cho sức khỏe đồng thời có tác dụng an thần, thanh nhiệt. Xác định và so sánh các hoạt chất trong các sản phẩm trà kết hợp với các thảo dược khác nhau lên lượng cholesterol trong máu của chuột thử nghiệm. 1 Đánh giá khả năng ảnh hưởng của từng loại trà đang nghiên cứu lên vật thử nghiệm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Tổng quan về cây cam – quýt 2. Tổng quan về cây cam 2. Nguồn gốc Cam (danh pháp hai phần: Citrus sinensis) là loài cây ăn quả cùng họ với bưởi. Nó có quả nhỏ hơn quả bưởi, vỏ mỏng, khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua.
Loài cam là một cây lai được trồng từ xưa, có thể lai giống giữa loài bưởi (Citrus maxima) và quít (Citrus reticulata). Nó là cây nhỏ, cao đến khoảng 10 m, có cành gai và lá thường xanh dài khoảng 4-10 cm. Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, có thể từ Ấn Độ, Việt Nam hay miền nam Trung Quốc. Thành phần hóa học Trong Cam tươi có nước 7,5%, protid 0, %, glucid ,4%, acid hữu cơ 1,3%, cellulose 1,6%, calcium 34mg%, sắt 23mg%, caroten 0,4mg%, vitamin C 40mg%.
Quả là nguồn vitamin C, có thể tới 150mg trong 100g dịch, hoặc 200-300 mg trong 100g vỏ khô. Trong lá và vỏ quả xanh có l-stachydrin, hesperdin, aurantin, acid aurantinic, tinh dầu Cam rụng (petitgrain). Hoa chứa tinh dầu Cam (neroli) có limonen, linalol, geraniol. Vỏ quả chứa tinh dầu mà thành phần chính là d-limonen (90%), decyclicaldehyd tạo nên mùi thơm, các alcol như linalool, dl-terpineol, alcol nonylic, còn có acid butyric, authranilat metyl và este caprylic.
Công dụng Quả Cam có vị ngọt chua, tính mát; có tác dụng giải khát, sinh tâm dịch, mát phổi, tiêu đờm, thanh nhiệt và lợi tiểu. Vỏ quả Cam có vị cay, mùi thơm, tính ẩm, có tác dụng tiêu đờm, thông khí trệ, giúp tiêu hoá. Vỏ cây Cam vị ngọt, hơi the, tính mát; có tác dụng hạ khí đầy, điều hoà tỳ vị. Ở Ấn Độ, quả được xem như có tác dụng khử lọc, và vỏ có tác dụng trung tiện và bổ.
Hợp chất từ vỏ cam quít là polymethoxylated flavones(PMF) – đây là những yếu tố chống oxy hóa thuộc nhóm flavonoid, có khả năng hạn chế gan tạo cholesterol độc hại dạng LDL- thủ phạm gây ra các bệnh tim mạch. Tổng quan về cây quýt 2. Nguồn gốc Quýt, Quýt Xiêm - Citrus reticulata Blanco. nobilis Lour var.
deliciosa Tenore), thuộc họ Cam - Rutaceae. Cây gỗ nhỏ có dáng chắc và đều, thân và cành có gai. Lá đơn, mọc so le; phiến lá hình ngọn giáo hẹp có khớp, trên cuống lá có viền mép. Hoa nhỏ, màu trắng, ở nách lá.
Quả hình cầu hơi dẹt, màu vàng da cam hay đỏ, vỏ mỏng, nhẵn hay hơi sần sùi, không dính với múi nên dễ bóc; cơm quả dịu, thơm; hạt xanh. Thành phần hóa học và đặc điểm Trong vỏ có 2 loại dầu, loại dầu cam 0,50% và loại dầu cam rụng 0,50%. Thành phần chính trong dầu là d và dl-limonen 7 ,5%, d và dl-limonene 2,5% tương ứng với 2 loại dầu và linalool 15,4%. Còn có một ít citrale, các aldehyd nonylic và decylic và chừng 1% methyl anthranylat methyl.
Công dụng Quả Quýt (chủ yếu là dịch); vị chua ngọt, tính mát; có tác dụng giải khát, mát phổi, khai uất, trừ đờm, khoan khoái. - Vỏ quả Quýt và lá Quýt đều có tinh dầu, có tác dụng chữa ho đờm và giúp tiêu hoá. - Vỏ Quýt xanh vị đắng, cay, tính ấm; có tác dụng hành khí, khai uất, tán kết, trừ thấp, giảm đau và tăng tiêu hoá. - Vỏ Quýt chín vị đắng the, mùi thơm tính ấm; có tác dụng hành khí, tiêu đờm trệ, kiện tỳ, táo thấp.
- Lá và hạt Quýt có vị đắng the, mùi thơm, tính bình; có tác dụng hành khí, tiêu viêm. Tổng quan về vỏ dưa hấu 2. Nguồn gốc Cây dưa hấu có tên khoa học là Citrullus lanatus Thunberg, tên tiếng Anh là watermelon, thuộc họ dưa bầu bí Cucurbitaceae. Cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Châu Phi.
Ngày nay dưa hấu được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Ân Độ, Hoa Kỳ, Mexico, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin, các nước vùng Địa Trung Hải, … 4 2. Thành phần hóa học Trong vỏ dưa chứa nhiều vitamin ankaloid có tác dụng giải nhiệt hết say nắng, còn ngăn chặn không cho cholesterol tích động ở thành mạch máu, có tác dụng chống xơ mỡ động mạch. Phần xanh của vỏ dưa hấu gọi là áo thủy của dưa hấu có thể chữa các chứng thử nhiệt, phiền khát, phù nề, tiểu tiện kém và miệng lưỡi viêm nhiệt. Tổng quan về gạo lức 2.
Giới thiệu chung về gạo lức Ở Việt Nam, thóc gạo là thực phẩm chính của nhiều dân tộc, không phải như nhiều người cứ nghĩ rằng ăn nhiều thịt, nhiều đường mới tốt và coi đó là thức ăn chính. Dân tộc ta có câu cửa miệng “bữa cơm”, “ăn cơm” thể hiện đầy đủ cơm gạo là thức ăn chính. Đó là thức ăn mà dân tộc ta cũng như nhiều nơi trên thế giới đã sử dụng để sinh tồn hàng ngàn năm nay. Từ lâu chúng ta chỉ quen ăn loại gạo trắng mà ít người để ý đến loại gạo nào bổ dưỡng, đáp ứng nhu cầu cơ thể, phù hợp với sinh lý, với cơ thể của con người hơn.
Những năm gần đây, qua phân tích chất gạo, đặc biệt là gạo lức, người ta thấy không những có đủ những chất chủ yếu như đạm, béo, bột mà còn có nhiều loại sinh tố, các chất khoáng, các loại acid, chất xơ và nhiều chất khác, càng thấy rõ tính chất ưu việt và khả năng bổ dưỡng, phòng và chữa bệnh của gạo lức trong cây lúa. Thế nhưng gạo đem giã xát thật trắng chỉ còn lại chất bột, mất đi 1/3 hoặc có khi mất hết các chất dinh dưỡng thiên nhiên. Do đó ăn thuần gạo trắng dễ phát sinh những bệnh vì thiếu các chất kể trên. Gạo không giống đa số các ngũ cốc khác là hạt được tiêu thụ toàn bộ.
Bởi vậy những tính chất vật lý như kích thước, hình dạng, sự đồng đều và cảm quan chung là vô cùng quan trọng. Hơn nữa, đa số gạo trước khi sử dụng phải qua xay chà, do đó thuộc tính vật lý quan trọng xác định chủ yếu bởi nội phôi nhũ. Trong trường hợp độ thuần khiết, chất lượng gạo ảnh hưởng bởi đặc tính do gen điều khiển, các điều kiện môi trường và các công nghệ chế biến. Trong trường hợp ảnh hưởng do chế biến, các đặc tính chi phối đó là tồn trữ và phân phối.
Kiểu gen của một giống cụ thể ức chế mức độ lớn các đặc điểm chất lượng hạt. Những nhà lai tạo giống và di truyền học tiếp tục cải thiện gen của các giống mới để tạo ra sản phẩm mong muốn. Sự chọn lọc chú trọng cải thiện chất lượng xay chà, nấu, ăn và chế biến là những thành phần chủ yếu 5 của chương trình tạo giống dựa trên nền tảng của các tiêu chuẩn công nghiệp. Quan tâm gần đây trong việc tạo ra giống chất lượng cho thị trường xuất khẩu là kết quả trong sự lựa chọn hương vị đặc biệt và các đặc điểm nấu ăn được ưa thích bởi người tiêu thụ.
Chất lượng hạt gạo Sau năng suất hạt, chất lượng hạt gạo là quan trọng nhất. Gạo xay với hạt trong mờ nguyên hạt được ưa thích. Vùng bị mờ đục trong một nội nhũ trong mờ được gọi là bạc bụng. Gạo có vô số kiểu chiều dài hạt khác nhau.
Bảng sau đưa ra phân loại tiêu chuẩn kích thước hạt.1: Phân loại các tiêu chuẩn hạt gạo Chiều dài Tỷ lệ Kích thước Cấp độ Hình dạng Cấp độ (mm) dài/rộng Dài nhất > 7.1 7 Kiểu hạt hơi thon, hơi tròn, và tròn, không bạc bụng khi chà với ẩm độ 14% ít bị gãy và có năng suất gạo nguyên cao. Tỷ lệ gạo xay và màu sắc của gạo rất quan trọng, các giống khác nhau có kiểu và cường độ mùi thơm khác nhau. Hương thơm trong gạo là do chất hóa học diacetyl – 1 – pyroproline tạo nên. Chất lượng gạo nấu và ăn thay đổi theo vùng.
Gạo xay có hạt trong mờ, thon dài có hoặc không có mùi thơm, có độ nở nhiều khi nấu (do sự kéo dài nhân hạt), có tính mịn (không dính và mềm), cấu trúc hạt chắc, mùi vị hấp dẫn và thời hạn sử dụng kéo dài được ưa chuộng trong thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế. Hình dưới đây trình bày các kiểu hạt dài, trung bình và ngắn điển hình của Mỹ. Trong cột đầu tiên bên phải (1 đến 3) là kiểu hạt lúa (rough rice or paddy rice).