CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT KIỂM TOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, THANH TRA THUẾ 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP, KỸ THUẬT KIỂM TOÁN 1. Khái niệm Theo Luật kiểm toán độc lập thì: “Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và họp lý trên các khía cạnh trọng yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán” (Quốc hội, 2011). Theo Vũ Hữu Đức (2009), kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và bản thân kiểm toán, theo quan điểm hiện đại, phạm vi của kiểm toán rất rộng, bao gồm các lĩnh vực khác nhau như: – Kiểm toán về thông tin – Kiểm toán hiệu quả – Kiểm toán tính quy tắc – Kiểm toán hiệu năng 1. Phân loại kiểm toán 1. Phân loại kiểm toán theo mục đích kiểm toán: Theo Vũ Hữu Đức (2009), căn cứ vào mục đích kiểm toán thì kiểm toán được chia làm: - Kiểm toán hoạt động: Là quá trình kiểm tra và đánh giá về hiệu quả và tính hiệu lực của một hoạt động được kiểm toán để từ đó đề xuất phương án cải tiến. Hay là sự xem xét lại (review) các thủ tục và phương pháp hoạt động của bất kỳ một bộ phận nào trong 9 tổ chức nhằm mục đích đánh giá về hiệu quả (efficciency) và hiệu lực (effectiveness) để từ đó đề xuất phương án cải thiện.
- Kiểm toán tuân thủ: Là việc kiểm tra đánh giá mức độ chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ quản lý hay các văn bản, quy định nào đó của đơn vị. - Kiểm toán báo cáo tài chính: Là việc xác định xem toàn bộ báo cáo tài chính của một đơn vị đã công bố có phù hợp với các tiêu chuẩn đã được chỉ ra hay không. Hay là việc kiểm tra và bày tỏ ý kiến nhận xét về tính trung thực, hợp lý về báo cáo tài chính của một đơn vị. Báo cáo tài chính thường bao gồm: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh các báo cáo tài chính.
Ngoài ra còn là các báo cáo, tài liệu, số liệu kế toán khác như: báo cáo quyết toán vốn, ngân sách của đơn vị hành chánh sự nghiệp, dự án đầu tư… Tiêu chuẩn cho việc đánh giá thông tin của loại kiểm toán này là các chuẩn mực kế toán, các quy định pháp lý về kế toán và các quy định có liên quan khác.2 Các phân loại khác - Phân loại kiểm toán theo loại hình tổ chức kiểm toán: Phân loại theo loại hình tổ chức kiểm toán được chia làm ba loại: kiểm toán nội bộ, kiểm toán nhà nước và kiểm toán độc lập. - Phân loại kiểm toán theo mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể: Theo quan hệ này, kiểm toán được chia thành kiểm toán bên trong và kiểm toán bên ngoài. - Phân loại kiểm toán theo quan hệ pháp lý: Theo tiêu chí này, kiểm toán được chia thành kiểm toán bắt buộc và kiểm toán tự nguyện. - Phân loại kiểm toán theo tính chu kỳ của kiểm toán: Theo cách phân loại này, kiểm toán được chia thành kiểm toán thường kỳ, kiểm toán định kỳ và kiểm toán bất thường.
10 Ngoài ra, còn có nhiều cách khác để phân loại kiểm toán như: theo thời điểm kiểm toán với thời điểm phát sinh của các nghiệp vụ, sự kiện có kiểm toán trước (tiền kiểm), kiểm toán trong (kiểm toán hiện hành), kiểm toán sau (hậu kiểm); theo tính chất và phạm vi tiến hành còn có kiểm toán toàn diện và kiểm toán theo chuyên đề… 1. Mục đích và nguyên tắc hoạt động kiểm toán Trong nền kinh tế thị trường các thông tin tài chính có độ tin cậy, chính xác và trung thực hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể trong các hoạt động kinh tế. Kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế. Luật pháp nhiều nước khẳng định rằng, chỉ những báo cáo đã được xem xét và có chữ ký của kiểm toán viên độc lập mới được coi là hợp pháp, làm cơ sở cho nhà nước tính thuế cũng như các bên quan tâm khác đưa ra các quyết định kinh tế trong mối quan hệ với doanh nghiệp.
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, mục đích tổng quát của kiểm toán là cung cấp sự đảm bảo cho bên thứ ba là những người sử dụng các thông tin tài chính rằng các thông tin họ được cung cấp có trung thực, hợp lý hay không. Trong nền kinh tế thị trường, có nhiều đối tượng khác nhau sử dụng kết quả kiểm toán với những mục đích khác nhau. Đối với Ngân hàng, những đối tượng cho vay vốn, họ cần biết rằng số vốn họ cho vay có được sử dụng đúng mục đích hay không, tình hình tài chính của đơn vị có cho thấy khả năng hoàn trả hay không. Đối với cơ quan thuế, căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính và thu thuế, tương tự, đối với các cơ quan chức năng cũng căn cứ vào báo cáo tài chính được kiểm toán để thực hiện chức năng của mình.
Đối với doanh nghiệp được kiểm toán mong muốn, thông qua kiểm toán, có được báo cáo tài chính phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), phát hiện và ngăn ngừa các sai sót và gian lận. Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, các cổ đông họ cần biết một cách đầy đủ, đúng đắn về kết quả kinh doanh,. Tóm lại, kiểm toán phải mang lại sự thoả mãn cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự tin cậy, mức độ trung thực của các thông tin tài chính mà họ được cung cấp. 11 Nguyên tắc hoạt động của kiểm toán: Theo Wright (1989), hoạt động kiểm toán cần được thực hiện phải tuân thủ các nguyên tắc sau: - Kiểm toán là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh, thuyết phục để cung cấp thông tin cho những đối tượng có quan tâm, qua chức năng xác minh kiểm toán viên có thể trình bày ý kiến của mình về những vấn đề tương ứng.
Chức năng này quyết định sự tồn tại của hoạt động kiểm toán. - Kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm tra, kiểm soát những vấn đề có liên quan đến thực trạng tài chính kế toán và các vấn đề khác có liên quan, những vấn đề làm cơ sở cho việc kiểm toán một cách khoa học. - Nội dung kiểm toán phản ánh trung thực tình hình tài chính doanh nghiệp, vì vậy kiểm toán phải có bằng chứng trực tiếp, trường hợp thiếu các bằng chứng trực tiếp, kiểm toán cần phải áp dụng các phương pháp kỹ thuật để tạo lập các bằng chứng kiểm toán. - Để thực hiện chức năng của mình trên phạm vi hoạt động tài chính xét trong mối quan hệ tổng thể, yêu cầu kiểm toán viên phải hình thành một hệ thống phương pháp kỹ thuật riêng bao gồm các phương pháp: kiểm toán chứng từ, kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, khảo sát, thử nghiệm…) đảm bảo thích ứng với đối tượng của kiểm toán và phù hợp các quy luật và quan hệ của phép biện chứng.
- Kiểm toán là hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành vì vậy cần được thực hiện bởi những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ sâu về kiểm toán, kế toán. Quy/ trình và phương pháp kiểm toán 1.1 Quy trình kiểm toán Quy định tại Chương II Quyết định số 08/2016/QĐ-KTNN ngày 23/12/2016 của Kiểm toán nhà nước quyết định ban hành Quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước: Quy trình kiểm toán gồm có 4 bước: - Chuẩn bị kiểm toán; - Thực hiện kiểm toán; 12 - Lập và gửi báo cáo kiểm toán; - Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán. Bước 1 - Chuẩn bị kiểm toán - Khảo sát, thu thập thông tin: Bao gồm các công việc: Lập, phê duyệt và gửi Đề cương khảo sát, khảo sát, thu thập thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, thu thập thông tin về tình hình tài chính và thông tin liên quan khác - Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin đã thu thập: Đánh giá tính đầy đủ, hiệu lực, hiệu quả, độ tin cậy, những hạn chế của hệ thống kiểm soát nội bộ và thông tin đã thu thập làm cơ sở đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán. Phương pháp đánh giá chủ yếu: phân tích, so sánh, cân đối, thống kê, chọn mẫu, … - Xác định và đánh giá rủi ro kiểm toán: Trên cơ sở thông tin thu thập được và kết quả phân tích, đánh giá thông tin, Kiểm toán viên nhà nước thực hiện xác định và đánh giá rủi ro để phục vụ việc xây dựng kế hoạch kiểm tra tổng quát.
- Xác định trọng yếu kiểm toán: Dựa trên kết quả phân tích, đánh giá thông tin về đơn vị được kiểm toán, kết quả đánh giá rủi ro, Kiểm toán viên nhà nước xác định trọng yếu kiểm toán làm cơ sở xây dựng kế hoạch cuộc kiểm toán. - Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát: Trên cơ sở khảo sát, thu thập và đánh giá thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ, thông tin về tài chính và các thông tin khác về đơn vị được kiểm toán, đánh giá rủi ro và xác định trọng yếu kiểm toán. Xác định các thủ tục kiểm toán cần thiết, phù hợp với nội dung, tính chất của khoản mục và dựa vào kết quả đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ cơ sở dẫn liệu. Nội dung của một thủ tục kiểm toán phải thể hiện được mục tiêu của thủ tục đó (như thử nghiệm kiểm soát hoặc thử nghiệm cơ bản) và loại thủ tục (Quan sát; kiểm tra, đối chiếu; xác minh, xác nhận từ bên ngoài; tính toán lại; điều tra; phỏng vấn; thủ tục phân tích, .